tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
17.03.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (54)

Nghề thủ công phát triển ở đồng bằng. Các phường hội và làng chuyên nghệ đã xuất hiện lẻ tẻ, nhưng cũng chưa tách khỏi nông nghiệp. Hiện tượng nông thôn chi phối thành thị với sự tồn tại dai dẳng các công xã nông thôn ở đồng bằng, thậm chí ở Trường Sơn – Tây Nguyên và nhiều vùng miền núi khác không có các đô thị. Các công xã nông thôn nguyên thủy còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến khi người Pháp sang, hạn chế sự phát triển các đô thị với 80 - 90% cư dân cư trú ở nông thôn. Các đô thị thông thường là nơi các cơ quan hành chính của triều đình đóng, thiếu nó, cũng chưa ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế. Làng xã đóng vai trò quyết định, nhất là trong lúc đất nước có giặc ngoại xâm. Sự thiếu tập trung một tầng lớp trí thức, nếu có cũng ít người hướng suy nghĩ của mình về sản xuất ra của cải vật chất, làm cho xã hội trì trệ, chậm tiến bộ. Do ảnh hưởng của Nho giáo, sự phân biệt giữa quân tử với tiểu nhân, giữa lao động trí óc với lao động chân tay, trọng tinh thần, coi nhẹ vật chất, nên người trí thức xưa không tham gia trực tiếp vào quá trình lao động sản xuất, thi đỗ thì làm quan, không đỗ thì về quê làm thầy đồ, thầy thuốc, thậm chí thầy bói... đã làm cho tình trạng trên càng nặng nề thêm.


Đến thế kỷ XVI, XVII, ở một số nơi đã có mầm mống của chủ nghĩa tư bản. Tiếc rằng chính sách ức thương của triều đình cộng thêm một số cơ sở công nghiệp nếu có như nghề đúc tiền, nghề chế tạo vũ khí và các đồ lễ, nghề khai thác các hầm mỏ, nghề đóng tàu... thường lại độc quyền của triều đình. Khi Pháp sang cai trị, chúng lại không thừa hưởng những kết quả đó, thường giải tán đưa tất cả các thợ cả và thợ lành nghề về địa phương, giỏi lắm thì cho tiếp tục làm nghề theo lối cũ. Thực dân Pháp xây dựng cơ sở của chúng trên một phương thức công nghệ khác của riêng mình. Chủ trương đó làm thiệt hại cho dân tộc ta rất nhiều. Chính vì vậy, đến Cách mạng tháng Tám, tầng lớp tư sản dân tộc và đội ngũ công nhân Việt Nam rất yếu kém.


Hậu quả của tính không triệt để trong cuộc phân công lao động lần thứ nhất cũng là nguyên nhân dẫn đến cuộc đại phân công lao động xã hội lần thứ hai, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, đô thị tách khỏi nông thôn diễn ra chậm chạp và yếu ớt. Nhưng nguyên nhân chính của tình trạng này là trên phạm vi cả nước, các nghề thủ công này mang tính phân tán và bí truyền thường kèm theo những niềm tin tôn giáo, đã hạn chế sự truyền nghề từ làng này qua làng khác và thúc đẩy kỹ thuật sản xuất. Vậy nên, khối lượng sản phẩm tạo ra chưa nhiều, tính tự cung tự cấp còn nặng và phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp.


Hình thức trao đổi hàng hóa tuy đã đa dạng, nhưng số lượng hàng hóa lại chưa nhiều, nhu cầu khách hàng chưa lớn do phương thức tự cung tự cấp còn tồn tại rộng rãi, phạm vi trao đổi chỉ đóng khung trong từng khu vực nhất định, chưa tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển. Ở miền đồng bằng, đã xuất hiện một mạng lưới chợ, một số thương nhân, nhưng dư luận xã hội lại coi thường và xếp vào hàng chót trong bốn nghề: sĩ, nông, công, thương. Còn ở miền núi, người dân không thích làm thương lái, nhường cho người ngoại tộc Hoa, Việt. Họ đâu được coi trọng, mặc dù đời sống có dư dật vì một lẽ đơn giản họ là những người nằm ngoài cộng đồng làng xã, tập trung ở các thị trấn, thị xã.


Các hình thức trao đổi thường qua một đơn vị tiền tệ của nhà nước hoặc qua bạc móng ngựa, nhưng ngay ở vùng đồng bằng cũng có nơi vẫn qua hình thức hàng đổi hàng. Chợ búa năm phiên một lần, là nơi tiêu thụ những sản vật dư thừa của các làng quanh vùng, cũng chỉ phổ biến ở đồng bằng và một số địa phương miền núi. Ở các tộc người thiểu số, rất nhiều nơi vắng chợ (Trường Sơn – Tây Nguyên và Tây Bắc...), và ở nơi có chợ vẫn phổ biến hình thức hàng đổi hàng giữa các tộc người, các nhóm địa phương, các làng đồng tộc, hoặc qua các thương lái mang hàng đến tận gia đình, hay các đoàn chở hàng xuyên quốc gia mỗi năm một lần thường thấy ở miền Tây Bắc. Đó là, cuộc đại phân công lao động xã hội lần thứ ba: sự ra đời của tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp mới manh nha ở các đô thị lớn.


Có thể nói, đến khi thực dân Pháp đô hộ, trừ một số đô thị, thị trấn, hải cảng rất hiếm hoi, nền kinh tế cổ truyền của nước ta vẫn mang tính tự cấp tự túc, dựa vào thiên nhiên. Đặc biệt ở miền núi, sự phân công lao động theo giới còn được duy trì chặt chẽ. Về phương diện kinh tế, xã hội cổ truyền Việt Nam là một xã hội văn hóa nông nghiệp hay đúng hơn là văn hóa thiên về thực vật như một số nhà nghiên cứu đặt cho, vì thực vật là yếu tố chi phối tất cả từ văn hóa vật thể lẫn phi vật thể nói chung và các họat động kinh tế nói riêng.


5. Những tộc người trong quốc gia dân tộc Việt Nam lại cũng chịu một quy luật chung của toàn cầu là phải đấu tranh quyết liệt để sinh tồn, nhất là trong thời kỳ đấu tranh giai cấp. Chưa thấy rõ đã có bao nhiêu thị tộc, bộ lạc bị tiêu diệt trong thời kỳ hình thành dân tộc, trong ngàn năm Bắc thuộc, đã có bao nhiêu tộc người bị xua đẩy từ phương Bắc xuống, từ phương Tây sang. Chắc chắn rằng số lượng đó không phải là ít, nên những cộng đồng còn sống sót tồn tại đến đầu thế kỷ trước phần lớn trong số họ vẫn ở trong trạng thái manh nha giai cấp, mới thấy có mầm mống của thời kì tiền nhà nước (Thủy Xá, Hỏa Xá), phảng phất như thời kỳ nửa huyền thoại, nửa có thực của thời kỳ dựng nước (Trường Sơn – Tây Nguyên) với nhiều vang bóng của văn hóa Đông Sơn, tiền Đông Sơn, hay mới ở thời kỳ điển hình của phương thức sản xuất cống nạp (vùng còn duy trì chế độ lang đạo, phìa tạo, thống lý, chủ đất). Một số nơi như ở Việt Bắc, ở miền đồng bằng sông Hồng trải dài suốt miền Trung tới tận mũi Cà Mau, mới dừng lại ở chế độ "phong kiến phương Đông" với sự xuất hiện quan hệ địa chủ – nông nô và hình thức tư bản chủ nghĩa ban đầu.


Những cộng đồng đó, đến nay tính được 54 tộc người, như Lévi Strauss nói "đều có đằng sau mình một quá khứ đáng tự hào".


Thực tiễn tình trạng kinh tế - xã hội các tộc người cho đến đầu thế kỷ thứ XX càng cho phép ta ngẫm nghĩ đến đặc trưng của kinh tế xã hội Việt Nam, một đặc trưng khác với phương Tây, là dựa trên con đường công hữu hóa ruộng đất([1]), ở đấy được cai trị bởi một ông vua – thần, một thiên tử, nắm cả thần quyền lẫn thế quyền, áp đặt lên các bản làng, các công xã nông thôn, chứ không lên các cá nhân riêng lẻ. Rất có thể tổ chức trung ương tập quyền sớm xuất hiện còn là do sự cần thiết phải thiết lập một sức mạnh đủ sức chống giặc ngoại xâm luôn uy hiếp và thế lực đó lại thường có thực lực mạnh hơn gấp nhiều lần. Các bản làng cùng với luỹ tre xanh lại cũng tồn tại dai dẳng hơn, là cơ sở không chỉ cho sản xuất nông nghiệp, mà còn là cơ sở cho các cuộc chống ngoại xâm và loạn lạc thường xảy ra trong nội bộ tộc người. Do vậy, có thể nói làng còn thì nước còn, nước mất thì chính quyền trung ương cũ hay một thế lực mới lại nổi lên tập hợp các làng để lấy lại nước. Vai trò của làng xã nông thôn các tộc người quan trọng là vậy. Ở Trường Sơn – Tây Nguyên, một hiện tượng đáng lưu ý, khi hệ thống hành chính trên làng biến mất, có thể nguyên nhân chưa rõ, các buôn làng vẫn tồn tại như một cơ sở xã hội duy nhất, là nơi bảo tồn toàn bộ văn hóa tộc người, là nơi diễn ra các lễ hội với hệ thống cồng chiêng độc đáo.


6. Ở một thời điểm lịch sử nhất định, trong đời sống thường ngày của từng dân tộc hay tộc người, ta đều thấy hiện diện cùng một lúc nhiều hiện tượng, nhiều yếu tố văn hóa của các dân tộc, các tộc người khác nhau do tiếp xúc, giao lưu văn hóa, tạo nên các lớp cũ và mới, nội sinh và ngoại nhập. Sự hiện diện phức tạp đó ngày càng rõ rệt cùng với sự tiến triển của lịch sử. Nếu ở thời kỳ nguyên thủy, người ta dễ nhận ra các lớp, nhưng sang thời kỳ nông nghiệp, các lớp quyện vào nhau khó phân tích, ngoại trừ những điều được sử sách ghi lại hay qua trí nhớ của người già.


Ở Việt Nam, các tộc người thiểu số bản địa thường bảo lưu trong mình nhiều hơn những yếu tố văn hóa địa phương, trong khi các tộc người khác, có thể ở trình độ văn minh hơn, lại tiếp thu ảnh hưởng của văn minh Hoa – Ấn. Sự tiếp xúc văn hóa tạo điều kiện về cả vật chất và tinh thần cho sự tiến bộ, tất nhiên không loại trừ tính xâm lược, hoặc đồng hóa. Vì vậy, ta cần phân tích cái gì là của nền văn hóa phương Nam nói chung([2]), cái gì là của nền văn hóa du nhập từ Ấn - Hoa qua phương pháp so sánh. Tất nhiên ta cần hiểu văn hóa phương Nam là vốn chung của cả khối Bách Việt, từ sông Dương Tử trở xuống, mà không nên lầm lẫn là chỉ riêng của Việt Nam, thậm chí của người Việt. Trong quá trình chuyển xuống phương Nam, người Hán cũng tiếp thu và biến yếu tố văn hóa đó để làm giàu cho văn hóa ban đầu của mình, thường được gọi là văn hóa phương Bắc. Thật cũng khó đoán định được những trường hợp cụ thể vì văn hóa toàn thế giới có những nét chung và những chứng cớ lịch sử thường lại thiếu và không rõ ràng.


 Mỗi một dân tộc, một tộc người nhất định luôn bị chi phối bởi tác động của lịch đại và đồng đại. Ban đầu khi khoa học công nghệ kém phát triển, khi không gian xã hội còn bị thu hẹp, tác động lịch đại dựa vào sự phát triển tự thân là chủ yếu đã nổi trội; tính dân tộc và tộc người trong đời sống văn hóa, xã hội được coi trọng. Ngược lại, khi khoa học công nghệ phát triển, nhất là từ sau khi xuất hiện xã hội công nghiệp đến nay, khi không gian
xã hội từng dân tộc, từng tộc người được mở rộng, thời tác động đồng đại tức là tác động tiếp xúc, giao lưu văn hóa là chủ yếu lại phát huy tác dụng; tính dân tộc, tính tộc người bị đe dọa, nếu không phát huy được sức tự đề kháng. Có thể nói, những yếu tố văn hóa ngoại sinh phi dân tộc hay tộc người nhiều khi thống trị đời sống hằng ngày, như tình hình sinh hoạt ở các đô thị, trong các công sở hiện nay, khi mà con người vào thời gian đó, ít suy tính đến tính dân tộc hay tộc người, chỉ để ý đến sự tiện lợi cho sinh hoạt hằng ngày.


7. Việt Nam mới giành được độc lập thống nhất toàn vẹn hơn 30 năm, sau gần 100 năm bị thực dân đô hộ và 30 năm chiến tranh tàn khốc. Công việc đó phải trả bằng một giá quá đắt, danh tiếng anh hùng lại phải trả bằng nỗi đắng cay về phát triển kinh tế. Trách nhiệm của mỗi tộc người trong dân tộc Việt Nam là phải thực hiện cho được đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng phát triển nhằm xây dựng một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


Ở Việt Nam, thành viên của mỗi một tộc người cần có hai ý thức: 1. Là công dân nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với trách nhiệm phải hội nhập vào đời sống kinh tế - xã hội văn hóa của cả nước, xóa bỏ những chênh lệch do hậu quả lịch sử, xã hội để lại, đồng thời góp phần tích cực ngày càng lớn qua các kinh nghiệm sản xuất, những nếp sống xã hội trong sáng, bình dị, những trí thức tộc người và những giá trị văn học nghệ thuật. Những giá trị này càng lớn và đã bắt đầu trở thành giá trị phổ quát của đất nước, thậm chí đã được thế giới công nhận như tổng thể di tích Mỹ Sơn (Chăm), di sản văn hóa cồng chiêng (Tây Nguyên), hay đã nổi tiếng như múa rối nước, các anh hùng ca Tây Nguyên, các làn điệu chèo tuồng, các thành quả của nghề thủ công như các đồ dệt may, hoa văn dân tộc, nghề rèn, và chế biến thức ăn như nghề chế biến nước mắm... 2. Ý thức là thành viên của tộc người, bản thân có trách nhiệm đưa tộc người mình, phát huy tính chủ động làm chủ buôn làng hướng đến việc công nghiệp hóa hiện đại hóa, theo hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy thế mạnh các tài nguyên thiên nhiên: rừng, lâm thổ sản... biến các buôn làng sinh sống theo lối tự túc tự cấp thành những làng nông, lâm được công nghiệp hóa. Đối với các tộc người có dân số ít, cư trú ở vùng hẻo lánh, cần được sự giúp đỡ của các tộc người anh em trên cơ sở dần tự lực là chính.


Cần làm cho nhân dân các tộc người nhận thức được sự phát triển của từng tộc người và cả quốc gia dân tộc là một phức thể thống nhất, cái nọ làm tiền đề cho sự phát triển của cái kia, mà không triệt tiêu nhau. Điều đó được thể hiện trong Báo cáo
chính trị tại Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam:
"Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc (tức tộc người - ĐNV), đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc (tức quốc gia - dân tộc - ĐNV) trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng – tính độc đáo trong bản sắc của một dân tộc (tức tộc người - ĐNV)([3]).


Trong những năm qua, con đường đưa một đất nước mà 80% còn là cư dân nông nghiệp, ở các tộc người thiểu số miền núi là gần 100%, đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng xã hội chủ nghĩa là đầy khó khăn gian khổ. Con đường sẽ phải trải qua nhiều chặng, nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ lắt léo ngoằn nghèo như V.I. Lênin tiên đoán, chỉ có thể làm sáng dần, tất nhiên không tránh khỏi vấp váp. Những vấp váp đó có những nguyên nhân khách quan và chủ quan, song chủ quan là chính. Đó là do cơ chế vận hành, do sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm, cũng do cán bộ quan liêu, xa quần chúng, tham nhũng, thiếu nhiệt tình vì dân, vì nước. Đó cũng lại là do thường áp dụng thiếu suy nghĩ những "cái hay" của nước ngoài để làm cho cái nội tạng thêm thiếu ổn định. Vấn đề là cần hiểu được cái chúng ta là gì để lượng sức mình mà làm, tránh ấu trĩ tả khuynh, nhất là lại ở tình trạng có ba vùng với ba tình trạng phát triển không đồng đều.


Tuy nhiên, nếu nhìn chung, ta thấy có sự tiến bộ vượt bậc, nhất là sau thời kỳ Đổi mới. Cái tồn tại chính là cái cơ bản nhất, đó là chưa có một kinh nghiệm nào đi trước để theo, là đất nước này phải đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng theo phương hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Dân làm chủ là thế nào? Và dân ở đây, cần suy nghĩ là dân của 54 tộc người của một quốc gia dân tộc đa tộc người. Chúng ta là ai? Suy nghĩ đó phải quán triệt vào tâm tư của người lãnh đạo trong khi hoạch định chính sách với bất cứ ban, ngành nào.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.







([1]) Ở người Việt, chế độ ruộng tư đã xuất hiện từ thời Lý, chiếm đa số ruộng đất các làng xã từ thời hậu Lê, nhưng nó vẫn cần thiết với chính quyền trung ương cũng như người dân của công xã.




([2]) Xuất phát từ khái niệm ngôn ngữ, ta thấy xuất hiện khái niệm văn hóa phương Nam nhưng về phương diện chủng tộc, ta lại thấy loại Nam Mongoloid bao gồm các chủng tộc Indonêsien mà N.N. Tchebôksarôv gọi là Đông Inđonêsien để khỏi lầm lẫn với Inđonêxia, tên nước (1985). Nguyễn Đình Khoa lại phát hiện ra loại hình Inđônêsien hay Đông Nam Á bao gồm người Việt và các tộc người miền núi phía Bắc và loại hình Nam Á hay Đông Nam Á bao gồm các tộc người Trường Sơn – Tây Nguyên (1983). Ý kiến này sau được N.N. Tchebôksarôv chấp nhận như một pháp kiến quan trọng. Dù chúng có quan hệ với nhau, người ta không nên lầm lẫn những khái niệm về ngôn ngữ, chủng tộc và văn hóa (Nguyễn Đình Khoa Chủng tộc theo quan niệm Nhân học hiện đại, 2005, tài liệu chưa in).




([3]) Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.98.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »