tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
09.03.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (49)

Hình thức ban đầu của chùa là nhà ba gian hay năm gian, hình chữ nhất. Có thể phía sau chùa còn có một hay nhiều tháp (stupa). Ban thờ Phật và điện thờ Phật được đặt chính giữa chùa. Sau do phát triển lên, nên đòi hỏi có thêm diện tích đặt các tượng Phật nhiều hơn, hình thức nhà hình chữ đinh (?) hay còn gọi là nhà kiểu chuôi vồ (có hậu cung) hình thành. Có ý kiến cho rằng nhà chính điện hay thượng điện chỉ là gian chính, nối thẳng góc là gian tiền đường hay bái đường, có thể gọi là chùa hộ vì ở đó có đặt các ông Hộ pháp.


Phổ biến hơn là giữa ngôi nhà chính điện và ngôi nhà bái đường có một ngôi nhà song song, nơi các nhà sư làm lễ, gọi là thiêu hương (dân dã còn có từ ống muống). Nếu ngôi nhà này nối liền thẳng góc với hai ngôi nhà trước thì gọi là hình kiểu chữ công (); nếu nhà này song song với hai ngôi nhà trước, cách nhau bởi các khoảng sân hẹp, thì tạo thành chùa chữ tam. Ba ngôi nhà tạo thành chùa kiểu chữ tam () còn được gọi là chùa hạ, chùa trung, chùa thượng (chùa Tây Phương – Hà Tây). Chùa thường còn có một quần thể các kiến trúc khác, như tam quan tức cổng chùa. Cổng chùa thường được làm theo lối có ba cửa ra vào, như gác chuông, các tháp - nơi đặt xá lợi các vị sư chủ trì chùa đã khuất... Tất cả các loại nhà thờ Phật gồm chính điện, bái điện, các quần thể nhà cửa, vườn tược... phụ thuộc vào chùa được bao bọc bởi hành lang dài từ phía trước đến phía sau thành một hình chữ nhật bao quanh quần thể kiến trúc nói trên. Đây chính là kiểu kiến trúc "nội công ngoại quốc".


Các chùa còn có nhiều biến thể khác nhau tuỳ theo từng vùng, từng tộc người. Chùa miền Nam ít khi thấy có các đầu đao, mái có đường nóc ngắn, có 4 mái rộng mà dân địa phương quen gọi là nhà kiểu bánh ít([1]). Những ngôi chùa kiểu bánh ít này thường được lợp bằng ngói âm dương, thoát nước rất nhanh, phù hợp với khí hậu khi nắng khi mưa ở nơi này. Còn các chùa mới xây dựng gần đây, xây dựng theo một kiểu kiến trúc khác do ảnh hưởng của kiến trúc Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản... thậm chí cả phương Tây, mà rõ nét nhất là chùa Vĩnh Nghiêm (thành phố Hồ Chí Minh), chùa Niết Bàn Tịnh Xá (Bà Rịa – Vũng Tàu)...


Chính điện các ngôi chùa cũng như nhiều toà nhà khác trong chùa thường được đặt nhiều tượng Phật, còn có các tượng của các thần thuộc các tôn giáo khác. Vì chính điện là trung tâm của sự thờ cúng trong chùa, nên ở đây có nhiều lớp bàn thờ làm thành từng bậc từ cao xuống thấp và vị trí các tượng cũng được thay đổi tuỳ từng chùa. Sau mỗi lần trùng tu, và do nhân dân tiến cúng tượng, người ta đặt thêm vào chùa các pho tượng mới và có rất nhiều pho trùng với các pho tượng cũ trong chùa. Các lớp bàn thờ ở chính điện thường được sắp xếp theo nguyên tắc sau: lớp bàn thờ cao nhất ở sâu trên cùng giáp mái chùa, sau đó các lớp bàn thờ đặt tượng cứ thấp dần, tiếp sau lớp bệ thờ cuối cùng bao giờ cũng là hương án. Nguyên tắc bài trí không thống nhất giữa các chùa, nhưng nhìn chung các chùa ở Bắc Bộ và Trung Bộ vẫn có một số nét chung như sau:


Ở tầng cao nhất của ban thờ chính điện, sát vách thường có ba pho tượng "Tam thế Phật" tức là các vị Phật của ba thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai. Ba pho tượng tam thế được đặt ngồi trên toà sen. Phía dưới ba pho tượng trên, có xếp ba pho tượng gọi là "Di Đà tam tôn" (còn gọi là "Tây phương tam thánh" gồm tượng Phật A Di Đà (Amatabha) ở giữa, tượng Bồ Tát Quan Thế Âm (Avalokitesvara, tiếng Phạn) ở bên trái và tượng Bồ Tát Đại Thế Chí (Mahasthamaprapha) ở bên phải. Sự có mặt của tượng A Di Đà nói lên tầm quan trọng của tín ngưỡng Tịnh độ trong Phật giáo Việt Nam. Người ta tin có cõi Tây phương cực lạc, nơi Phật A Di Đà ngự trị, các vị Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí từng dẫn chúng sinh về nơi đó. Đức Phật Quan Âm được đặt ở rất nhiều nơi, không chỉ ở chùa, với niềm tin đây là vị Phật cứu nạn, cứu khổ đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em. Dưới ba pho tượng "Di Đà tam tôn", thường là tượng Phật Thích Ca Mầu Ni (còn gọi là Thích ca giáo chủ) ngồi giữa với tượng Bồ tát Văn Thù Sư Lợi ở bên trái và tượng Bồ tát Phổ Hiền ở bên phải. Bộ ba tượng này thể hiện cảnh Phật Thích Ca Mầu Ni đang thuyết pháp. Có nhiều nơi thay vào vị trí của Văn Thù và Phổ Hiền là hai đệ tử của Thích Ca là Ca Diếp và A Năng Đà khi Phật Thích ca còn đang ở thế gian. Lớp thứ tư ở bàn thờ, chiếm vị trí giữa là tượng Cửu Long, hai bên là tượng Đế Thích và Phạm Thiên. Tượng Cửu Long diễn tả đức Phật Thích Ca Mầu Ni lúc mới sinh. Đế Thích là vua chủ tể cõi trời dục giới, còn Phạm Thiên là vua chủ tế cõi trời sắc giới. Vì là vua nên tượng các vị được tạc theo chân dung hoàng đế: đội mũ miện, ngồi trên ngai.


Trên bàn thờ chính ở nhà thượng điện, ngoài tượng Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, ở một số chùa còn có tượng Phật Di Lặc. Và ở một số chùa, sau lớp tượng Cửu Long, người ta còn bày bốn pho tượng Tứ Thiên Vương. Có chùa thì thay vào vị trí của Tứ Thiên Vương là Tứ Bồ tát. Những chùa rộng rãi còn bày thêm tam vị Kim Cương (Bát bộ Kim cương) ở hai bên sát chính điện, mỗi bên bốn vị, mặc giáp trụ và cầm vũ khí. Tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay cũng thấy được bày bổ sung vào chính điện. Các tượng Đức Quan Thế Âm có nhiều biến thể nhất trong các chùa ở Việt Nam và các biến thể này hầu hết lại được diễn tả bằng hình tượng nữ (nguyên gốc là đàn ông). Cũng ở chính điện, ở hai bên bàn thờ chư Phật, có thể gặp lại tượng Thái Thượng Lão Quân ở bên phải và Khổng Tử ở bên trái. Đây là hai vị tổ của Đạo giáo và Nho giáo, được thờ trong điện thờ Phật ở các chùa, thể hiện tư tưởng "tam giáo đồng nguyên" rất rõ ở xã hội Việt Nam xưa.


Trên đây là cách bài trí thường thấy ở chính điện, còn việc bày trí ở bái đường, hành lang, tăng đường có nét giống và nét khác nhau giữa các chùa, xin không nêu ra ở đây.


Có thể nói chùa không chỉ là nơi thờ Phật, mà còn là nơi truyền bá những điều mê tín đã được làm trong sạch trước cửa Phật.


Quán, điện, tĩnh, am


Ngoài các chùa còn phải kể thêm các quán, điện, tĩnh, am của Đạo giáo, kiến trúc thường không có gì đặc sắc, nhưng cũng có các quán, điện to lớn do triều đình cùng dân làng xây dựng. Chẳng hạn như Lão Tử Quán thờ Thương Huyền Nguyên Hoàng Đế ở Thanh Liệt, Hà Nội; Thông Thánh Quán (Bạch Hạc, Sơn Tây); Liên Tiên Quán (Đan Phượng, Hà Tây); Huyền Thiên Quán
(Đồng Xuân, Hà Nội) thờ Huyền Thiên Đế Quân vì mê cảnh đẹp đô thành, ở lại giúp dân, sau mới bay về trời; Bích Câu Quán (Cát Linh, Hà Nội). Đặc biệt nhất phải kể đến Trấn Vũ Quán (Hồ Tây, Hà Nội) được Lý Thái Tổ xây thờ Trấn Võ, một trong bốn vị thần trấn gác bốn phương. Thần giữ phương Bắc là hướng Diệu Đức, phương quan trọng nhất có 5 vòm cửa thành. Diệu Đức là đức sáng ngời chống lại sự hắc ám của phương Bắc. Lý Thái Tổ dùng Huyền Trân Trấn Võ, một đệ tử của Đạo giáo, ngụ ý lấy đức trừ tà. Đến đời Trịnh Tạc (1677), quán được tu sửa lại, đúc tượng thần bằng đồng cao 5.46m, nặng 4000 kg, chu vi đáy tới 8m. Đây là pho tượng đồng lớn nhất của nước ta còn giữ lại được đến ngày nay.


 Lăng: cũng cần thêm một đoạn về lăng các triều vua. Cụm lăng đầu tiên cần nói đến là lăng Lý Bát Đế ở Đình Bảng (Bắc Ninh), lăng mộ các vị vua Trần ở Thái Bình, Quảng Ninh, lăng các vị vua Lê ở Thanh Hóa. Đặc biệt nhất là lăng các vị vua triều Nguyễn ở Huế. Gần đây còn phát hiện ra nhiều lăng mộ thời các chúa Nguyễn, hoặc còn có chủ, hoặc vô chủ. Những lăng mộ này có trang trí nhưng cấu trúc sơ sài và nay đã đổ vỡ không còn nguyên vẹn. Những lăng mộ đó thường làm bằng vôi pha mật, không có cốt gạch, giống mộ của nhân dân địa phương nhưng to hơn và thường được gọi là: "mả rùa", "mả trứng", "mả Tàu", "mả vôi", "mả Hời", "mả Mọi"... chắc chắn được xây dưới triều các chúa Nguyễn trải dài suốt miền Trung Trung Bộ([2]). Các lăng mộ này nhỏ hẹp khác các lăng miếu vua nhà Nguyễn. Còn lăng mộ của các vua Nguyễn thực là một hoàng cung thu hẹp với những khu vườn lộng lẫy điểm xuyết những cung điện. Những lăng tẩm này tiêu phí nhiều tiền của, công sức của nhân dân. Các lăng được xây dựng rất công phu và đẹp đẽ, thực là những công trình kiến trúc rất có giá trị. Ở đây ta thấy đủ đặc điểm của vườn hoa, cây cảnh, cây cối xum xuê, lối đi ngoằn ngoèo, cầu qua dòng nước, nhà thủy tạ, ao lục hà... Mỗi nhà vua khi lên ngôi đều xây lăng cho mình, lúc sống làm nơi nghỉ ngơi, thác thì về với tổ tiên. Những lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức... có ảnh hưởng phong cách của lăng mộ nhà Thanh và cả phương Tây, nhưng nhìn chung vẫn giữ được nét kiến trúc độc đáo của dân tộc.


Nhà thờ([3]): Kiến trúc nhà thờ gắn chặt với sự phát triển của đạo Công giáo. Khi các thừa sai đầu tiên đến truyền đạo vào đầu thế kỷ XVII, họ đã nghĩ đến nơi ở và nơi tập hợp người dân để truyền đạo và làm nơi tế lễ của các tín đồ([4]). Những ngôi nhà được gọi là nhà thờ ban đầu không khác gì nhà của dân thường. Những nhà thờ này được xây bằng những vật liệu nhẹ, cột cây, mái lá, tường trát vách.


Đến khi đạo Công giáo nhờ thực dân Pháp có được một vị trí ổn định, tức những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, những nhà thờ to lớn, đồ sộ đã được xây dựng ở những vị trí cao, thóang, bao gọn tầm nhìn của mọi người. Nhiều khi nhà thờ còn được xây trên nền của những ngôi chùa mới bị phá bỏ (Nhà Thờ Lớn ở
Hà Nội)([5]). Vào thời điểm này, các thừa sai từ châu Âu sang thường đôn đốc và khởi sự việc xây nhà thờ. Nhà thờ thường được xây theo phong cách châu Âu với mặt bằng hình chữ thập hay hình thánh giá, với trang trí những kính màu rực rỡ theo phong cách roman để tạo bầu không khí trầm mặc (nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn; Nhà Thờ Lớn, Hà Nội; nhà thờ Bùi Chu...) hay cao và thanh thoát theo phong cách gothique (nhà thờ Đại Ơn, Hà Nội; nhà thờ Chính Tòa, Thanh Hóa; nhà thờ Nha Trang...). Với sự điều khiển của các linh mục Tây Ban Nha, không ít nhà thờ được xây dựng theo kiến trúc Tây Ban Nha, tức là một kiến trúc tổng hợp các kiến trúc roman, gothique, và tây bắc châu Phi (nhà thờ Phương Chính, Hạ Trại, giáo phận Bùi Chu).


Không ít nhà thờ, đặc biệt ở Hà Nội và các vùng phụ cận, được xây dựng theo phong cách Âu - Á, với mặt tiền và tháp chuông theo phong cách roman và gothique, phần còn lại đựơc xây bằng gỗ và vì kèo được chạm trổ tinh vi, vách bằng gỗ sơn son thếp vàng, treo những cặp câu đối bằng chữ Hán. Nhà thờ Hạ Hồi là một thí dụ tiêu biểu. Cũng cần kể vào loại này có một số nhà thờ được xây dựng theo phong cách châu Âu nhưng lại có thêm "một chút mái cong" trên nóc tháp hay bên trên cửa ra vào như nhà thờ Thị Nghè ở thành phố Hồ Chí Minh hay nhà thờ Vũng Tàu thuộc giáo phận Xuân Lộc. Đặc biệt, có không ít nhà thờ mang đậm nét kiến trúc của Việt Nam với mái cong, cổng tam quan, ngũ môn, làm bằng gỗ được chạm trổ hay sơn son thếp vàng. Quần thể nhà thờ chính toà Phát Diệm do thầy Trần Lục làm tổng công trình sư là tiêu biểu về mặt nghệ thuật của phong cách Việt. Phải kể thêm nhà thờ Ba Làng cũng tiêu biểu cho kiến trúc và phong cách dân tộc. Xu thế hòa nhập trong lòng dân tộc nay đang phát triển mạnh hơn bao giờ hết.


Kiến trúc điêu khắc của các tộc người thiểu số miền Bắc ít để lại ấn tượng cho người xem. Các đình, chùa ở miền Đông Bắc lặp lại các môtíp ở miền xuôi, có chăng phong cảnh miền núi làm nền cho công trình có sự hấp dẫn riêng. Từ Lạng Sơn, ta thấy có hòn Vọng Phu với động Tam Thanh; lên Cao Bằng, ta thấy có hang Pác Bó và thác Bản Giốc; về Bắc Kạn, ta thấy có hồ Ba Bể; ngược lên Hà Giang, có dinh của thổ ty Vương Chí Sình; rẽ sang Lai Châu, có dinh của họ Đèo... Gần đây, đi xây dựng ATK, ta thấy nổi lên các di tích liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhiều lãnh tụ Việt Minh khác (đình Tân Trào). Ở một số nơi khác, các công trình kiến trúc tiêu biểu chỉ là ngôi nhà của thổ ty, lang đạo, phìa tạo nay đã bị phá hỏng, không để lại dấu tích. Còn các chùa tháp Phật giáo của người Thái, Lào, Lự như Vạt Hồng ở Mộc Châu, Mường Vạt ở Sông Mã, Cột Mường ở Mường Lò, đền thờ Hoàng Công Chất ở Điện Biên.









 




Ở miền Nam, những công trình đáng lưu ý là các chùa Khmer Nam Bộ theo phái Nam Tông và các đền miếu của các ông đạo Nam Bộ. Chùa Khmer rộng, kiến trúc rất đẹp, là nơi vừa thờ Phật, vừa là nơi mở hội hằng năm với các thuyền đua đặt ngay trong sân chùa, vừa là trường học cho các thanh niên đến tuổi trưởng thành. Được nhiều người biết đến là chùa Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu... gắn liền với các sự tích, huyền thoại địa phương. Có những đền chùa lớn như đền Bà Chúa Xứ (An Giang) hay đền Bà Đen (Tây Ninh) thu hút hàng vạn tín đồ người Việt, người Hoa, người Khmer từ nhiều nơi về vào dịp mở hội. Đó còn là những quần thể nhà thờ lớn, cổ kính, mô phỏng kiến trúc miền Bắc nhưng cũng có dấu ấn Khmer và Hoa. Những kiến trúc điêu khắc không có gì là đặc biệt nếu không mang màu sắc Nam Bộ, bao phủ những huyền thoại của vùng đất phương Nam.


 Dọc theo chiều dài từ Huế đến Phan Rang là những tháp Chăm lộng lẫy([6]), cổ kính. Nhìn qua ta nghĩ những tháp Chăm này mang nặng dấu ấn của văn hóa Ấn Độ, nhưng nếu đi sâu vào phân tích, ta thấy tháp tuy thờ các thần Bà La Môn, Phật([7]) và các vua chúa Chăm nhưng đã có những nét độc đáo riêng. Không quá lời khi nói rằng kiến trúc và điêu khắc Chăm, tuy ở trạng thái suy tàn của nó, vẫn tạo nên một nền văn hóa riêng biệt không thua kém bất kỳ một nền văn hóa cổ, trung đại nào ở Đông Nam Á, góp phần xứng đáng vào nền văn hóa chung của các tộc người Việt Nam. Ta có thể coi đây là một bộ phận văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ (hindouisée) trong khi các bộ phận khác, ví dụ của người Việt, là một bộ phận văn hóa chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa (Hán). Qua những công trình nghiên cứu của người Pháp và hơn 30 năm nghiên cứu của người Việt, bí mật của chất liệu gạch cũng như kỹ thuật xây tháp của người Chăm dường như vẫn chưa được làm sáng tỏ. Những tháp Chăm được xây bằng thứ gạch vừa mềm, vừa xốp, không già, được gắn kết với nhau hình như không bằng vữa. Nhiều thắc mắc xung quanh chuyện tháp được nung sống sau khi đã xếp gạch hay là đã được xây bằng thứ gạch đã nung chín từ trước và các hình chạm khắc được khắc trực tiếp trên gạch hay được chạm khắc từ trước rồi mới ghép vào?... Đến nay người ta mới chắc được một điều là người Chăm đã xây tháp của mình từ những viên gạch đã được nung chín và gắn kết với nhau bằng một chất nhựa đặc biệt có tính kết dính rất tốt. Ngô Văn Doanh mới cho biết các chạm khắc đó đã được khắc trực tiếp trên bề mặt tháp sau khi tháp đã được xây dựng xong([8]). Gần đây, các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài đã tìm ra chất keo dính được dùng để xây dựng tháp Chàm là dầu rái. Đây là nhựa của một loại cây mọc rất nhiều ở vùng rừng núi phía tây Quảng Nam và dọc Trường Sơn. Đồng bào sinh sống ở những vùng này thường dùng nhựa của loại cây này vào việc xảm thuyền, trát vách làm nhà... Các nhà khoa học cũng tìm ra được chất đất phù hợp với việc sản xuất gạch đã được dùng để xây dựng tháp Chăm để trùng tu. Hi vọng trong tương lai, các tháp Chăm sẽ được trùng tu và trở lại dáng vẻ như ban đầu([9]).


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


 







([1]) Theo Hà Văn Tấn, Sđd, 1993, tr.19-24.




([2]) Trần Đức Sáng, H.T Sĩ Hoà, Hoàng Minh Tuấn, Khảo sát một số lăng mộ thời chúa Nguyễn ở khu vực Bình - Trị - Thiên, trong Thông báo khoa học, tháng 9, 2004, tr.79-104.




([3]) Phần này tham khảo chủ yếu ở tài liệu Nhà thờ công giáo Việt Nam, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004. Cuốn sách do Nguyễn Nghị, Nguyễn Quốc Thái, Khổng Thành Ngọc, Hoàng Minh Thức sưu tầm và biên soạn. Đỗ Văn Ngân thẩm định.




([4]) Muốn hiểu rõ hơn sự phát triển của đạo Công giáo, xin xem thêm cuốn Les sauvages Bahnars của P. Dourisboure, Paris, 1929.




([5]) Nhà thờ Lớn được đặt trên nền tháp Báo Thiên cũng như nhà thờ La Vang, nơi Đức Mẹ hiện hình, được xây trên nền nơi thờ Phật Bà Quan Âm.




([6]) Theo Ngô Văn Doanh: Nhìn từ Đèo Cả: người Chăm xưa và nay trong Du khảo văn hóa Chăm của Nguyễn Văn Kự – Ngô Văn Doanh, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á -  Viện Viễn Đông Bác Cổ xuất bản bằng 3 thứ tiếng (Việt – Anh – Pháp), Hà Nội, 2005. Có thể đọc thêm Ngô Văn Doanh, Điêu khắc Chăm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998.




( [7]) Hà Văn Tấn, Chùa Việt Nam, Sđd, 193, tr.63, tác giả cho biết có một thời gian Phật giáo ảnh hưởng vào cư dân Chăm.




([8]) Ngô Văn Doanh: Nhìn t Đèo C: người Chăm xưa và nay, trong Sđd, 2005, tr. 70




([9]) Tìm thy cht keo dính tháp Chăm – mt gii pháp k thut để trùng tu,  trong Tui tr ch nht, s 38, ra ngày 11-8-2005.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »