NOBEL Văn học 1984: JAROSLAV SEIFERT (1901-1986)
Jaroslav Seifert là thi sĩ Cộng hòa Czech. Ông sinh ở ngoại ô thủ đô Praha (thời đó là đế chế Ao-Hung). Praha lúc bấy giờ là một trong những trung tâm kiến trúc, văn hóa, âm nhạc của châu Âu và là một trong ba trung tâm văn hóa Đức (sau Berlin và Wien). Vì phải giúp bố bán hàng rong khắp thành phố nên Seifert rất am hiểu lịch sử, văn hóa quê hương. Seifert say mê văn học, âm nhạc, ngọai ngữ và thích làm thơ. Seifert nổi tiếng ngay từ tập thơ đầu tay Thành phố trong nước mắt (Mesto v slzách, 1920). Năm 20 tuổi, Seifert dịch văn học Pháp Nga, làm việc ở Nhà xuất bản của Đảng Cộng sản Tiệp khắc. Trong chuyến du lịch châu Âu, Seifert chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại Pháp. Về nước, ông in liền 4 tập thơ là Tự chính tình yêu (Sama laska, 1920); Tuần trăng mật (Svatebni cesta, 1925); Họa mi hót lạc điệu (Slavik zpiva spatne, 1923); Trên những làn sóng T.S.F. (Na slnách T.S.F., 1925). Năm 1929, ông ra khỏi Đảng cộng sản, gia nhập Đảng Dân chủ Xã hội. Năm 1930 ông trở thành tổng biên tập nguyệt san Sân khấu mới (Nova Scena). Những tập thơ tiếp theo của Seifert nói về tình yêu và sự gắn bó với quê hương trong những câu thơ theo bút pháp cổ điển âu sầu và kín đáo như tập thơ Quả táo rơi từ vạt áo (Jablko s klína, 1933); tập thơ Bàn tay của thần Vệ nữ (Ruce Venusiny, 1936); Giã biệt mùa xuân (Jarosbohem , 1937). Tiếng nói phản kháng chiến tranh và chủ nghĩa quốc xã của thơ Seifert thể hiện trong những tập thơ Trong bộ áo choàng màu sáng (Svetlem odéna, 1940); Cầu đá (Kamenny most, 1944); Chiếc mũ đất sét (Prilba hlíny, 1945). Sau đại chiến thế giới II, Seifert trở về với đề tài tuổi thơ hạnh phúc, gia đình giáo dục, tình yêu, cái đẹp như tập thơ Bài ca về Viktorca (Písen o Viktore, 1950); tập thơ Mẹ (Maminka, 1954); Cậu bé và những ngôi sao (Chlapec a hvezdy, 1956). 3 tập thơ cuối đời của Seifert là Đúc chuông ( Odlesvaní zvona, 1967); Cột dịch hạch ( Morovy Sloup, 1967); Chiếc ô Piccadilly (Destník z Piccadily, 1979). Seifert kể chuyện các nền văn hóa trong hồi ký Những vẻ đẹp trên thế giới (Vsecky krásy sveta, 1963). Năm 1984, Seidert nhận giải thưởng Nobel văn học vì những tập thơ nhạy cảm, giàu tưởng tượng mang tinh thần độc lập, vì Seifert sử dụng ngôn ngữ thơ như vũ khí hữu hiệu trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc mình.
Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|