Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (từ năm 1802 đến năm 1945)
1802 - Nhâm Tuất
16-7 (mười bảy tháng sáu)
- Lê Văn Duyệt chỉ huy quân của chúa Nguyễn từ Đàng Trong ra đánh chiếm Thăng Long.
20-7 (hai mốt tháng sáu)
- Gia Long - Nguyễn Ánh ra Thăng Long. Đổi Bắc Hà thành Bắc Thành. Dời đô về Huế. Kinh thành cũ thành phủ Phụng Thiên (sau đổi là Hoài Đức) và 2 huyện là Thọ Xương và Quảng Đức (sau đổi là Vĩnh Thuận). Đặt chức An phủ sứ và Tuyên phủ sứ để cai trị. Bỏ nhà Thái học ở Văn Miếu để làm nhà Khải Thánh thờ bố mẹ Khổng Tử.
Tháng tám
- Đặt lại dịch ở các trấn, phủ, huyện thuộc Bắc Thành.
5 trấn nội: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Hải Dương, Kinh Bắc, Sơn Tây. Mỗi trấn có 2 ty Tả thừa, Hữu thừa, mỗi ty đặt một cai kê, 1 cai hợp, 1 thủ hợp và 22 người thuộc ty. Mỗi phủ đặt 2 đề lại, 10 thông lại, mỗi huyện đều có 50 lính lệ, mỗi tổng đặt 1 tổng trưởng, một phó tổng.
6 trấn ngoại: Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Yên Quảng, mỗi ty Tả thừa, Hữu thừa đều đặt 1 cai hợp, 1 thủ hợp và 13 người thuộc ty.
- Đặt chức đốc học ở các trấn Bắc Thành, học sĩ Nguyễn Đình Tứ làm đốc học phủ Phụng Thiên.
- Cử Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc Thành, quản lý 11 trấn nội, ngoại.
- Đặt ba tào Hộ, Binh, Hình, giao cho Nguyễn Văn Khiếm, Đặng Trần Thường và Phạm Như Đăng lãnh nhiệm.
- Cử Chương dinh Nguyễn Đình Đắc quản 3 vệ quân Thần Sách trấn giữ Bắc Thành.
- Gia Long tặng bảng nhãn Bùi Huy Bích, người làng Thịnh Liệt 200 quan tiền (Thịnh Liệt nay là phường thuộc quận Hoàng Mai).
24-10 (hai tám tháng chín)
- Gia Long dời Thăng Long về Huế.
1803 - Quý Hợi
9-3 (mười sáu tháng hai)
- Đặng Trần Thường, quan triều Nguyễn, sai đánh đòn Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và Nguyễn Gia Phan ở sân Văn Miếu. Ngô Thì Nhậm sau trận đòn thù đã chết.
Tháng năm
- Đắp 7 đoạn đê mới ở Bắc Thành. Một đoạn ở mãi Tử Châu, huyện Yên Lạc, Sơn Tây, 220 trượng. 1 đoạn ở xã Kim Xà, huyện Yên Lãng, 298 trượng. 1 đoạn ở xã Thổ Khối, huyện Gia Lâm, Kinh Bắc 400 trượng. Và 5 đoạn khác ở các trấn Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ.
Tháng mười
- Gia Long đi Bắc tuần đến Thăng Long
- Diễn trận pháp của các quân. Vua ngự trên lầu cửa Đông xem.
- Vua thăm làng Tranh Khúc, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì xem đá
- Mở Cục đúc tiền và định lệ lương bổng cho quan, quân ở Bắc Thành.
1804 - Giáp Tý
Tháng Giêng
- Tổng trấn Nguyễn Văn Thành, mở cuộc bình văn lớn ở Văn Miếu có hàng ngàn người dự.
- Vua Gia Long tiếp sứ giả nhà Thanh là Tề Bồ Sâm, án sát Quảng Tây, sang tấn phong tại điện Vấn Thiên.
- Gia Long dời Thăng Long về Huế
- Định điều lệ Hương đảng cho các xã dân Bắc thành.
+ Về ăn uống: xã dân họp bàn dùng trầu cau làm lệ, cấm rượu thịt.
+ Về lễ vui mừng: việc lớn cho dùng xôi lợn, không có nộp thay ba quan tiền. Việc nhỏ dùng xôi gà, không có nộp một quan sáu tiền.
+ Về lễ giá thú: châm trước trong sáu lễ, tuỳ nhà có hay không, không được viết khế cố ruộng. Tiền cheo: người ngoài một quan hai tiền, người vừa sáu tiền, nghèo ba tiền, người làm khác gấp đôi. Chửa hoang phạt gian phụ ba mươi quan, cha anh ba quan để giữ phong hoá.
+ Việc tang lễ: Làng xóm giúp nhau, không quá xa hoa, tùy lực, không gắn theo tục, không được vin lệ đòi hỏi cỗ bàn ăn uống, không dùng thầy địa lý xem đất.
+ Việc thờ thần phật: Tế bằng trâu bò xin quan phủ, huyện xét đáng mới cho. Đồ tế khí trượng nghi không được sơn son thếp vàng, màn tàn cờ quạt chỉ được dùng vải lụa nhuộm màu không được thêu văn vẻ. Hàng năm, tế tự, vào đám, hát xướng chỉ cho một ngày đêm. Các trò vè khác đều cấm.
+ Chùa quán có đổ nát mới được tu bổ. Cấm làm chùa mới, tô tượng, đúc chuông, đàn chay, hội chùa. Sư sãi phải kê khai. Bãi bỏ mê tín, đồng cốt. Nhà thờ Gia Tô đổ nát phải trình quan trấn mới được tu bổ, cấm dựng nhà thờ mới.
Tháng ba
- Đắp tám đoạn đê mới ở Bắc thành (một đoạn ở xã Thượng Cát (Từ Liêm) 135 trượng, một đoạn ở Đông Phù Liệt (Đông Mỹ - Thanh Trì) 370 trượng, một đoạn ở xã Phú Xuyên (huyện Tiên Phong) 394 trượng, và năm đoạn khác ở Trấn Kinh Bắc, Sơn Nam Hạ.
Tháng tư
- Sửa hành cung ở Bắc thành. Làm thêm một toà ở sau điện Kính Thiên làm nơi trú chân trong khi Vua đi tuần thú.
Tháng sáu
- Bắc Thành nước lớn, đê vỡ.
1805 - Ất Sửu
Tháng ba
- Đào vét sông Nguyệt Đức.
Tháng sáu
- Phá bỏ Hoàng Thành cũ. Xây thành mới theo kiểu vô - băng (vauban) của Pháp. Thành hình vuông (mỗi cạnh khoảng 1km) tường thành xây gạch hộp, chân thành xây đá xanh và đá ong. Tường cao một trượng, một thước, dày bốn trượng, mở ra năm cửa: Đông, Tây, Bắc, Đông Nam và Tây Nam. Đường vào cửa xây vòm xuyên qua tường thành dài sáu trượng bốn thước (23m) mỗi cửa có lầu canh gọi là Thú lâu, đặt lính gác ngày đêm. Ngoài thành có hào. Phía trước các cửa thành có một hàng tường chắn gọi là Dương mã thành cao bảy thước năm tấc, dài hai trượng chín thước, có cửa gọi là Nhân môn. Vào thành phải qua Nhân môn mới tới cửa thành. Trong thành có điện Kính Thiên dựng trên núi Nùng, thềm điện có bậc chạm rồng đá từ cung điện thời Lý còn lại. Cột điện bằng gỗ rất lớn. Trước điện Kính Thiên là Đoan Môn, có dựng bia ghi công trạng của Gia Long ở phía ngoài. Phía Đông là các dinh quan lại, phía Tây là kho thóc, kho tiền, dinh Bố Chính, phía Bắc cơ quan giữ an ninh và nhà ngục gọi là “Tĩnh Bắc lâu”.
- Xây gác Khuê Văn ở Văn Miếu làm nơi bình thơ.
Tháng tám
- Đổi thành Thăng Long (rồng lên) thành (thịnh vượng lên). Đổi phủ Phụng Thiên thành phủ Hoài Đức, huyện Quảng Đức thành huyện Vĩnh Thuận. Phủ Hoài Đức gồm hai huyện: Thọ Xương có tám tổng, 194 phường, thôn và Vĩnh Thuận có 5 tổng, 56 phường, thôn, trại.
1806 - Bính Dần
Tháng tư
- Định phẩm phục các quan văn võ
Tháng bảy
- Vỡ đê ở xã Đạm Xuyên, huyện Yên Lãng, trấn Sơn Tây (nay thuộc Mê Linh)
- Lê Quang Định soạn xong sách “Nhất thống dư địa chí”
1807 - Đinh Mão
Tháng hai
- Bắc thành chọn hơn 100 chợ cắt tượng cột để đưa vào Huế làm việc.
- Định phép thi hương, thi hội. Kì đệ nhất thi kinh nghĩa. Kì đệ nhị thi chiếu chế, biểu. Kì đệ tam thi thơ, phú. Kì đệ tứ thi văn sách. Tháng 10 mở khoa thi hương.
Tháng ba
- Phủ Hoài Đức làm lại sổ hộ tịch.
6-6 (Một tháng năm)
- Nhật thực
Tháng sáu
- Bắc thành bị bão
Tháng mười
- Mở khoa thi hương từ Nghệ An ra Bắc. Trường Sơn Tây cho các thí sinh thuộc trấn Sơn Tây, phủ Hoài Đức, trấn Tuyên Quang, Hưng Hoá. Lấy đỗ hương cống hai người.
Tháng chạp
- Đắp mười đoạn đê mới ở Bắc thành. Trong đó có một đoạn ở xã Kim Quan, huyện Gia Lâm dài hơn 420 trượng (15,12km)
1808 - Mậu Thìn
Tháng giêng - Định ngạch thuế cho phủ Hoài Đức và 5 nội trấn thuộc Bắc Thành. Dân tráng: tiền dung một quan một tiền, tiền đầu quan 1 tiền, tiền điệu 6 tiền, gạo cước 2 bát. Dân đinh nộp bằng một nửa. Chức sắc cũng chia làm hai hạng nộp như trên.
Tháng bẩy
- Rời phủ lị Quốc Oai từ xã Phượng Trì sang xã Thuỵ Ứng đều thuộc huyện Đan Phượng.
Tháng mười
- Sửa đắp thành trấn Sơn Tây
28 - 8 (năm Mậu Thìn 1808)
- Cao Bát Quát sinh ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm. Ông có tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, Mẫn Hiên. Đậu cử nhân năm 1831, được cử làm hành tẩu ở bộ Lễ. Ông là bạn thơ của Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận, Miên Thẩm. 1852 làm giáo thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây. 1854 khởi nghĩa mượn tiếng phù Lê, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, ông làm Quốc Sư. Việc không thành bị bắt và bị giết chết. Ông để lại nhiều thơ văn.
- Lập “Bảo tuyền cục” tức là tràng đúc tiền ở thôn Cựu Lâu (nay là phố Tràng Tiền).
1810 - Canh Ngọ.
- Minh Mạng đặt tên nước là Đại Nam.
1812 - Nhâm Thân
- Xây cột cờ ở phía Nam thành mới, gần đình bia ở cửa Đoan Môn. Cột cờ cao 60m, hình lục lăng dựng trên ba cấp hình vuông. Cấp trên cùng mỗi cạnh 15m, cấp dưới cùng mỗi cạnh 42m. Cấp giữa mở 4 cửa ra ngoài (nay còn 3 cửa mang tên Nghênh Húc (đón buổi sáng) ở hướng Đông; Hướng Minh (hướng về ánh sáng) ở hướng Nam và Hồi Quang (trả lại tia sáng) ở hướng Tây, tất cả xây bằng gạch gốm). Có hai thang xoáy ốc đi lên cột cờ. Trên ngọn có biển đề hai chữ Kỳ đài.
1814 - Giáp Tuất
- Nguyễn Gia Phan (tức Nguyễn Thế Lịch) viết các sách y học: Liệu dịch phương pháp toàn tập, Lý âm phương pháp thông lục, Hộ nhi phương pháp tổng lục.
1815 - Ất Hợi
- Hoàn thành việc sửa chữa, đắp tượng phật, đúc chuông lớn và dựng bia ở chùa Trấn Quốc.
1819 - Kỷ Mão
- Dời đền thờ Hai Bà Trưng từ ngoài bãi sông Hồng vào thôn Hương Viên, làng Đồng Nhân.
- Lý Văn Phức, người làng Hồ Khẩu, đậu cử nhân.
1821 - Tân Tị
- Vua Minh Mạng ra Bắc, đến Thăng Long
- Phạm Đình Hổ viết xong “Vũ trung tuỳ bút”.
1828 - Mậu Tí
Tháng ba
- Hơn 200 nóc nhà dân ở ngoài thành bị cháy. Mười ngày sau lại cháy 1430 nhà, ở 27 thôn, phường nhiều người bị chết, bị thương.
Tháng bảy
- Định lệ đặt Lý trưởng ở Bắc thành. Các xã thôn, các phường đều đặt một lý trưởng. Số đinh 50 người trở lên, được thêm 1 phó lý trưởng. 150 người trở lên được thêm 2 phó lý trưởng. Cai tổng chủ trì dân làng bầu cử, phủ, huyện, xét lại bẩm lên trấn duyệt để cấp văn bằng và mộc triện.
- Đặt nha môn để chính ở Bắc thành. Cử một quan văn nhị phẩm quản lý, một quan võ tam phẩm làm tham biện. Công thức đê điều theo đúng thể lệ thời Gia Long.
Quy định: Đê sông lớn, ở thượng và trung lưu: mặt đê rộng 2 trượng, chân đê 7 trượng, cao 1 trượng 2 thước; Ở hạ lưu: mặt đê 1 trượng 5 thước, chân đê 5 trượng, cao 1 trượng. Đê Trung Giang: mặt đê 1 trượng 2 thước, chân đê 4 trượng, cao 1 trượng. Đê sông nhỏ: mặt đê 9 thước, chân đê 3 trượng, cao 9 thước. Định lệ hằng năm cứ hạ tuần tháng giêng, khởi công đắp và tu bổ đê. Công trình lớn đến cuối tháng 3, công trình nhỏ đến trung tuần tháng 2 phải đắp xong. Mở cống phải báo quan. Các đê đều phải trồng tre chắn sóng và có sẵn tre hộ đê. Dựng thước đo nước ở bến sông. Sức cho dân phải dự bị các loại sọt đất và tre gỗ hộ đê.
- Nước sông Hồng lên to, vỡ đê ở xã Kim Quan (Gia Lâm) xã Phụng Nghĩa (Yên Sơn - Sơn Tây) gây lụt lớn.
- Định lại lệ đặt cai phó tổng ở Bắc Thành. Mỗi tổng đặt một cai tổng, chọn trong hàng lý trưởng. Tổng nào nhiều việc đặt thêm một phó tổng ngoại uỷ. Cấp văn bằng, 1 triện. Cứ 3 năm một lần khảo xét để khen thưởng kỷ luật.
Tháng chín
- Tổ chức thi hương ở Bắc Thành, lấy đỗ cử nhân 20 người.
- Đắp đê công ở Bắc Thành. Mở 18 sở đê, đắp mới đê Kim Quan (Gia Lâm), dài hơn 980 trượng, đê Hải Bối, Phụng Nghĩa (Sơn Tây), Phụ Thi, Nho Lâm, Viên Nội (Sơn Nam). Bồi bổ các đê cũ ở Hát Môn, Mạch Lũng, Đại Độ (Sơn Tây) tổng cộng dài hơn 3.590 trượng.
Tháng chạp
- Định ngạch thuyền cho các địa phương. Bắc Thành được đóng 35 chiếc các loại
- Bãi bỏ việc đúc tiền kẽm ở Bắc Thành.
1829 - Kỷ Sửu
Tháng giêng
- Đắp đê sông Hát và đê sông Tích
- Dựng công trường đê chính ở cửa Nam thành Thăng Long.
Tháng tư
- Khúc đê mới ở Kim Quan (Gia Lâm) dài hơn 140 trượng thường sụt lớn, đắp lại sụt.
Tháng bẩy
- Ngạch thuyền của Bắc Thành được tăng thêm 7 chiếc là 42 chiếc.
Tháng tám
- Quan Đê chính Lê Đại Cương làm sách tổng kê đê điều ở Bắc Thành. Trong đó ghi: Hai huyện Vĩnh Thuận, Thọ Xương, Phủ Hoài Đức, 8 phường, thôn có 2 con đê công cũ ở sông Cái dài 1.272 trượng đắp từ đời trước. Trấn Sơn Tây, 8 huyện Tiên Phong, Phúc Lộc, Đan Phượng, Yên Sơn, Từ Liêm, Bạch Hạc, Yên Lạc, Yên Lãng gồm 248 đoạn đê công dài hơn 59.039 trượng, 16 cống. Đê tư dài 10.393 trượng, 16 cống.
Tháng mười
- Thành ở phía trước mặt Bắc Thành bị sụt
- Định lại danh hiệu và số ngạch tượng binh. Bắc Thành có 3 cơ, mỗi cơ 5 đội, biền binh 50 người, voi 110 thớt. Ba cơ tượng gọi là: Bắc Tiền, Bắc Tả và Bắc Hữu.
1830 - Canh Dần
Tháng giêng
- Vét cửa sông Thiên Đức (sông Đuống)
Tháng chín
- Xây thành Kim Hoa bằng gạch.
- Đắp thành đất ở các phủ: Thiên Phúc (Đa Phúc), Quảng Oai, Quốc Oai và các huyện Gia Lâm, Từ Liêm, Yên Sơn, Thạch Thất, Yên Lãng, Minh Nghĩa, Bất Bạt, Thanh Trì. Thành Phủ: ngoài cao 7 thước 2 tấc, trong cao 4 thước, mặt dày 8 thước, chân rộng 1 trượng 5 thước. Thành huyện: ngoài cao 7 thước 2 tấc, trong cao 3 thước 7 tấc, mặt dày 8 thước 3 tấc, chân 1 trượng 5 thước.
Tháng một
- Bờ sông ở ngoài thành Đại La bị nước lụt xói lở cách chân thành chỉ độ 3 trượng. Một đoạn ở Cận Hàn dài 71 trượng, 1 đoạn ở Thạch Khối dài 47 trượng. Sai hơn 1000 biền binh bồi đắp làm kè bằng cọc gỗ bên ngoài.
1831 - Tân Mão.
24 - 6 (mười lăm tháng năm)
- Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến vẽ “Hoài Đức phủ toàn đồ”
Tháng bẩy
- Bắt đầu tuyển lính cơ ở phủ Hoài Đức để bổ sung cho trấn Sơn Nam
- Dỡ bỏ Cục Bảo Tuyền (Tràng Tiền) vì đã đình chỉ việc đúc tiền ở Bắc Thành, để làm trường thi hương.
- Quy định về đường cái quan: mặt rộng 1 trượng, chân rộng 1 trượng 5 thước, giữa cao 2 thước, 2 bên đường cao 1 thước
- Đặt 10 trạm ở Sơn Tây. Mỗi trạm có từ 20 đến 30 người, 1 nhà trạm 3 gian 2 chái bằng tre, gỗ, lợp tranh. 10 trạm là: Sơn Xá, Sơn Đồng, Sơn Quang, Sơn Lâu, Sơn An, Sơn Thanh, Sơn Bình, Sơn Vân, Sơn Xuân, Sơn Hoà.
Tháng chín
- Mở khoa thi hương, lấy đỗ cử nhân 20 người. Trong đó có Cao Bá Quát, Nguyễn Huy Tôn, Phạm Huy Chân, Kiều Năng Thân…
Tháng mười
- Chia lại địa hạt, từ 11 trấn thành 18 tỉnh ở Bắc Thành.
Trong đó:
Hà Nội bao gồm: phủ Hoài Đức hợp với trấn Sơn Nam, phủ Hoài Đức thêm huyện Từ Liêm của phủ Quốc Oai cũ.
Như vậy Hà Nội có 4 phủ: Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hoà, Lý Nhân; 15 huyện: Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm, Thượng Phúc, Thanh Trì, Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh, Hoài An, Nam Xương, Duy Tiên, Bình Lục, Phú Xuyên, Kim Bảng, Thanh Liêm.
Sơn Tây gồm 5 phủ: Quốc Oai, Vĩnh Tường, Lâm Thao, Quảng Oai, Đoan Hùng; 22 huyện: Yên Sơn, Yên Lạc, Thạch Thất, Yên Lãng, Bạch Hạc, Lập Thạch, Mỹ Lương, Phù Ninh, Đan Phượng, Sơn Vi, Hoa Khê, Thanh Ba, Hạ Hoà, Tiên Phong, Minh Nghĩa, Bất Bạt, Phúc Thọ, Tây Quan, Đặng Đạo, Tam Dương, Sơn Dương, Hùng Quan.
Bắc Ninh thống trị 4 phủ: Từ Sơn, Thiên Phúc, Thuận An, Lạng Giang; 20 huyện: Tiên Du, Võ Giàng, Quế Dương, Yên Phong, Hiệp Hoà, Kim Hoa, Việt Yên, Lương Tài, Gia Lâm, Văn Giang, Gia Bình, Siêu Loại, Yên Thế, Yên Dũng, Bảo Lộc, Hữu Lũng, Phượng Nhãn, Lục Ngạn, Đông Ngàn, Thiên Phúc.
- Đặt chức quan tổng đốc Hà - Ninh, chuyên hạt tỉnh Hà Nội và kiêm hạt tỉnh Ninh Bình.
- Định ngạch bộ binh tỉnh Hà Nội có: 10 cơ Chân Định của Trung Quân, cơ Thiện Võ, cơ Hà Nội, cơ Nghiêm Dũng, Hà Nội tượng cơ, Hà Nội thủy cơ và Hà Thanh thủy cơ.
- Định chức trách các quan cầm đầu: Tổng đốc quản lý toàn hạt. Tuần phủ giữ việc chính trị, giáo dục, vỗ yên dân. Bố chính sứ trông coi thuế khóa, tài chính. Án sát sứ giữ việc kiện tụng, hình án, bảo vệ, phong hóa, kỷ cương.
- Đặt ty Bưu truyền (cơ quan chạy trạm, chuyển công văn) ở Hà Nội.
1833 - Quý Tị
- Dời phủ lỵ Hoài Đức từ làng Tiên Thị (nay là phố Lý Quốc Sư) đến làng Dịch Vọng (nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội).
- Sơn cột, sửa nhà chính tẩm và xây tường quanh Văn Miếu.
1835 - Ất Mùi
Tháng ba
- Minh Mạng bắt bạt bớt chiều cao của thành Hà Nội. Từ 1 trượng 3 thước xuống 1 trượng 1 thước 2 tấc để thấp hơn hoàng thành ở Huế.
- Đặt đồn sở, đóng quân ở 3 nơi xung yếu thôn An Vinh, huyện Kim Hoa, xã Cổ Loa, huyện Đông Ngàn và xã Phú Thị, huyện Gia Lâm.
1837 - Đinh Dậu
Tháng giêng
- Thống kê số đinh của tỉnh Hà Nội: 51.877 người. Tỉnh Sơn Tây: 29.551 người.
Tháng hai
- Hà Nội, Sơn Tây nuôi được nhiều tằm kén trắng.
Tháng năm
- Cháy hơn 1400 nóc nhà ở tỉnh thành. Chia vạch lại cửa nhà cho thứ tự, mở đường sá. Dân phố phải dự vị đồ cứu hỏa. Chọn đất lập đền thờ thần Hỏa.
Tháng sau
- Vỡ đê Vân Trại, huyện Tiên Phong. Mực nước cao 21 thước 3 tấc thì bị vỡ lở dài hơn 10 trượng. 6 huyện: Tiên Phong, Phúc Lộc, Minh Nghĩa, Thạch Thất, Yên Sơn, Mỹ Lương bị lụt, nước tràn vào 3 mặt: tây, nam, bắc tỉnh thành Sơn Tây. Lấy ngấn nước lụt năm này để định mức đắp cao của đê
Tháng chín
- Vua Minh Mạng bắt dân thay đổi cách ăn mặc, bỏ tục cũ, ăn mặc đội mũ theo lối nhà Hán, nhà Minh.
Tháng mười
- Mở khoa thi hương ở Hà Nội, lấy đỗ 17 người.
Từ 1838 (Mậu Tuất) đến 1840 (Canh Tí)
- Thay đổi đơn vị hành chính cấp thôn và tổng. Huyện Thọ Xương 8 tổng đổi tên mới với 116 phường, thôn. Huyện Vĩnh Thuận 5 tổng với 27 phường, thôn. Số dân của tỉnh Hà Nội năm 1840 là 52.335 người.
1842 - Nhâm Dần
- Dời huyện lỵ Thọ Xương từ thôn Hương Miến (Hàng Bột) đến thôn Tiên Thị (nay là phố Lý Quốc Sư)
- Vua Thiệu Trị ra Bắc Hà đến Hà Nội.
- Nguyễn Đăng Giai, tổng đốc Hà - Ninh, quyên tiền xây chùa Báo Ân. Chùa xây trên nền cũ của lầu Ngũ Long thời Lê - Trịnh cạnh Hồ Gươm. Làm 4 năm mới xong, rộng 180 gian, có 36 nóc. Sau chùa có nhiều tháp. Còn có tên gọi là chùa Quan Thượng (nay chỉ còn lại Tháp Hòa Phong trên đường Đinh Tiên Hoàng).
1846 - Bính Ngọ
- Nhân dân vùng Khương Thượng bí mật làm pho tượng Quang Trung dưới danh nghĩa Đức ông, thờ ở Chùa Bộc
1848 - Mậu Thân
- Tự Đức cho phá dỡ hết cung điện ở thành Hà Nội đưa các đồ chạm trổ mỹ thuật bằng gỗ, đá về Huế.
1851 - Tân Hợi
1-5
- Cố đạo Ô Quý Hanh Xơphole (Augustin Schoeffler) bị chém ở Sơn Tây.
1854 - Giáp Dần
- Cao Bá Quát khởi nghĩa chống triều đình ở Mỹ Lương (nay là huyện Chương Mỹ).
1855 - Ất Mão
- Cao Bá Quát bị bắt và bị giết
1858 - Mậu Ngọ
- Xây 2 nhà tả vu và hữu vu ở hai bên nhà đại bái trong Văn Miếu. Mỗi nhà 11 gian để thờ các đồ đệ của Khổng Tử và các danh nho ta.
1860 - Canh Thân
- Đào sông Thiên Đức (sông Đuống). Do quan coi đê chính Nguyễn Tư Giản (người làng Du Lâm, nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh) chỉ huy.
- Triều đình khuyến khích dùng hàng nội hóa, ra lệnh cho các phường dệt ở Hà Nội sản xuất nhiều để tiêu dùng, không nhập hàng của nước ngoài.
1863 - Quý Hợi
- Xây đình bia trong Văn Miếu.
1864 - Giáp Tí
Tháng mười
- Sĩ tử trường thi hương Hà Nội công khai phản đối việc triều đình ký hòa ước với Pháp. Họ hò reo ầm ĩ, không chịu vào thi, đòi hoãn kỳ thi. Trường thi phải hoãn đến hôm sau mới thi được. Hai người khởi xướng là Phạm Gia Tự và Nguyễn Danh Án bị bắt và bị phạt trượng, phạt giam.
1865 - Ất Sửu
- Phương Đình Nguyễn Văn Siêu đứng ra sửa lại đền Ngọc Sơn, xây đình Trấn Ba, bắc cầu Thê Húc, dựng Tháp Bút và Đài Nghiên.
- Bắt đầu biên soạn “Đại Nam nhất thống chí” (bộ sách địa lý hoàn chỉnh nhất thời phong kiến, biên soạn tới năm 1885 mới xong).
- Tạ Văn Phụng, dân đạo, người huyện Thọ Xương, tự nhận dòng dõi nhà Lê nên xưng là Lê Văn Phụng hoặc Lê Bảo Phụng, khởi loạn, bị triều đình bắt, xử chém cùng với 34 người khác tại pháp trường Bắc Dã.
1866 - Bính Dần
- Mở thêm lò đúc vàng, bạc ở Sơn Tây
1867 - Đinh Mão
Tháng hai
- Đặt trường thi võ ở Hà Nội cho các thí sinh từ Ninh Bình trở ra. Khoa thi Đinh Mão là khoa đầu tiên.
Tháng sáu
- Bão lớn, nhiều nhà cửa, đình chùa, dinh thự bị đổ.
Tháng mười
- Lập sở đồn điền ở huyện Kim Anh (nay thuộc huyện Sóc Sơn) để khai hoang ruộng đất. Đến tháng 8 - 1868 phải bãi bỏ vì không thực hiện được.
1868 - Mậu Thìn
Tháng tư
- Quy định kỳ thi hương võ được tiến hành ngay sau kỳ thi hương văn ở trường thi Hà Nội.
1870 - Canh Ngọ
- Khắc in “Đại Nam quốc sử diễn ca” của Lê Ngô Cát và Đặng Huy Trứ.
1871 - Tân Mùi
Tháng sáu
- Vỡ đê Hà Nội, Sơn Tây… phải phá một đoạn đê ở Thạch Thất để giảm mức nước. Các huyện Tiên Phong, Bất Bạt, Tùng Thiện (nay đều thuộc huyện Ba Vì), Thạch Thất, Phú Thọ bị thiệt hại nặng.
1872 - Nhâm Thân
Tháng một
- Cục Thông Bảo Hà Nội đúc loại tiền đồng mới trên có khắc hai chữ “Lục văn”. Tiền có pha nửa kẽm, nặng 7 phân, trị giá mỗi đồng ăn 6 đồng tiền kẽm, mười đồng lục văn bằng một “tiền” cũ.
22 - 12
- Tên lái buôn Pháp là Giăng Đuypuy (Jean Dupuis) đưa chiến hạm đến Hà Nội buộc quân Kinh lược Bắc Kỳ là Lê Tuân phải cho mượn đường sông Hồng chở hàng đi Vân Nam. Lực lượng của Đuypuy gồm 2 tàu, 7000 súng tay, 30 đại bác, 15 tấn đạn và hơn 100 người vũ trang.
1873 - Quý Dậu
30 - 4
- Đuypuy từ Vân Nam trở về Hà Nội, gây hành động ngang ngược đòi có nhượng địa, tự lập đồn lũy ở bờ sông Hồng với gần 400 quân, mở cửa hàng ở phố mới (nay là phố Hàng Chiếu)
27 - 5
- Nguyễn Tri Phương đến Hà Nội nhận chức Khâm sai đại thần ở Bắc Kỳ.
20 - 6
- Đuypuy vẽ cổng thành ở cửa ô Tiên Trung (nay ở phố Hàng Đậu). Nhà nho Lê Đình Duyên, hiệu Cúc Hiên, người làng Mọc Hạ Đình đến ngăn cản đã bị y hành hung.
Tháng 10
- Đuypuy kéo quân lên tận cửa Nam, phá phủ đường, bắt quan phủ Hoài Đức đem xuống tàu.
3 - 11
- Chiến hạm của Pháp do Phơrăngxi Gacnhiê (Fancis Garmier) chỉ huy, từ Sài Gòn ra cập bến sông Hồng. Chiến hạm bắn 23 phát đại bác thị uy.
- Nguyễn Tri Phương gửi thư phản kháng cho Gacnhiê: “Ông đến Bắc Kỳ là để trục xuất tên Giăng Đuypuy. Vậy thì ông hãy lôi cổ hắn và cùng hắn đi khỏi nơi đây”.
5 - 11
- Gacnhiê đổ quân lên đóng ở Trường Thi
8 - 11
- Gacnhiê tự dán thông cáo ở Hà Nội. Thông cáo tuyên bố từ ngày 15 - 11 - 1873, sông Hồng được khai phóng tới Vân Nam. Các tàu thuyền của Pháp, Y Pha Nho, Trung Quốc được tự do đi lại. Pháp thu thuế thương chính. Tàu các nước vào Bắc kỳ phải xin phép quân Pháp.
12 - 11
- Gacnhiê gửi tối hậu thư cho Nguyễn Tri Phương buộc hạ khí giới và giao thành Hà Nội cho chúng vào ngày 18 - 11.
19 - 11
- Gacnhiê gửi tối hậu thư thứ hai buộc Nguyễn Tri Phương phải giải giáp quân đội, rút hết súng trên thành Hà Nội trong vòng 24 giờ.
20 - 11
- 4 giờ sáng thực dân Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội. Một toán quân Pháp vượt cửa ô Đông Hà (nay là Ô Quan Chưởng) bị chặn đánh quyết liệt. Sau một giờ kịch chiến, các cửa thành bị phá vỡ. Phò mã đô úy Nguyễn Lâm, con trai của Nguyễn Tri Phương chết tại trận. Nguyễn Tri Phương bị thương vào bụng và bị bắt. Thành Hà Nội bị mất lần thứ nhất. Theo Gacnhiê, lúc này Hà Nội có 56 nghìn suất đinh và 2 vạn héc-ta ruộng.
- Cùng ngày, giặc Pháp đánh chiếm phủ Hoài Đức.
21 - 11
- Tên đại úy Pháp Bácniê (Barnier) đánh nống ra ven ngoại, bị quân ta giết ở Cầu Diễn (Từ Liêm)
4 - 12
- Nghĩa quân Nguyễn Cao tấn công địch ở Gia Lâm.
20 - 12
- Khâm sai Nguyễn Tri Phương sau khi bị giặc bắt, không chịu cho chữa vết thương ở bụng, nhịn đói cho tới chết. Lúc này, ông là Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Lại bộ thượng thư, xung khâm mạng tuyên sát Đổng sức đại thần.
- Phái đoàn của triều đình Huế cho Trần Đình Túc được cử làm Tổng đốc Hà - Ninh (Hà Nội - Ninh Bình). Nguyễn Trọng Hợp: tuần phủ, Đặng Văn Huấn: bố chánh, Trương Gia Hội: án sát, Phan Đề: đề đốc, Hoàng Đôn Điển: lãnh binh.
21 - 12
- Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất. Quân ta phối hợp với quân Cờ đen phục kích giết chết tên đại úy Gacnhiê ở Cầu Giấy và giết tên sĩ quan thủ thành Hà Nội là Banny (Balny d’ Avricourt) ở trước cửa đền Voi Phục.
Năm 1873
- Phạm Đình Bách vẽ bản đồ Hà Nội
1874 - Giáp Tuất
3 - 1
- Phái đoàn hiệp thương Việt - Pháp do Nguyễn Văn Tường và Philat (Philastre) dẫn đầu tới Hà Nội. Sau mấy buổi hội đàm, hai bên quyết định cho giải thể đạo quân gồm 12.000 người, phần lớn theo đạo Gia-tô, do Gacnhiê lập ra.
17 - 1
- Tự Đức ra dụ đại xá cho tất cả những người tham gia cộng tác với Pháp trong việc đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh Bắc Kỳ.
6 - 2
- Ký kết quy ước về việc trao trả Hà Nội và trao trả thành muộn nhất 10 ngày sau khi triều đình đã bố trí được chỗ đóng quân cho Pháp ở Sở Hải Dương (nay là thành phố Hải Dương).
- Phải dành cho Pháp một dải đất bên sông Hồng để lập tòa Công sứ và doanh trại.
16 - 2
- Pháp trao trả Hà Nội cho Nam Triều. Nhưng chúng còn để lại 40 lính thủy đánh bộ dưới sự chỉ huy của đại úy hải quân Rêna (Rheinart) kiêm chức lãnh sự Pháp tại Hà Nội.
15 - 3
- Theo Hòa ước ký trong ngày, Nam Triều phải cắt đất nhượng cho Pháp ở bờ sông Hồng. Khoảng đất rộng 2,5 ha ở khu vực Đồn Thủy. Chúng được quyền đặt tòa lãnh sự với 100 quân thường trực.
31 - 8
- Hiệp ước thương mại Pháp - Việt được ký. Pháp bắt đầu đặt thuế thương chính, thuế hải đăng, thuế thả neo với các tàu thuyền buôn bán của nước ngoài ra vào cảng Hà Nội.
1875 - Ất Hợi
30 - 5
- Trong khi chờ xây dựng khu Đồn Thủy, Trần Đình Túc phải ký hiệp định cho Pháp sử dụng Trường Thi làm lãnh sự quán tạm thời tới 1-1-1887.
28 - 8
- Đờ Kécgarađếch (Đe Kergaradec) lãnh sự Pháp đầu tiên ở Hà Nội đến nhận chức.
31 - 8
- Trần Đình Túc ký hiệp định với Đờ Kécgarađếch, nhường hắn khu Đồn Thủy mở rộng tới 15,5 ha cho Pháp. Vì cần phải lấy lại Trường Thi để mở thi hương khoa Bính Tí nên Nam Triều đã chịu nhượng bộ Pháp thêm một bước.
15 - 9
- Khai trương cửa khẩu Hà Nội
1876 - Bính Tí
15 - 10
- Rút quân Pháp ở Trường Thi về Đồn Thủy.
1879 - Kỷ Mão
- Khoa thi Hương cuối cùng tổ chức ở Trường Thi (Hà Nội).
1880 - Canh Thìn
- Hoàng Diệu nhận thức tổng đốc Hà - Ninh, thay cho Trần Đình Túc về hưu.
30 - 10
- Đại úy thủy quân Pháp là Grô Đơvô (Gros Devo) chỉ huy thủy quân Pháp ở Bắc Kỳ vào yết kiến Hoàng Diệu.
Tháng 11
- Đặt đạo Mỹ Đức trực thuộc tỉnh Hà Nội. Đạo Mỹ Đức gồm 3 huyện: Chương Đức, Hoài An (Hà Nội) và Mỹ Lương (Sơn Tây). Đứng đầu là một chánh quản đạo.
1882 - Nhâm Ngọ
3 - 4
- Chiến hạm Pháp do Rivie (Henri Rivière) chỉ huy đổ bộ vào Hà Nội, đóng quân trong khu Đồn Thủy.
25 - 4
- 5 giờ sáng. Rivie gửi tối hậu thư cho tổng đốc Hoàng Diệu buộc phải đầu hàng trước 8 giờ.
- 8 giờ 15, ba tàu chiến Pháp là Fanfare, Maxue, Cabine nhả đạn vào thành, phía cửa Bắc.
- 10 giờ, Pháp tấn công bằng bộ binh. Dân chúng đốt từng dãy phố để cản chân giặc.
- 11 giờ, kho thuốc súng trong thành bốc cháy. Cửa Tây, Cửa Bắc bị phá vỡ, giặc ùa vào. Hoàng Diệu tự vẫn tại Võ Miếu (nay ở khu vực ngã ba đường Điện Biên Phủ - Chu Văn An - Lê Hồng Phong). Hà Nội thất thủ lần thứ hai.
8 - 5
- Quân ta ở bên kia sông Hồng bắn đại bác vào Hà Nội.
15 - 5
- Đột kích ban đêm vào vị trí giặc đóng ở nhà thờ Hàm Long.
1883 - Quý Mùi
27 - 3
- Pháp đổ bộ sang phía Gia Lâm. Quân ta do Kinh lược phó sứ Bùi Văn Di và tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản chỉ huy, có nghĩa quân Nguyễn Cao phối hợp đã đập tan cuộc đổ bộ. Quân Pháp phải rút chạy về Đồn Thủy ngày 28 - 3.
11 - 5
- Quân Nguyễn Cao tập kích khu Đồn Thủy.
12 - 5
- Quân Nguyễn Cao tiêu diệt vị trí nhà thờ gỗ của giặc Pháp ở thôn Báo Thiên (khu vực Nhà thờ Lớn ngày nay).
19 - 5
- Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai. Liên quân Việt - Cờ Đen mai phục tiêu diệt một đội hải quân lục chiến Pháp ở Bắc Kỳ - chết tại trận. Đại tá Ville (Berthe de Villers) bị tử thương. Giặc Pháp tháo chạy, bỏ lại hơn 300 xác chết sau trận ác chiến từ 5 đến 7 giờ sáng.
15 - 6
- Tướng Buê (Bouet) tổng tư lệnh quân đội Pháp đến Hà Nội. Ban hành thiết quân luật. Thành lập tiểu đoàn “Cờ Vàng” (gồm những tên Việt gian, Hán gian) củng cố và đắp thêm lô cốt, pháo đài.
Tháng 6
- Công sứ Hà Nội đầu tiên là Bônan (Bonnal) đến Hà Nội. Nhà công sứ đặt ở phố Hàng Gai (nay là số nhà 80)
15 - 8
- Buê chỉ huy quân Pháp tấn công phòng trực tuyến quân ta từ Cầu Giấy đến Chèm. Cuộc tấn công mở đầu lúc 5 giờ sáng, kết thúc lúc 19 giờ với sự thất bại về phía quân Pháp: 2 thiếu úy lính thủy đánh bộ, 1 trung úy pháo binh và 2 sĩ quan khác bị chết, hàng trăm lính Pháp, ngụy chết và bị thương.
16 - 8
- Nước sông Hồng lên to, vỡ đê ở Chèm, lụt lớn. Quân ta phải rút khỏi phòng tuyến thứ nhất bao vây Hà Nội, lui về giữ tuyến hai ở Cầu Phùng (nay thuộc xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng).
25 - 8
- Triều đình Huế ký hiệp ước công nhận sự bảo hộ của nước Pháp. Nghĩa quân Hà Nội không chấp nhận, tiếp tục chiến đấu.
31 - 8
- Tướng Buê mở cuộc phản công lần thứ hai: Quân ta vẫn giữ vững trận tuyến Phùng, bên sông Đáy.
1 - 9
- Pháp tiến công thành Sơn Tây lần thứ nhất. Cuộc chiến diễn ra trong 3 ngày, quân Pháp thất bại phải rút về Hà Nội. Tướng Buê sau đó xin từ chức và chuồn về nước ngày 22 - 9.
Tháng 9
- Dương Hữu Quang tức Tự So, người huyện Thanh Oai, nguyên tri huyện Thọ Xương, khởi nghĩa chống Pháp. Quang chiêu tập được năm ngàn nghĩa quân lập Tín Nghĩa Hội hoạt động trong vùng Hà Nội - Ứng Hòa - Thanh Oai.
25 - 10
- Đô đốc hải quân Pháp là Cuốcbê (Courbet) sang thay Tổng chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ đến Hà Nội. Ra lệnh thiết quân luật ở Hà Nội.
13 - 12
- Pháp tấn công thành Sơn Tây lần thứ hai. Cuốcbê trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân. Ngày 13 tấn công Phùng, ngày 15 đánh chiếm lũy Phù Sa, ngày 16 chiếm Sơn Tây. Quân Pháp chết 83 tên chôn trên đồi Phú Nhi, bị thương 319 tên.
27 - 12
- Nghĩa quân đốt kho đạn giặc ở Đồn Thủy.
Cuối năm 1883
- Triều đình Huế do Nguyễn Trọng Hợp làm Khâm sai kinh lược Bắc Kỳ. Nha kinh lược đặt ở phố Hàng Gai (nay là số nhà 79).
- Giặc Pháp phá chùa Tàu lấy đất xây tòa đốc lý (nay là trụ sở UBND thành phố).
- Quận Cồ Phùng Văn Minh khởi nghĩa chống Pháp ở vùng Sơn Tây - Ba Vì. Phùng Văn Minh là người sinh ở làng Linh Chiểu (nay là xã Sen Chiểu, huyện Phúc Thọ) một nông dân yêu nước, sau gần 6 năm hoạt động đã hy sinh trong một trận đánh ở làng Vật Lại (nay thuộc Ba Vì) ngày 23 - 6 - 1889.
- Nghĩa quân của Tự So Dương Hữu Quang cướp voi của tuần phủ Ninh Bình gửi tặng Công sứ Pháp Hà Nội, ở trạm Hà Mai (nay là làng Hoàng Mai, quận Hoàng Mai).
1884 - Giáp Thân
Tháng 1
- Củng cố 42 trượng (khoảng 1.500m) đê sông ở xã Đặng Xá (Gia Lâm)
28 - 4
- Thành lập hội đồng cai quản Bắc Kỳ. Hội đồng do trung tướng Milô (Millot) làm chủ tịch; trong phiên họp đầu tiên, đã quyết định giữ vững Hà Nội để làm bàn đạp bình định các nơi khác.
12 - 5
- Thành lập hai trung đoàn lính ngụy đầu tiên, mở đầu chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”.
6 - 6
- Triều đình Huế buộc phải ký Hiệp ước Pa-tơ-nôt (Patenotre). Trong đó có điều khoản: Công sứ Pháp được quyền thu thuế ở Bắc Kỳ. Chỗ nào xét cần phải đóng quân để thi hành quyền bảo hộ cũng có thể được.
Tháng 6
- Pháp trao trả kho đúc tiền ở Hà Nội.
- Hoàn thành bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”. Sách khởi thảo từ năm 1855.
15 - 12
- Xuất bản tờ báo chữ Pháp đầu tiên ở Hà Nội: L’avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ). Báo ra mỗi tháng 3 số, do Cudanh (Jules Cousin) làm quản lý.
Trong năm 1884
- Phá chùa Báo Thiên lấy đất xây nhà thờ Thánh Giôdep (nay là Nhà thờ Lớn)
- Thành lập công ty xây dựng Yolle
- Xe tay người kéo đầu tiên xuất hiện ở Hà Nội. Đó là xe của cố đạo Puyginiê. Sau đó, một chủ buôn người Pháp nhập 6 chiếc xe tay từ Hồng Kông, mở hãng cho thuê xe ở Hà Nội.
- Bá hộ Kim xây Tháp Rùa trên nền đình Tả Vọng cũ ở trên đảo Rùa, hồ Gươm, với âm mưu đưa hài cốt bố mẹ ra đặt tại đó, nhưng nhân dân biết đã đào xương quẳng xuống hồ.
1885 - Ất Dậu
12 - 3
- Thành lập trường Pháp - Việt đầu tiên dạy bằng 3 ngữ: Hán, Quốc ngữ, Pháp.
11 - 6
- Thống tướng Đờ Cuốcxy (De Courcy), tổng tư lệnh lực lượng viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ phân chia 13 tỉnh ra làm 2 quân khu. Trong đó, quân khu miền Tây gồm 7 tỉnh: Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Yên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Nam Định, Ninh Bình. Quân khu có 1 sư đoàn do trung tướng Brie đờ Lin (Brière de l’Isle) chỉ huy, ban tham mưu đóng ở Hà Nội.
Tháng 9
- Cháy lớn thiêu 200 nóc nhà ở phố Hàng Đồng.
- Nghĩa quân Bãi Sậy vượt sông Hồng đánh vào các huyện thành Thanh Trì, Thanh Oai, Phú Xuyên.
- Trong năm: Thành lập Hội đồng tư vấn thành phố do tên Đốc lý Pháp đứng đầu. Hội đồng có 16 người: 12 người Pháp, 4 người Việt.
- Thành lập Công ty xây dựng Savari và Xavơlông (Chavary et Savelon).
- Xuất hiện trên đường phố xe vận tải lớn do 3 con lừa kéo, chuyên chở hàng quân dụng và hành chính của Pháp từ bờ sông Hồng vào trong phố.
1886 - Bính Tuất
27 - 1
- Mở trường thông ngôn đầu tiên ở phố Hàng Chiếu. Sau chuyển lên chỗ trường Yên Phụ (phố Phó Đức Chính ngày nay)
20 - 3
- 70 ngôi nhà ở Hàng Mắm bị cháy.
8 - 4
- Pôn Be (Paul Bert) được chính phủ Pháp cử sang nhận chức Thống sứ sứ Trung - Bắc Kỳ đến Hà Nội. Đặt phủ Toàn quyền và Sở Kiểm soát tài chính. Pôn Be chết vì bệnh dịch tả ở Hà Nội ngày 11 - 11 - 1886.
Tháng 4
- Đốc lý Hale (Halais) bắt đầu kiến thiết Hà Nội, mở đường Tràng Tiền - Hàng Khay.
- Xây Nha Kinh lược Bắc Kỳ ở khu vực Trường Thi cho bọn Nguyễn Hữu Độ, Hoàng Cao Khải, thay mặt triều đình Huế đóng. Đến tháng 2 năm 1888 mới xây xong.
3 - 6
- Thành lập phòng thương mại Hà Nội.
16 - 6
- 95 ngôi nhà ở Hàng Vải và Hàng Lược bị cháy.
Tháng 8
- Làm xong bản khắc ván bộ sách “Việt Sử cương mục” giao cho Hà Nội in 100 bản.
18 - 10
- Kinh lược Bắc Kỳ theo lệnh Pháp ra nghị định bắt buộc dân nội đinh từ 18 đến 60 tuổi mỗi năm phải đi lao dịch không công 48 ngày.
25 - 12
- Khánh thành nhà thờ Thánh Giôdép (nay là Nhà thờ Lớn). Xây dựng từ đầu năm 1884.
Tháng 12
- Nha kinh lược Bắc Kỳ tiến hành khắc in bộ sách “Đại Nam hội điển”.
1887 - Đinh Hợi
Tháng hai
- Trao cho tổng đốc Hà Nội kiêm nhiệm quản lý tỉnh Hưng Yên và gọi là tổng đốc Hà - Yên (hoặc Hà An). Tỉnh Ninh Bình giao cho tổng đốc tỉnh Nam Định kiêm quản và gọi là tổng đốc Định - Ninh.
14 - 4
- Thực dân Pháp xử tử Nguyễn Cao, một lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp ở Vườn Dừa (nay là quảng trường Đông Kinh nghĩa thục). Nguyễn Cao sinh năm 1837 ở huyện Quế Dương (nay là Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) đỗ cử nhân, từng làm tri huyện Yên Dũng, tri phủ Lạng Giang, án sát Nam Định, bố chánh sứ Thái Nguyên. Quân Pháp chiếm Hà Nội, ông chỉ huy nghĩa đoàn 8 tỉnh chống địch. Cuối năm 1886, lui về hoạt động ở vùng Mỹ Đức, Ứng Hòa và bị sa vào tay giặc, ông dùng tay chọc thủng bụng moi ruột, nhịn ăn, cắn lưỡi tự vẫn, nhưng giặc Pháp vẫn khiêng ông ra hành quyết.
24 - 5
- Nghĩa quân Bãi Sậy đánh huyện sở Thanh Trì. Toán quân do Lãnh Điển chỉ huy dùng thuyền vượt sông Hồng, từ đất Hưng Yên tấn công sang đồn lính Pháp và huyện sở Thanh Trì đóng ở làng Đông Phù (nay thuộc xã Đông Mỹ) đốt huyện, thả tù, tri huyện phải bỏ chạy.
Tháng 11
- Nha Kinh Lược in xong đợt đầu 25 bản bộ sách “Việt sử cương mục” trao cho nội các bảo quản.
Trong năm
- Thành lập Phủ toàn quyền cai trị toàn Đông Dương ở Hà Nội. Côngtăng (Constant) làm toàn quyền đầu tiên.
- Mở hai trường nữ sinh đầu tiên ở Hà Nội.
- Tổ chức Hội chợ Hà Nội lần thứ nhất.
1888 - Mậu Tí
4 - 1
- Cháy ở phố Hàng Bông, Nhà Chung, thiêu hủy hàng trăm nóc nhà.
25 - 2
- Cháy lớn ở phố Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân) và phố Hàng Tre.
22 - 3
- Khánh thành đường dây điện báo Sài Gòn - Hà Nội. Khởi công làm từ năm 1884.
15 - 4
- Pháp phân chia Bắc Kỳ thành 15 quân khu. Hà Nội là quân khu 5 do đại tá Pecnô (Pernot) chỉ huy. Sơn Tây là quân khu 4.
18 - 4
- Thống sứ Bắc Kỳ ra nghị định tách phủ Đoan Hùng ra khỏi tỉnh Sơn Tây, sáp nhập vào tỉnh Tuyên Quang. Tỉnh Sơn Tây còn 4 phủ, 15 huyện: Phủ Quốc Oai (huyện Yên Sơn, Thạch Thất). Phủ Quảng Oai (huyện Tiên Phong, Tùng Thiện, Bất Bạt, Phúc Thọ). Phủ Vĩnh Tường (huyện Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương, Yên Lạc, Yên Lãng). Phủ Lâm Thao (huyện Sơn Vi, Thanh Ba, Hạ Hòa, Phù Ninh)
26 - 4
- Nghĩa quân Yên Thế do ĐốcKét chỉ huy tập kích một toán thám báo Pháp tại mỏm đồi Đa Phúc (nay thuộc huyện Sóc Sơn).
26 - 6
- Nghĩa quân Bãi Sậy nã súng lớn vào pháo đài Pháp bên bờ sông Hồng.
19 - 7
- Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Thành phố Hà Nội. Hà Nội xếp loại Thành phố cấp 1
1 - 10
- Đồng Khánh ký hiệp định dâng Hà Nội cho Pháp. Hà Nội chính thức trở thành Thành phố nhượng địa của Pháp. Đứng đầu là một đốc lý do Thống sứ Bắc Kỳ đề cử, Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm, có quyền hành tương đương như công sứ đầu tỉnh.
23 - 12
- Quận Cồ Phùng Văn Minh (1849 - 1889) chiến thắng quân Pháp trong trận càn vào làng Tây Đằng, phủ Quảng Oai. Hai tên trung úy Pháp là Manhanh (Magnin) và Đuxê (Doucet) đã bỏ mạng tại chỗ.
30 - 12
- Thực dân Pháp bắt đầu đánh thuế lợi tức thay cho thuế ruộng đất ở Hà Nội.
1889 - Kỷ Sửu
Tháng 1
- Xuất bản tờ báo Le Colon (Người thực dân) bằng chữ Pháp. Tờ báo là cơ quan của những người lao động Pháp ở Viễn Đông, do tên Marêsan (Maréchal) làm chủ nhiệm.
- Lấp sông Tô Lịch mở các phố mới. Nay là các phố Nguyễn Văn Siêu, Ngõ Gạch, Hàng Lược.
- Dồn chợ Bạch Mã và chợ Cầu Đông vào khu vực mới sau thành chợ Đồng Xuân (khánh thành năm 1890).
23 - 6
- Quận Cồ Phùng Văn Minh hi sinh trong trận chiến đấu với quân Pháp ở làng Vật Lại (nay thuộc huyện Ba Vì).
3 - 9
- Mở vườn Bách Thảo Hà Nội. Trên phần đầu của các thảo Khán Xuân, Xuân Biểu, Ngọc Hà, Hữu Tiệp.
Tháng 10
- Nghĩa quân Đốc Ngữ đánh giáp lá cà với giặc Pháp, diệt 1 toán địch càn quét ở gần Cố Đô (Quảng Oai - nay thuộc huyện Ba Vì) Đốc Ngữ tên thật là Nguyễn Đức Ngữ người làng Xuân Vân (huyện Phúc Thọ) làm đốc binh dưới quyền chỉ huy của Hoàng Tá Viêm, sau tách ra lãnh đạo nghĩa quân đánh Pháp hoạt động mạnh ở vùng sông Đà, sau bị giặc mưu sát vào ngày 7 - 8 - 1892.
7 - 11
- Giặc Pháp xử chém Trần Văn (tức Đội Văn) một thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy ở vườn hoa Pôn Be (sau là vườn hoa Chí Linh từ 10-2004 đổi là Vườn hoa Lý Thái Tổ) Đội Văn bị giặc Pháp bắt được tại Yên Thế từ tháng 10 - 1889.
1890 - Canh Dần
5 - 4
- Pháp thành lập quân khu Sơn Tây. Gồm 3 tiểu quân khu: Sơn Tây, Việt Trì, Hà Nội do lữ đoàn I đóng ở Sơn Tây phụ trách.
19 - 5
- Nghĩa quân Đốc Ngữ đánh trận Cẩm Đái (nay thuộc Ba Vì) giết chết tên giám binh Mulanh (Moulin).
20 - 10
- Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập đạo Vĩnh Yên và tỉnh Hà Nam. Đạo Vĩnh Yên gồm 5 huyện Bạch Hạc, Lập Thạnh, Tam Dương, Yên Lạc, Yên Lãng của phủ Vĩnh Tường (Sơn Tây) và huyện Bình Xuyên (Thái Nguyên). Đạo lị đặt tại Hương Canh huyện Tam Dương. Tỉnh Hà Nam bao gồm phần đất của phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nội.
Tháng 10
- Nghĩa quân Đốc Ngữ phá nhà tù Sơn Tây, cứu 174 đồng chí bị Pháp giam giữ, bao vây đồn Ngọc Thạp (huyện Bất Bạt) 5 ngày.
1891 - Tân Mão
10 - 2
- Thành lập phòng canh nông Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ ở Hà Nội.
12 - 4
- Bãi bỏ đạo Vĩnh Yên, chuyển đạo này trả cho tỉnh Sơn Tây.
23 - 5
- Giặc Pháp xử tử Đốc Cáp, một thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy ở vườn hoa Pôn Be .
6 - 8
- Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập 4 đạo quân binh ở Bắc Kỳ thay thế cho các quân khu.
21 - 8
- Pháp xử tử 4 nghĩa quân Bãi Sậy, trong đó có Đề Tính ở cạnh chợ phố Hàng Bài.
22 - 12
- Xây nhà thương Lanetxang (Lanessan) ở khu vực Đồn Thủy. Từ tháng 8 - 1894, nhà thương này bắt đầu nhận bệnh nhân (nay là bệnh viện quân y 108)
Trong năm
- Mở nhà máy diêm
- Mở nhà máy sợi - ươm tơ. Xây dựng từ cuối năm 1890 đến tháng 12 - 1984 mới xong hẳn ở cạnh chợ Đồng Xuân, với hơn 1 vạn cọc sợi.
1892 - Nhâm Thìn
- Pháp phá chùa Báo Ân lấy đất xây dựng Sở Bưu Điện và phủ Thống sứ.
1 - 4
- Thành lập hội Tứ Tri Bắc Kỳ, phát huy ảnh hưởng văn hóa của Pháp, trụ sở đặt tại Hà Nội.
1893 - Quý Tị
- Xuất bản tờ “Đại Nam đồng văn nhật báo” bằng chữ Hán. Do Sítnâyđe (Schneider) sáng lập.
- Hà Nội bắt đầu có nước máy, chủ yếu phục vụ bọn thống trị còn 6 vạn dân thành phố vẫn dùng nước sông Hồng đánh phèn.
23 - 7
- Hội đồng thành phố ra quyết nghị phá thành cổ và cho gọi đấu thầu.
5 - 10
- Xử tử Clôxat (Henri Clausade), người Pháp phản chiến chạy theo nghĩa quân Đốc Tít, dưới chân Cột Cờ.
1894 - Giáp Ngọ
13 - 1
- Pháp thiết lập Tòa Thượng thẩm Hà Nội. Đến tháng 8-1898 lại bãi bỏ.
Tháng 2
- Bắt đầu phá thành cổ Hà Nội, “me tây” Tư Hồng nhận đấu thầu lấy gạch. Việc phá thành đến 1897 mới xong.
31 - 3
- Xuất bản tờ báo Le chat d’or Tonkinois (Con mèo vàng Bắc Kỳ) bằng chữ Pháp.
- Xây dựng nhà máy bia Ômen (Homel).
- Xây dựng nhà máy nước và đài nước Hàng Đậu.
1895 - Ất Mùi
- Xây ga xe lửa Hà Nội (ga Hàng Cỏ)
Tháng 1
- Hà Nội bắt đầu có điện đèn
10 - 10
- Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Bắc Giang. Bao gồm các phủ Lạng Giang, Đa Phúc, các huyện Kim Anh, Yên Dũng, Phượng Nhỡn, Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Thế, của tỉnh Bắc Ninh. Tỉnh bị đặt tại Phủ Lạng Thương.
1896 - Bính Thân
8 - 1
- Toàn quyền Đông Dương ra nghị định trả lại tỉnh Bắc Ninh: Phủ Đa Phúc và huyện Kim Anh của tỉnh Bắc Giang mới.
15 - 9
- Lãnh Túc và nghĩa quân Yên Thế đánh phá đồn điền Gôbe, sau đó đóng chốt tại huyện Kim Anh.
26 - 11
- Ban bố sắc lệnh của tổng thống Pháp ngày 15 - 9 - 1896, thành lập Hội đồng đề hình để xét xử những người Việt chống Pháp ở Bắc và Trung Kỳ.
26 - 12
- Chuyển tỉnh lỵ tỉnh Hà Nội về làng Cầu Đơ, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa (nay là quận Hà Đông)
Trong năm
- Xây nhà thương làm phúc ở phố Phủ Doãn. Từ tháng 4 - 1904, nhà thương này được mở rộng và chuyển thành nhà thương bảo hộ (nay là bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức)
- Dựng tượng đồng vua Lê bên Hồ Gươm.
- Dự toán xây nhà lao Trung ương tức Hỏa Lò Hà Nội
1897 - Đinh Dậu
13 - 2
- Pôn Đume (Paul Doumer) chính thức nhận chức Toàn quyền Đông Dương.
8 - 6
- Theo yêu cầu của Toàn quyền Đume, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh bãi bỏ Văn phòng Tổng thư ký Phủ toàn quyền tại Bắc Kỳ để củng cố chức năng cho Tòa Thống sứ Bắc Kỳ.
26 - 7
- Thành Thái ra dụ bãi bỏ Kinh lược Bắc Kỳ. Quyền cai trị từ đây do tên Thống sứ Pháp nắm toàn bộ, Toàn quyền Đume ra nghị định ngày 13 - 8 chuẩn y đạo dụ ngày 26 - 7 của Thành Thái.
30 - 12
- Đấu xảo các kỹ nghệ Việt Nam.
Trong năm
- Mở trường dạy chữ Pháp cho bọn quan lại và tay sai.
- Đuổi dân làng Phụ Khánh chuyên làm các loại hỏa lò bằng đất nung để xây nhà tù (Maison Centrale). Sau quen gọi là Hỏa Lò Hà Nội.
- Lấy thêm đất làng Ngọc Hà, Khánh Xuân mở rộng vườn Bách Thảo.
- Phủ toàn quyền lập Ty Rượu - Muối.
- Dân số Hà Nội lúc này theo Toàn quyền Đume là gần 3 vạn người.
1898 - Mậu Tuất
1 - 7
- Tập san kinh tế Đông Dương (Bulletin Économique de l’Indochine - BEI), cơ quan của Ban chỉ đạo canh nông và thương mại toàn Đông Dương ra số đầu tiên, xuất bản hàng tháng.
8 - 8
- Thành lập Tòa Thượng thẩm Hà Nội.
10 - 9
- Khai mạc khóa họp thứ hai của Hội đồng tối cao Đông Dương tại Hà Nội. Phiên này đã quyết định xây dựng các tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Nam Định - Vinh, Đà Nẵng - Huế - Quảng Trị, Sài Gòn - Khánh Hòa - Lâm Viên, Mỹ Tho - Vĩnh Long - Cần Thơ, Lào Cai - Vân Nam.
Tháng 9
Khởi công làm cầu bắc qua sông Hồng cầu khánh thành tháng 2 - 1902 và mang tên Long Biên, P. Dumer
4 - 12
- Khai mạc Hội chợ Hà Nội lần thứ hai.
5 - 12
- Quân Cần vương theo Hội Thượng chí của nhà tứ Vương Quốc chính làm bạo động đánh chiếm đồn Ngọc Hà và nhà đại tá Cátxiê (Cassier) những người cầm đầu gồm Đỗ Đắc Kiên (người Tây Tựu), Hoa Văn Trứ tức Nguyễn Hanh (người Cổ Nhuế), Nguyễn Quang Hoan, Đinh Công Bạch (Thọ Xương) Trương Quang Xán (Hàng Đào), Nguyễn Văn Khuyến (Chèm), Nguyễn Trang (sư chùa Hạ Mỗ), Lý Điểm (Bồng Lai)
15 - 12
- Thành lập phái đoàn khảo cổ thường trực tại Đông Dương, tiền thân của Trường Viễn Đông bác cổ thành lập ngày 20 - 1 - 1900 (nay là Thư viện khoa học trung ương, phố Lý Thường Kiệt).
30 - 12
- Tổng thống Pháp ra sắc lệnh về chế độ báo chí ở Đông Dương. Trong đó quy định chủ nhiệm, chủ bút phải là người Pháp hoặc có Pháp tịch.
Trong năm
- Mở trường kỹ nghệ đầu tiên. Địa điểm này ở số 2 phố Quang Trung. Có 3 ngành học, học trong 3 năm. Kỹ nghệ (đồ sắt, gỗ), nông nghiệp (canh nông, làm vườn, chăn tằm), mỹ nghệ (sơn, đúc đồng).
- Mở nhà máy rượu Hà Nội.
- Xây trường dòng đào tạo giáo sĩ mang tên Puyginiê (Puginier) nay là địa điểm trường PTTH Lý Thường Kiệt.
- Phủ toàn quyền lập Ty thuốc phiện.
1899 - Kỷ Hợi
5 - 7
- Thành lập Sở địa lý Đông Dương.
14 - 7
- Thành lập khu ngoại thành Hà Nội (Zône suburbaine autour de la ville de Hà Nội) gần một số xã của hai huyện Từ Liêm, Thanh Trì. Thay tên các phường thôn.
29 - 12
- Thành lập tỉnh Vĩnh Yên gồm phủ Vĩnh Tường với 5 huyện của tỉnh Sơn Tây và huyện Bình Xuyên của tỉnh Thái Nguyên cũ. Trước đó, 10 - 1890 đã lập đạo Vĩnh Yên với địa giới như trên, đến tháng 4 - 1891 lại bãi bỏ, trả Sơn Tây, nay lập lại thành tỉnh.
Trong năm
- Thành lập Sở xe điện ở Thụy Khuê. Đặt các đường xe điện.
+ Bờ Hồ - Bạch Mai dài 3,5 hm
+ Bờ Hồ - Bưởi dài 5,4 km
+ Bờ Hồ - Thái Hà ấp dài 4,1 km
- Chuyển trường đua ngựa từ trước ga Hàng Cỏ lên làng Vĩnh Phúc (nay thuộc quận Ba Đình), để lấy đất xây nhà Đấu Xảo.
1900 - Canh Tị
Mồng mười tháng chín
- Giặc Pháp xử tử Đỗ Đắc Kiên, một tướng lĩnh nghĩa quân chống Pháp, ở chợ Nhổn (Từ Liêm)
1 - 10
- Bắt đầu khai thác đường sắt Gia Lâm - Phủ Lạng Thương dài 40 km.
Trong năm
- Mở trường nữ trung học Thánh Mari (Saint Mari) cho người Pháp và lai Pháp.
Năm 1901
6 - 2
- Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đầu tiên về xếp hạng các di tích lịch sử ở Đông Dương do Trường Viễn Đông bác cổ phụ trách.
10 - 8
- Thành lập Công ty đường sắt Đông Dương - Vân Nam
30 - 9
- Thành lập Ủy ban cổ vật Bắc Kỳ
6 - 10
- Thành lập tỉnh Phủ Lỗ, gồm: huyện Yên Lãng (của tỉnh Vĩnh Yên), phủ Đa Phúc, huyện Kim Anh và 1 phần huyện Đông Khê (thuộc phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Phù Lỗ là tiền thân của tỉnh Phúc Yên thành lập ngày 18 - 2 - 1904.
Trong năm
- Xây kho bạc, nhà kèn ở vườn Pôn Be.
- Mở các phố Đồng Khánh (nay là Hàng Bài), Gia Long (nay là đoạn đầu phố Bà Triệu).
- Xây Nhà hát Lớn ở cửa ô Tây Long cũ.
- Mở trường Y sĩ ở Hà Nội.
Năm 1902
8 - 4
- Đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn thông xe, dài 163km
3 - 5
- Đổi tên tỉnh Hà Nội thành tỉnh Cầu Đơ.
16 - 6
- Khai thác đoạn đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, dài 99km
1 - 7
- Đặt tỉnh, lỵ tỉnh Phù Lỗ ở xã Tiên Dược Thượng, huyện Đa Phúc (nay là xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn).
15 - 11
- Khánh thành khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt - Xô), mở đầu xảo Hà Nội lần thứ nhất, kéo dài tới 30 - 6 - 1903.
20 - 12
- Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thiết lập chế độ độc quyền nấu cốt và bán rượu trên toàn cõi Đông Dương, cho thành lập các đại lý bán rượu. Hãng Phôngten (Fontaine) độc quyền sản xuất và kinh doanh rượu.
Trong năm
- Xây nhà máy đèn Bờ Hồ (nay là trụ sở công ty điện lực Hà Nội).
- Khánh thành phần đường sắt của Cầu Đume qua sông Hồng.
- Thành lập nhà bảo tàng nông - công - thương nghiệp.
- Mở trường thuốc đầu tiên ở Thái Hà ấp.
Năm 1903
9 - 1
- Bắt đầu khai thác đường xe lửa Hà Nội - Nam Định - Ninh Bình dài 114 km.
10 - 3
- Khai thác đoạn đường sắt Hà Nội - Việt Trì dài 67 km.
10 - 4
- Đổi tên huyện Đông Khê thành huyện Đông Anh.
5 - 5
- Thiết lập mạng lưới điện thoại ở Hà Nội.
20 - 6
- Lập trường Hậu bổ ở Hà Nội. Trường đào tạo tri huyện, tri phủ, huấn đạo, giáo thụ. Khóa học là 3 năm.
10 - 12
- Chuyển tỉnh lỵ Phù Lỗ từ xã Tiên Dược Thượng (Đa Phúc) về xã Đạm Xuyên (Yên Lãng nay là xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội).
Năm 1904
18 - 2
Thành lập tỉnh Phúc Yên trên địa bàn tỉnh Phù Lỗ cũ.
31 - 3
- Mở đường xe điện nối từ Thái Hà ấp đến thị xã Cầu Đỏ (Hà Đông).
1 - 7
- Chia thành phố Hà Nội ra làm 8 hộ.
25 - 10
- Thành lập trường cao đẳng Y khoa Đông Dương.
1 - 11
- Tổng thống Pháp ra sắc lệnh bắt thanh niên ở Bắc và Trung Kỳ tuổi từ 22 đến 28, phải đi lính thuộc địa, thời hạn 5 năm.
8 - 11
- Pháp thi hành chính sách độc quyền sản xuất, khai thác và bán muối trên toàn cõi Đông Dương.
23 - 11
- Đặt trạm quan sát khí tượng ở Láng.
6 - 12
- Đổi tên tỉnh Cầu Đỏ thành tỉnh Hà Đông, tỉnh lỵ là thị xã Hà Đông.
20 - 12
- Đường xe lửa Hà Nội - Vinh đã thông xe đến Hàm Rồng (Thanh Hóa).
Trong năm
- Xây dựng nhà máy nước Yên Phụ (đến năm 1906 mới xong).
Năm 1905
17 - 3
- Hoàn thành xây dựng đường xe lửa Hà Nội - Bến Thủy dài 326km.
31 - 10
- Thành lập thị xã Phúc Yên.
14 - 11
- Thành lập nha học chính Đông Pháp ở Hà Nội.
Trong năm
- Xuất bản tờ “Đại Việt quan báo”, báo chính thức của Nhà nước bảo hộ ở Bắc Kỳ. Báo vừa chữ Hán vừa chữ Quốc ngữ. Sau đổi là “Đại Việt tân báo”, rồi “Đại Việt công báo”.
- Làm đường xe điện Bờ Hồ - Cầu Giấy.
Năm 1906
1 - 2
- Hoàn thành đường xe lửa Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai, dài 390 km (xây từ 1899).
19 - 4
- Bắt đầu khai thác mạng lưới điện thoại liên tỉnh Hà Nội - Hải Phòng.
Trong năm
- Đặt Hội đồng cải lương học vụ ở Đông Pháp gồm ba bậc học: Ấu học, thi tuyển sinh. Tiểu học, thi khóa sinh. Trung học, thi hương.
- Dời Tòa án từ phố Hàng Tre về Cung Công lý ở phố Carô (Carreau). Nay là Tòa án tối cao ở 48 phố Lý Thường Kiệt.
- Xuất hiện bài “Đề tỉnh quốc dân ca” của Sào Nam Tử. Còn gọi là “Bài ca Á tế á”. Kêu gọi noi gương Nhật đấu tranh giành độc lập, tự do.
Năm 1907
Tháng 3
- Mở trường Đông Kinh nghĩa thục ở số 4 Hàng Đào (nay là nhà số 10). Trường do một số nhà nho yêu nước thành lập. Lương Văn Can (người Nhị Khê, huyện Thường Tín) làm hiệu trưởng, Nguyễn Quyền làm giám học với sự tham gia của Hoàng Tăng Bí, Đào Nguyên Phổ, Vũ Hoành, Phan Tuấn Phong, Đặng Kinh Phong, Lê Đại… Trường soạn sách, ra báo “Đăng Cổ Tùng báo”, truyền bá tư tưởng mới, hô hào cải cách, đòa tạo những người có ích cho đất nước. Một số bài tiêu biểu như: Chiêu hồn nước, Vì sao dân đói, Cáo hủ lậu văn, Hú hồn, Thanh niên, Khuyên phụ nữ, Dạy con… Hoạt động tới tháng 12 thì bị giặc Pháp bắt đóng cửa trường. Đăng Cổ Tùng báo bị đình bản ngày 11-11-1907.
- Cụ Phan Châu Trinh ra Bắc, diễn thuyết ở trường Đông Kinh nghĩa thục.
Tháng 10
- Lập hội đồng dân biểu Bắc Kỳ. Mỗi tỉnh được 1 hoặc 2 nghị viên do Hội đồng hàng tỉnh và kỳ dịch bầu ra.
1 - 11
- Mở “Đông Dương cao học cục” ở khu vực Đồn Thủy, trường Đại học đầu tiên tào tạo nhân viên chính quyền cho Pháp, gồm 3 ngành: Văn chương, Luật, Cách Trí (nay là trường Đại học Dược ở phố Lê Thánh Tông).
Trong năm
- Khai trương nhà in Viễn Đông (IDEO) ở phố Tràng Tiền.
- Dựng đình “Ngự triều di quy” trên nền thiết triều cũ của An Dương Vương ở thành Cổ Loa.
Năm 1908
1 - 1
- Hoàn thành xây dựng đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng dài 167km.
27 - 6
- Vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội. Nghĩa quân Đề Thám do Đội Hổ, chánh tỉnh chỉ huy, phối hợp với một số quân nhân thuộc công binh pháo thủ số 5 làm nội ứng như Đặng Đình Nhân (người Bạch Mai), Nguyễn Chí Bình, Nguyễn Văn Cốc tức Dương Bê (người Chàng Sơn), Cai Nga tức Nguyễn Tắc A và một số phần tử yêu nước khác như Lang Seo, Nguyễn Văn Phúc (51 Hàng Buồm), Đỗ Đảm tức Đỗ Hà Nam, Xá Tuân… tham gia. Trụ sở liên lạc và tổ chức lao động là quán cơm-chứa trọ của vợ chồng Nhiêu Sáu (Nguyễn Tĩnh - người Tương Mai) mở ở số 20 phố Cửa Nam.
- 8 giờ tối, 80 lính Pháp ở trung đoàn bộ binh số 9 và 125 tên sĩ quan và binh lính Pháp ở trung đoàn pháo binh số 4 đóng tại Đồn Thủy đã bị trúng độc bất tỉnh. Cuộc bạo động đã được ước hẹn. Sau khi có 3 phát đại bác báo hiệu, nghĩa quân Yên Thế sẽ từ ngoài tiến đánh thành phố phối hợp. Nhưng cuộc khởi nghĩa đã bị lộ. Tên Trương, pháo thủ công binh trung đoàn 9, theo đạo Gia tô đã xưng tội với Cha Ân (Dronet) ở Nhà thờ Lớn. Gần hết những người cầm đầu cuộc bạo động đã sa vào tay giặc. Nghĩa quân Yên Thế chờ không thấy hiệu lệnh, phải rút lui.
8 - 7
- Hội đồng đề hình mở phiên tòa xử vụ “Hà Thành đầu độc”. Kết án xử tử 13 người, khổ sai chung thân 4 người. Ba ông đội Nhân, đội Bình, đội Cốc bị xử chém ngay tại bãi giáo (gần cột cờ). Tháng 10, xử thêm là 13 người bị chém. Bà Sáu Tĩnh (Nguyễn Thị Ba) bị chúng tra tấn dã man, bỏ vào thùng xi măng cắm đinh lăn trên sân làm rách nát da thịt, bà vẫn không khai, mấy tháng sau bà chết. Cũng bị tra tấn đến chết còn có bà đồng Đa, người Phúc Yên.
Năm 1909
15 - 3
- Quân Pháp tấn công nghĩa quân Yên Thế ở núi Hàm Lợn (nay thuộc huyện Sóc
Sơn, Hà Nội)
Đầu tháng 5
- Bãi công của 200 công nhân, nhân viên nhà hàng Gôđa. Cửa hàng bách hóa lớn nhất của hãng Liên hiệp thương mại Đông Dương và Phi Châu (L’UCIA) (sau là cửa hàng Bách Hóa tổng hợp, nay là Trung tâm thương mại Tràng Tiền).
- Thành lập Công ty vô danh ngói Đông Dương. Công ty có nhà máy ở Hà Nội, Đáp Cầu.
24 - 6
- Nghĩa quân Đề Thám hoạt động ở vùng Phủ Lỗ.
5 - 7
- Đội Huân, tướng của Đề Thám, bắt cóc tên nhà thầu Pháp Voadanh (Voisin) ở làng Vệ Linh (Sóc Sơn) Pháp phải huy động quân đánh cứu, ngày 10-7, 2 đại đội bộ binh do thiếu tá Sốpphơlê chỉ huy, từ Phúc Yên đã hành quân tiến đánh, buộc nghĩa quân phải thả Voadanh ở Kim Anh ngày 25-7.
13 - 8
- Pháp tiến công quân Đề Thám ở làng Bạch Đa và Thượng Yên. Nghĩa quân đã giết chết tên trung úy Teradơ (Terrary).
28 - 8
- Toàn quyền Đông Dương trao cho Tòa án thành phố Hà Nội xét xử người Việt Nam phạm luật vi cảnh.
Trong năm
- Mở trường Trung học bảo hộ ở cạnh hồ Tây. Sau quen gọi là Trường Bưởi (nay là Trường trung học phổ thông Chu Văn An) khóa học 5 năm, năm thứ 4 mới đi vào chuyên khoa: Sư phạm, hành chính, kỹ thuật, thương mại.
Năm 1911
- Thành lập Công ty vận tải ô tô Đông Dương (STAI), trụ sở đặt tại Hà Nội.
- Khánh thành Nhà hát Lớn Hà Nội.
1 - 8
- Đặt trạm điện tín tại Hà Nội.
Năm 1912
- Thành lập công ty thuộc da Đông Dương ở Thụy Khuê.
18 - 4
- Đổi tên trường Hậu bổ thành trường đào tạo quan lại (École de mandarin).
6 - 5
- Nguyễn Huy Tưởng - nhà văn hiện đại - sinh ở làng Dục Tú (huyện Đông Anh).
3 - 8
- Bắt đầu đánh thuế môn bài với thương nhân người Việt.
Tháng 10
- Khánh thành Sở vô tuyến điện Bạch Mai (Vọng)
31 - 12
- Pháp ra các sắc lệnh cấm tổ chức hội kín ở Đông Dương và nghiêm trị những người chống lại chính quyền.
Năm 1913
7 - 3
- Tỉnh Phúc Yên chyển thành Đại lý Phúc Yên.
19 - 3
- Thành lập Phòng tư vấn bản xứ Bắc Kỳ (Tiền thân của Viện dân biểu Bắc Kỳ thành lập lập ngày 10 - 4 - 1926).
Tháng 4
- Quyết định bãi bỏ học chữ Hán trong bậc tiểu học và bậc bổ túc ở các trường Pháp-Việt.
26 - 4
- Ném bom khách sạn Hà Nội. Nguyễn Khắc Cần người làng Yên Viên, công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm, chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hội, cùng với Nguyễn Trọng Thường và Phạm Văn Tráng (người Bát Tràng) sau khi đã giết tên chó săn làm Tuần phủ Thái Bình (12-4-1913) đã ném lựu đạn vào khách sạn Hà Nội ở phố Tràng Tiền, giết chết 2 sĩ quan Pháp: Sanpuy (Chapuis) và Mônggrăng (Mongrand), một số tên khác bị thương.
15 - 5
- Xuất bản số 1 tờ tuần báo quốc ngữ đầu tiên “Đông Dương tạp chí”. Chủ nhiệm: Xitnâyđe (Schneider). Chủ bút: Nguyễn Văn Vĩnh, vận động cho chủ nghĩa Pháp Việt, bênh vực sự bảo hộ của Pháp. Xuất bản tới 1917.
29 - 5
- Thành lập Viện vệ sinh và vi trùng học Bắc Kỳ ở Hà Nội. Trước đó đã mở phòng xét nghiệm vệ sinh, phòng xét nghiệm vi trùng học và Viện chống chó dại nay thống nhất lại.
29 - 8
- Hội đồng đề hình mở phiên tòa đàn áp phong trào cách mạng. Danh sách bị cáo gồm 97 người. Ngày 5 - 9 tuyên án xử tử 6 người: Nguyễn Khắc Cần, Phạm Văn Tráng, Phạm Hoàng Khuê, Phạm Hoàng Triết (Khuê và Triết là hai ông đồ người làng Lỗ Khê, Đông Anh), Vũ Ngọc Thụy, Phạm Đệ Quý. Sáng ngày 24-9, án xử chém được thi hành ở cửa nhà Hỏa Lò. Cũng trong phiên tòa ngày 5-9, Lương Văn Can bị kết án 10 năm đầy biệt xứ và đưa đi an trí ở PhnômPênh (Campuchia).
29 - 12
- Mở trường Y dược Đông Dương.
Năm 1914
- Nguyễn Đình Nghị (1883-1947) chuyển chèo cổ thành chèo văn minh biểu diễn ở rạp Sán Nhiên Đài.
10 - 12
- Đổi tên “Khu vực ngoại thành Hà Nội” thành huyện Hoàn Long và từ 1-1-1915
trực thuộc tỉnh Hà Đông.
Năm 1915
Tháng 6
- Thành lập “Thư viện truyền bá”. Cơ quan do Xitnâyđe cầm đầu, đã ra “Đông Dương tạp chí”, nay có thêm tờ “Trung Bắc tân văn”.
- Bãi bỏ thi hương ở Bắc Kỳ.
Năm 1916
13 - 1
- Hội đồng phụ chính Nam Triều kêu gọi thanh niên Việt Nam đi lính cho “mẫu quốc” (Pháp) dẹp tan “Đức tặc”.
20 - 1
- Hoàng Trọng Mậu, một yếu nhân của Việt Nam Quang Phục Hội bị tòa án binh Hà Nội kết án tử hình.
- Thành lập Công ty xe kéo Đông Dương, (Omnium Indochinois), trụ sở đặt tại Hà Nội.
Năm 1917
11 - 7
- Thành lập Sở Hàng không Đông Dương. Mở trường tập luyện ở Tông (Sơn Tây), thiết lập đường băng sân bay, thành lập chi đội Bắc Kỳ, phi đội đầu tiên.
13 - 7
- Xuất bản số đầu tiên “Nam Phong tạp chí”, một công cụ văn hóa nô dịch do Lu-i Mácty (Louis Marty) thanh tra mật thám Đông Dương trực tiếp chỉ đạo. Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trạc làm chủ bút Tạp chí xuất bản bằng chữ quốc ngữ có phụ trương dịch ra chữ Pháp và chữ Hán. Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho phép ra tạp chí Nam Phong ngày 30 - 12 - 1916.
15 - 9
- Mở trường Cao đẳng thú y, khóa học 4 năm.
15 - 10
- Mở các trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương, trường Luật và hành chính.
29 - 11
- Thành lập Sở lưu trữ và Thư viện Đông Dương. Trụ sở tại khu trường thi Hà Nội.
21 - 12
- Ban hành bộ học Luật (Code de l’anstruction publique).
Năm 1918
21 - 3
- Mở trường Cao đẳng Nông Lâm, hệ học 4 năm.
21 - 8
- Mở trường sư phạm Hà Nội.
31 - 12
- Mở trường Lixê (Lycéc) Hà Nội, sáp nhập trường trung học Pôn Be vào đây.
Trong năm
- Triều Nguyễn ban hành luật “Hoàng Việt tân luật” thi hành ở Bắc Kỳ, dựa trên cơ sở Luật Gia Long có sửa đổi chút ít.
- Theo số liệu của tòa Đốc Lý, Hà Nội có 7 vạn dân.
Năm 1919
15 - 1
- Nhà thương đau mắt bắt đầu hoạt động.
5 - 2
- Ra đời Hội Khai trí Tiến Đức của bọn tay sai đắc lực của Pháp. Trụ sở ở góc phố Hàng Trống canh Hồ Gươm. Hội trưởng: Lu-i Mácty (Louis Marty). Hội phó: Hoàng Trọng Phu.
1 - 3
- Tất cả nam giới từ 18 tuổi trở lên phải có thẻ căn cước.
1 - 9
- Mở cửa thư viện Trung ương ở phố Trường Thi.
21 - 12
- Khai giảng khóa đầu trường thể dục Séptô (Septo) (nay ở vào địa điểm cuối phố Tô Hiến Thành).
Trong năm
- Lấp hồ Cổ Ngựa và các ao đầm vùng đền Quán Thánh lập ra các phố mới: Giămbe (Jambert) nay là Nguyễn Trường Tộ. Êmin Nôly (Émille Nolly) nay là Phạm Hồng Thái, Lô-Cốt-Bắc (Blockhaud Nord) nay là Phó Đức Chính, Tiền Quân Thành nay là Nguyễn Khắc Nhu.
- Mở đường bộ hai bên cầu Đume (nay là cầu Long Biên).
- Thành lập Công ty xe xích Đông Dương (Bécxê) ở Hà Nội. Công ty sản xuất xe đạp và phụ tùng ở phố Trường Thi.
- “Nam Phong tạp chí” hô hào học tập truyện Kiều “Truyện Kiều còn, nước Nam còn”.
Năm 1920
25 - 4
- Công diễn vở kịch nói đầu tiên trên sân khấu Hà Nội. Vở “Người bệnh tưởng”, hài kịch của Môlie (Molière), Nguyễn Văn Vĩnh dịch, do Hội Khai Trí Tiền Đức tổ chức nhân dịp kỷ niệm thành lập Hội, cũng trong thời gian này, rạp Quảng Lạc diễn vở kịch “Ai giết người” của Tô Giang.
Tháng 7
- Diễn vở kịch nói “Già kén kẹn hom” ở rạp Quảng Lạc, do Phạm Ngọc Khôi, học sinh trường Bảo hộ viết và dựng.
Trong năm
- Xây Sở Canh nông ở phố Hàng Vôi.
- Mở trường “Nghệ thuật thực dụng” dạy các nghề: đúc đồng, làm đồ gỗ, chạm bạc, làm ren và vẽ hình kỹ nghệ.
- Người làng Đông Ngạc (Từ Liêm) chế được cách đan mũ bằng nan giang.
- Ra đời “Thực nghiệp dân báo”, tờ báo của giai cấp tư sản Việt Nam. Xuất bản tới năm 1933.
Năm 1921
5 - 5
- Thành lập nhóm kịch hội “Uẩn Hoa” do Nguyễn Hữu Kim làm hội trưởng, công diễn vở đầu tiên “Mảnh gương đời” của Trần Tuấn Khải tại rạp Cải lương hí viện ở phố Hàng Bạc.
22 - 10
- Công diễn lần đầu vở “Chén thuốc độc”, kịch bản của Vũ Đình Long, do Bắc Kỳ Công thương đồng nghiệp ái hữu hội tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Vở kịch này khẳng định sự hình thành của kịch nói nước ta.
Trong năm
- Xuất bản tờ “Khai hóa nhật báo”, báo của nhà tư sản Bạch Thái Bưởi chủ trương, ra tới năm 1927.
- Ra đời 2 tờ báo của đạo Gia tô ở Bắc Kỳ “Thánh giáo tuần san” và “Trung hòa nhật báo”.
Năm 1922
- Mở trường Khoa học thực hành và trường Thương mại thực hành.
- Công nhân viên chức các sở thương nghiệp tư nhân đấu tranh đòi nghỉ ngày chủ nhật được ăn lương.
- Bắt đầu xây dựng nhà máy điện Yên Phụ. Đến năm 1930 mới bắt đầu phát điện, công suất 3750 kw.
Năm 1923
5 - 12
- Gánh xiếc Việt Nam của Tạ Duy Hiển ra mắt ở rạp bạt bãi chợ Hàng Da.
31 - 3
- Đại lý Phúc Yên chuyển thành tỉnh Phúc Yên như cũ.
7 - 3 - 1913
- Tỉnh Phúc Yên chuyển thành Đại Lý nay lại trở thành tỉnh.
Trong năm
- Xuất bản “Hữu Thanh tạp chí”, cơ quan của Việt Nam Công thương hiệp hội, Ban biên tập có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tham gia. Xuất bản tới năm 1925.
- Ra đời “Nông Công thương báo” xuất bản tới năm 1933.
- Thành lập “Tiểu ban diễn kịch”. Tiểu ban nằm trong Hội đồng thành phố do Tibô (Thibault) phụ trách nhằm kiểm soát các hoạt động sân khấu ở Hà Nội.
Năm 1924
Tháng 8
- Hội Khai Trí Tiến Đức kỷ niệm Nguyễn Du. Lễ kỷ niệm Nguyễn Du được tổ chức lần đầu do Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, cùng Ban Văn học của Hội chủ trương. Tại lễ kỷ niệm, Phạm Quỳnh đẩy cao luận điểm “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” nhằm làm lạc hướng đấu tranh của thanh niên.
18 - 9
- Thay trường Luật - Hành chính thành trường cao đẳng Đông Dương. Trường có các khoa: Luật - Hành chính, kinh tế xã hội, ngôn ngữ, văn chương Hán - Việt.
Trong năm
- Công nhân Nhà máy Rượu Hà Nội bãi công đòi đổi tên quản đốc người Pháp tàn ác.
- Nguyễn Đình Nghị chuyển chèo văn minh sang chèo cải lương, diễn ra ở Cải lương hí viện (nay là rạp Chuông Vàng) kịch bản có màn, lớp. Đề tài hiện tại, đưa thêm các làn điệu dân ca, múa cách điệu vào chèo cải lương. Dàn nhạc thêm đàn nguyệt, thập, tứ.
- Đốc Lý Hà Nội cấm xe tay bánh sắt không được chạy trong thành phố, chỉ được dùng xe chạy bánh cao su.
Năm 1925
25 - 1
- Việt Nam Nghĩa đoàn, một tổ chức yêu nước của nhóm sinh viên của trường cao đẳng sư phạm ra đời.
18 - 6
- Pháp bắt cóc cụ Phan Bội Châu ở Thượng Hải đưa về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội.
23 - 11
- Toà án Hàng Tre mở phiên toà đại hình xử nhà nho yêu nước Phan Bội Châu, hàng vạn nhân dân Hà Nội kéo tới dự và liên tiếp tổ chức các hoạt động phản đối bản án tù khổ sai chung thân. Trước toà, cụ Phan nói: “Tôi là người Nam, tôi biết yêu nước Nam, tôi muốn đánh thức dân tộc Việt Nam, tôi thấy sinh ra cái tư tưởng phản đối chính trị. Nếu trong tay tôi có binh lực, có lẽ tôi đánh lại chính phủ…” Sau, Pháp phải xét lại bản án, ngày 22 - 12 toàn quyền Varen (Varelle) phải ký lệnh trả tự do cho Phan Bội Châu, nhưng đưa về giam lỏng ở Huế.
26 - 11
- Xiếc Long Tiên của Phạm Xuân Trang ra mắt ở gần Hội chợ Hà Nội.
5 - 12
- Truyền đơn của Hội Phục Việt phát ở Hà Nội đòi thả Phan Bội Châu (tiền thân của Hội Phục Việt là Việt Nam Nghĩa đoàn).
Trong năm
- Khởi công xây nhà băng Đông Dương (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) đến năm 1930 mới xây xong.
- Xây Sở Tài chính, nhà máy sửa chữa xe hơi Avia (Aviat), hãng xe Boalô (Boileau).
- Mở phố Hàng Đẫy (nay là phố Nguyễn Thái Học).
- Báo Đông Pháp ra đời. Báo của đại địa chủ Ngô Văn Phú, xuất bản hàng ngày cho đến năm 1945.
- Xuất bản các cuốn tiểu thuyết: Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật. Sách được giải thưởng của Hội Khai Trí Tiến Đức.
- Thành lập “Nam Đồng thư xã” ở số 9 đường 96 (nay là phố Trúc Bạch, số nhà 129) chủ nhiệm là Phạm Tuấn Tài (1905-1037), xuất bản các sách kích động lòng yêu nước và ra tờ “Thực nghiệp dân báo”, sau trở thành cơ sở của Việt Nam Quốc dân đảng.
- Lưu hành trong thành phố báo “Thanh Niên” của Hội Việt Nam cách mạng xuất bản bí mật.
- Tập thơ yêu nước “Tiếng quốc kêu” của Việt Quyên Nguyễn Phan Lãng (người làng Tây Tựu, Từ Liêm) vừa in ra đã bị cấm lưu hành.
- Khai giảng lớp hội hoạ đầu tiên của trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Trường ở chỗ nguyên là kho của Sở Lục lộ phố Bôvê (nay là phố Yết Kiêu) và do Tácđiơ (Victor Tardieu) làm giám đốc.
Năm 1926
Tháng Ba
- Công nhân nhà máy rượu bãi công chống đánh đập công nhân.
4 - 4
- Tổ chức lễ truy điệu trọng thể cụ Phan Châu Trinh (1872-1926) tại đền Hai Bà Trưng ở phố Đồng Nhân (cụ mất tại Sài Gòn ngày 24 - 3 - 1926). Hàng vạn dân đủ các tầng lớp tới dự lễ đứng kéo dài suốt dọc phố Lò Đúc dưới trời mưa tầm tã và sự đe doạ của cảnh sát, mật thám. Trong buổi lễ có 7 vòng hoa và 60 đôi câu đối. Hôm sau, các cửa hiệu buôn đóng cửa. Học sinh, sinh viên, công chức nhiều người đeo băng đen để tang Phan Châu Trinh.
24 - 7
- Toàn thể công nhân làm ở khách sạn các thuộc địa (Hôtel des colonies) ở góc ngã ba Hàng Trống - Nhà thờ Lớn bãi công đấu tranh đòi tăng lương.
- Số dân Hà Nội được công bố là 91.718 người.
Trong năm
- Xây dựng xong kho lưu trữ Trung ương và bắt đầu hoạt động
- Xây dựng viện Bảo tàng Luyphino (LouisFinot) trực thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ nay là Viện bảo tàng lịch sử.
- Xuất bản “An Nam tạp chí” của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939). Tản Đà người làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt (nay là Ba Vì). Tạp chí ra được 10 tháng thì đóng cửa.
- “Việt Nam thanh niên tạp chí” ra đời. Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu (1900-1976) làm chủ bút. Đây là cơ quan ngôn luận của Hội Sinh viên Việt Nam. Tú Mỡ bắt đầu cho in thơ trào phúng trong mục “Dòng nước ngược”.
- Nhà Tân Dân xuất bản tập tuồng “Nghĩa nặng tình sâu” của Hoàng Tăng Bí (Đông Kinh nghĩa thục).
Cuối năm
- Thành lập chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở làng Dịch Vọng, Từ Liêm.
- Tổ chức đưa thanh niên đi huấn luyện ở nước ngoài. Trên đường đi Quảng Châu dự lớp huấn luyện của Hội, đồng chí Trần Phú đã dừng chân tại khách sạn Nam Lai (95 hàng Lọng - nay là 107 đường Lê Duẩn).
Năm 1927
Tháng Ba
- Thành lập cơ quan Kỳ bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại Hà Nội. Kỳ bộ do Nguyễn Danh Đới (tức Điền Hải) làm Bí thư, bốn uỷ viên trong đó có Nguyễn Công Thu và Mai Lập Đôn.
9 - 5
- Biểu tình của một vạn rưởi người phản đối tờ báo “Dân”. Quần chúng lao động, học sinh, buôn bán nhỏ đã đồng tình chống tờ báo “Dân” vì đã thoá mạ các chiến sĩ yêu nước Việt Nam.
Tháng Sáu
- Thành lập Tình hội Thanh niên cách mạng đồng chí hội Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Danh Đới, bí thư Kỳ bộ kiêm bí thư Tỉnh bộ. Phạm vi hoạt động bao gồm cả các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Hưng Yên và huyện Gia Lâm (Bắc Ninh).
12 - 6
- Chí sĩ Lương Văn Can (1854-1927) từ trần. Vị sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục sau khi bị Pháp đầy đi Campuchia mới trở về, mất tại nhà riêng số 4 phố Hàng Đào. Nhân dân làm lễ tưởng niệm rất đông tại nghĩa trang Hợp Thiện. Pháp đàn áp bắt đi 8 hội viên của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
25 - 12
- Hội nghị thành lập Việt Nam Quốc dân đảng, tổ chức tại Nam Đồng thư xã (129 phố Trúc Bạch ngày nay) Nguyễn Thái Học được bầu làm Đảng trưởng. Đảng xuất bản tờ “Hồn cách mạng” lưu hành bí mật làm cơ quan tuyên truyền. Tháng 12 năm 1929, báo “Hồn cách mạng” mới số 1, in thạch và cũng chỉ ra được hai số.
Trong năm
- Lưu hành bí mật bài “Chiêu hồn nước” của Phạm Tất Đắc, một học sinh trường Bưởi 17 tuổi.
- Xuất bản “Hà Thành ngọ báo”, ra tới năm 1936.
- Ra đời cuốn sách quốc ngữ đầu tiên in bằng giấy bản chế tạo tại làng Bưởi.
Năm 1928
3 - 4
- Thành lập Cục Du lịch và tuyên truyền Đông Dương
20 - 5
- Bãi công của công nhân lò bánh mỳ.
13 - 6
- Bãi công của công nhân sở ươm cây.
Tháng Bảy
- Kỳ thi đầu tiên lấy bằng “Tú tài bản xứ” phần I, tổ chức ở Hà Nội. Kỳ thi cho phần II được mở vào tháng 9.
28 và 29 - 9
- Đại hội lần thứ nhất của Kỳ bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Đại hội đề ra chủ trương đưa hội viên trí thức, học sinh đi “vô sản hoá”. Cơ quan giao thông, tài chính của Hội đặt ở số nhà 20 phố Bisô (Bi-chot) nay là phố Cửa Đông, Nguyễn Phong Sắc được cử làm phụ trách bí thư tỉnh bộ Hà Nội.
6 - 10
- Bãi công của công nhân hãng dệt Tếchxô (TEXO)
22 - 10
- Toàn thể phu kéo xe ở Hà Nội bãi công.
Tháng 10
- Thành lập Nhà hàng Việt Nam, cơ quan kinh tế của Việt Nam Quốc dân đảng ở phố Hàng Bông.
Trong năm
- Công hội đỏ lần lượt được tổ chức ở các nhà máy ở Hà Nội: Nhà máy sửa chữa ô tô Avia, Sở hoả xa, nhà máy Diêm, nhà máy Điện…
- Dân số Hà Nội: 13 vạn người.
Năm 1929
9 - 2
- Ám sát tên Badanh (Bazin), chủ mộ phu đi Tân thế giới, ác khét tiếng, tại cổng nhà riêng ở 110 Phố Huế, do ba đảng viên Quốc dân đảng là Nguyễn Văn Viện, Hoàng Văn Tiếp, cô Thu thi hành.
Cuối tháng 3
- Thành lập chi bộ Cộng sản đầu tiên tại số nhà 5D phố Hàm Long. Chi bộ gồm 7 đảng viên, trong đó có Ngô Gia Tự (tức Ngô Sĩ Quyết), Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung (tức Quốc Anh), Trịnh Đình Cửu, Đỗ Ngọc Du (tức Phiếm Chu), Nguyễn Phong Sắc…
28 - 3
- Đại hội II Kỳ Bộ Bắc Kỳ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tán thành chủ trương thành lập Đảng. Đại hội họp tại đồn điền Kím Đái (Ba Vì).
4 - 5
- Chị em buôn bán chợ Đồng Xuân đấu tranh. Do bọn tay sai chủ chợ gây khó khăn trong việc xếp chỗ ngồi, chị em đã cử đoàn đại biểu lên gặp Đốc Lý đòi can thiệp.
28 - 5
- 160 công nhân hãng Avia đình công phản đối chủ phạt thợ. Cuộc đấu tranh do đồng chí Ngô Gia Tự lãnh đạo, đặt trụ sở ở chùa Hương Tuyết (Bạch Mai) tới ngày 10 tháng 6 chủ phải nhượng bộ.
1 - 6
- Bốn đại biểu Bắc Kỳ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đi Đại hội toàn quốc về đã họp chi bộ tại chùa Hương Tuyết ra tuyên bố xúc tiến việc lập Đảng
17 - 6
- Thành lập Đông Dương cộng sản đảng tại số nhà 312 phố Khâm Thiên. Đoàn đại biểu Bắc Kỳ có 3 người: Ngô Gia Tự, Nguyễn Tuân và Trần văn Cung. Ban chấp hành trung ương lâm thời ra tuyên bố xuất bản tờ “Búa Liềm”, cơ quan tuyên truyền của Đảng.
28 - 7
- Hội nghị thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ. Hội nghị do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh chủ trì, họp tại hiệu thuốc lào Thuận Mỹ, số 15 phố Hàng Nón. Hội nghị thông qua chương trình, điều lệ và bầu Ban chấp hành gồm 7 người. Quyết định xuất bản báo “Lao động” làm cơ quan thông tin tuyên truyền và tạp chí “Công hội đỏ” làm cơ quan lí luận, truyền bá quan điểm, chủ trương công tác. Ban biên tập có các đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh). Hội nghị họp đến ngày 30 - 7 .
1 - 8
- Hàng ngàn truyền đơn của Đảng được phát hành hưởng ứng ngày “Quốc tế chống chiến tranh đế quốc”
Tháng Chín
- Đoàn Trần Nghiệp (VNQDĐ) ám sát tên việt gian Nguyễn Văn Kính ở ghế đá trong vườn Bách Thảo
- Thành lập tổng hội sinh viên, ra báo Người sinh viên do đồng chí Đặng Xuân Khu phụ trách.
29 - 9
- 300 công nhân nhà máy gạch Yên Viên bãi công đòi đuổi tên cai gian ác, bỏ đánh đập, đòi tăng lương.
7 - 11
- Các báo “Búa Liềm”, “Lao Động”, “Công hội đỏ” ra số đặc biệt kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga. Lần đầu tiên, chân dung Mác, Ănghen, Lênin được giới thiệu trên báo Đảng. Nhiều truyền đơn rải trên đường phố. Nguyễn Văn Chiêu 12 tuổi đánh giầy, rải truyền đơn ở Đại La - Bạch Mai bị địch bắt tra tấn đến chết.
15 - 11
- Báo “Búa Liềm” ra số kỷ niệm lần thứ X ngày thành lập Quốc tế Cộng sản.
10 - 12
- Nhà báo yêu nước Ngô Đức Kế mất tại Hà Nội
20 - 12
- Mở đường xe điện Kim Liên - Yên Phụ.
Năm 1930
22 - 1
- Việt Nam Quốc dân đảng ám sát giáo Du (bố Đội Dương ở ngõ Hồng Phúc).
26 - 1
- Công nhân nhà máy đèn Bờ Hồ đấu tranh đòi tăng lương giảm giờ làm, chống đánh đập.
10 - 2
- Phối hợp với cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Việt Nam Quốc dân đảng ném bom vào nhiều nơi trong thành phố. Sở cảnh sát, “bốt” hàng Trống.
22 - 2
- Lần đầu tiên cờ Đảng xuất hiện ở các đường phố Hà Nội, Ngọc Hà, Bách Thảo.
Tháng Ba
- Thành lập xứ uỷ Bắc Kỳ do đồng chí Trần Văn Lan, Uỷ viên thường vụ Trung ương phụ trách.
17 - 3
- Thành lập Thành uỷ lâm thời của Đảng bộ Hà Nội tại số nhà 42 Hàng Thiếc, đồng chí Đỗ Ngọc Du, uỷ viên trung ương làm bí thư, các đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ, Lều Thọ Nam, uỷ viên.
24 - 4
- Chị em chợ Đồng Xuân đòi giảm thuế, chống dồn chỗ ngồi.
26 đến 29 - 4
- Hàng rau, hàng cơm ở chợ Đồng Xuân bãi thị đấu tranh.
- Truyền đơn về ngày Quốc tế lao động xuất hiện ở Hà Nội.
Tháng Tư
- Đồng chí Trần Phú từ nước ngoài về Hà Nội.
Tháng Bẩy
- Đồng chí được bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương và được Trung ương bố trí về ở ngôi nhà số 90 phố hàng Bông Nhuộm (nay là phố Thợ Nhuộm) của một viên chức cao cấp người Pháp ở Sở Tài chính Đông Dương, với sự giúp đỡ của người nấu bếp Tạ Văn Bân. Đồng chí Trần Phú đã soạn thảo bản “Luận cương cách mạng tư sản dân quyền” - Cương lĩnh đầu tiên của Đảng tại căn hầm ở của bồi bếp trong ngôi nhà này.
Tháng 10 năm 1930, hội nghị lần thứ nhất của Đảng cộng sản Đông Dương họp từ ngày 14 đến ngày 30 tại Hương Cảng (Trung Hoa), đã thông qua bản Luận cương chính trị này và đồng chí Trần Phú được làm tổng bí thư của Đảng.
1 - 5
- Cờ búa liềm tung bay trên nóc ống khói nhà máy điện Yên Phụ mới phát điện.
3 - 5
- Đồng chí Nguyễn Phong Sắc bị giặc Pháp bắt được tại ga Hàng Cỏ. Chúng giam đồng chí ở Hà Nội sau giải về Vinh và thủ tiêu vào ngày 26 tháng 5 năm 1931.
8 - 5
- Đoàn Trần Nghiệp tức Ký Con, đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng sa vào tay giặc Pháp.
30 - 5
- Ám sát Đội Dưong (Phạm Thành Dương), một tên chó săn cho Pháp.
Tháng Năm
- Làng Đông Phù, huyện Thanh Trì lập chi bộ Cộng sản.
Đầu tháng Sáu
- Chính thức thành lập Thành đảng bộ Hà Nội ở số nhà 177 Hàng Bông. Đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ được bầu làm bí thư Thành uỷ, hai uỷ viên là: Lê Đình Tuyển, Đỗ Danh Cựu. Văn phòng thành uỷ do Tạ Quang Sâm phụ trách. Thành lập đội tuyên truyền xung phong do đồng chí Lê Đình Tuyển làm đội trưởng.
5 đến 9 - 8
- Hội đồng đề hình xử vụ án Quốc dân đảng. Kết án 12 án tử hình trong đó có Đoàn Trần Nghiệp, Nguyễn Văn Nho. 11 án khổ sai chung thân. 114 án đầy chung thân và 17 án tù khác. Trong số người chịu án có một phụ nữ là Dương Thị Hạnh.
11 - 10
- Tuyên truyền xung phong diễn thuyết hô hào ủng hộ Nghệ Tĩnh đỏ ở phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến)
3 - 11
- Đốt hai cổng chào, phá cuộc đón tiếp tên Toàn quyền Nam Dương (Indonésia là Graep đến Hà Nội. Hai cổng chào này ở ngã tư Tràng Thi - Hàng Trống và ga Hàng Cỏ.
7 - 11
- Treo cờ đỏ ở đài nước Hàng Đậu và rải truyền đơn kỷ niệm Cách mạng tháng Mười.
6 - 12
- Cơ quan Thành uỷ ở 12 Cột đồng hồ bị Pháp phá. Mật thám bắt được đồng chí bí thư thành uỷ Nguyễn Ngọc Vũ ở gần Bờ Hồ.
Trong năm
- Xây dựng Pháp - Hoa ngân hàng, viện Pát-tơ (Pasteur), nhà thương Rôbanh (Robin) ở Bạch Mai.
- Mở cách phố mới quanh khu vực Hàm Long, phố Huế.
Năm 1931
4 - 1
- Thành lập chi đoàn Thanh niên cộng sản đầu tiên ở Hà Nội. Chi đoàn có bảy đoàn viên. Lễ thành lập tổ chức tại một phòng trong trường Yên Phụ. Đồng chí Lã Phạm Thái, cán sự phụ trách thanh niên của Trung ương Đảng, chính thức công nhận.
20 - 1
- Thành lập Ban công vận Trung ương.
21 - 1
- Rải truyền đơn kỷ niệm “3L”. Ba lãnh tụ: Lênin, Liepnêch, Luychxămbua.
2 - 2
- Treo cờ đỏ ở cầu Đume (Long Biên).
9 - 3
- Đoàn Trần Nghiệp, trưởng ban ám sát của Việt Nam Quốc dân đảng bị Pháp xử chém ở nhà pha Hoả Lò.
18 - 3
- Treo cờ đỏ ở nhà máy điện Yên Phụ, kỷ niệm công xã Paris.
26 - 3
- Hội nghị lần thứ II Trung ương Đảng quyết định thành lập Đoàn Thanh niên cộng sản Đông Dương
20 - 4
- Sở Mật thám Bắc Kỳ mở cuộc truy nã các đảng viên cộng sản. Do Nguyễn Thượng Biền phản bội, trong một đêm đã bắt 37 đồng chí tại Hải Phòng, trong đó có các đồng chí Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ như Trần Văn Lan, Khuất Duy Tiến, Lê Duẩn, Ngô Đình Mẫn…
22 - 5
- Pháp bao vây và bắt bảy đảng viên tại số nhà 168B Gia Long (nay là phố Bà Triệu).
28 - 9
- Hội đồng đề hình kết án Nguyễn Ngọc Vũ, bí thư thành uỷ, 20 năm tù cầm cố.
Tháng Chín
- Lập lại Thành uỷ Hà Nội sau khi bị địch phá. Đồng chí Trần Quang Tặng, bí thư Xứ uỷ kiêm bí thư Thành uỷ, xuất bản bí mật tờ báo “Tiến lên”. Cơ quan giao thông đặt tại số 5 Ô Chợ Dừa.
17 - 10 - 1931
- Phiên toà đề hình tuyên án tử hình Nguyễn Hoàng Tôn, một thanh niên cộng sản Hà Nội. Nguyễn Hoàng Tôn (1914-1932) quê ở Trích Sài (nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ), là một đoàn viên đầu tiên của chi đoàn thanh niên cộng sản trường Yên Phụ, ra đời 4 - 1 - 1931. Anh bị địch bắt tại Hải Phòng đêm 20 - 4 - 1931 (tại 8 ngõ Quảng Lạc) trong khi làm giao thông liên lạc cho Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
1 - 11
- Tù chính trị ở Hoả Lò đấu tranh đòi cải thiện chế độ ăn uống.
15 đến 17 - 11
- Hội đồng đề hình xử án Đỗ Ngọc Du, nguyên bí thư lâm thời Thành uỷ, án khổ sai chung thân.
Trong năm
- Xuất bản báo “Phụ nữ thời đàm”.
- Vũ Trọng Phụng (1912-1939) viết vở dân sinh bi hài kịch “Không một tiếng vang”.
Năm 1932
Đầu năm
- Đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ hi sinh tại nhà giam Hoả Lò Hà Nội.
17 - 3
- Khánh thành viện bảo tàng Viễn Đông bắc cổ nay là bảo tàng Lịch sử Việt Nam số 1 phố Tràng Tiền.
1 - 5
- Tù chính trị Hoả Lò đấu tranh phản đối địch không cho kỷ niệm ngày 1 - 5.
31 - 7
- Anh chị em bị giam ở Hoả Lò đấu tranh phản đối án tử hình Nguyễn Đức Cảnh và Hồ Ngọc Lân.
24 - 12
- 7 người tù chính trị nằm điều trị tại nhà thương Phủ Doãn gồm Nguyễn Lương Bằng (Sao Đỏ), Nguyễn Tạo (Nguyễn Văn Cuội), Lê Đình Tuyển, Phạm Quang Lịch (Hào Lịch), Nguyễn Trọng Đàn, Bùi Xuân Mẫn, Vũ Như Cương đã vượt ra ngoài.
Trong năm
- Xuất bản các báo: Bắc Kỳ thể thao (đến năm 1939), Bắc Kỳ thời báo (đến cuối năm 1932), Bảo An (đến năm 1935).
- “Nho giáo” của Trần Trọng Kim ra đời.
- Các cơ sở Đảng ở Hà Nội bị địch phá vỡ khoảng tháng 7, có 4 đảng viên tự thành lập một chi bộ dự bị tại làng Trung Phụng (nay là trong ngõ chợ Khâm Thiên) và cử đồng chí Hoàng Đình Dinh làm bí thư.
Năm 1933
- Tự Lực văn đoàn xuất bản “Hồn bướm mơ tiên”, tiểu thuyết lãng mạn đầu tiên của Khái Hưng.
- “Tắt lửa lòng” tiểu thuyết dài đầu tay của Nguyễn Công Hoan (1903-1977) do nhà Tân Dân xuất bản.
- Các báo tại Hà Nội tham gia cuộc tranh luận về duy tâm và duy vật. Do bài báo “Văn minh vật chất và văn minh tinh thần” của Phan Khôi đăng trong “Phụ nữ thời đàm” số ra ngày 8 - 8 nêu ra, Hải Triều đã mở đầu cuộc tranh luận trên báo Đông Dương ngày 20 - 10.
Năm 1934
Cuối tháng Ba
- Chi bộ dự bị họp ở ấp Thái Hà, để thành lập cơ quan lãnh đạo lâm thời cấp Xứ và thành bị lộ, địch vây bắt, cơ sở Đảng lại tan vỡ.
Trong năm
- “Tương lai tạp chí” ra đời.
- Thành lập Hội Phật học Bắc Kỳ, Hội quán ở chùa Quán Sứ. Xuất bản tạp chí “Đuốc tuệ”, do Nguyễn Năng Quốc, tổng đốc về hưu chủ trì.
Năm 1935
Tháng Hai
- Thợ thổi thuỷ tinh hãng Vĩnh Lợi (Hàng Bồ) bãi công
17 - 3
- Học sinh tẩy chay Hội rước xe hoa và thi trá hình có tính chất đầu độc văn hoá do sinh viên trường Luật tổ chức ở hồ Gươm.
24 - 3
- Mở đầu cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị dân sinh”, Hải Triều lên tiếng tranh luận trong báo “Đời mới” số 1, trả lời bài “Hai quan niệm về văn học” của Thiếu Sơn in trong Tiểu thuyết thứ Bảy số 38 (tháng 2 năm 1935).
Tháng Sáu
- Xuất bản “Kép Tư Bền”, một tập truyện ngắn xã hội của Nguyễn Công Hoan, đầu đề cho cuộc tranh luận giữa hai phái nghệ thuật do Hải Triều và Hoài Thanh dẫn đầu.
Tháng Tám
- Nguyễn Văn Minh, đảng viên cộng sản, tốt nghiệp trường đại học Phương Đông ở Liên Xô, được trung ương cử về Hà Nội gây lại cơ sở. Đồng chí Nguyễn Văn Minh lấy cửa hàng đối trướng Tùng Lâm ở số 11 phố Hàng Giấy làm điểm liên lạc.
Trong năm
- Các báo chí cộng sản lần lượt ra đời: Đời mới, Kiến văn, Tiếng vang, Hồn trẻ, Tiếng trẻ, Tân xã hội.
- Xuất bản các báo: Bắc Hà, Tiểu thuyết thứ sáu, Tiểu thuyết thứ Bảy, Tiểu thuyết thứ Hai, Phổ thông bán nguyệt san (đến 1954), Tứ dân văn uyển (đến 1943), Loa, Cậu ấm cô chiêu.
Năm 1936
23 - 2
- Công nhân xe kéo Sơn Tây đình công phản đối 20 chủ xe tăng giá cho thuê xe lên gấp rưỡi.
1 - 5
- Treo cờ búa liềm ở nóc lò số 6 nhà máy điện Yên Phụ.
Mùa hè. Nhóm thanh niên học sinh tiến bộ của trường tư thục Thăng Long như Nguyễn Thường Khanh (Trần Mai Ninh), Trần Hải Kế…thành lập chi bộ thanh niên cộng sản.
6 - 6
- Xuất bản số 1 tờ Hồn Trẻ (tập mới) do Nguyễn Thế Rục, Trần Huy Liệu, Trần Đình Long chủ trương, đến tháng Tám bị cấm.
Tháng Tám
- Thành lập Uỷ ban sáng kiến có nhiệm vụ như ban cán sự đảng của Xứ uỷ Bắc Kỳ và Thành uỷ Hà Nội để khôi phục cơ sở đảng. Đồng chí Nguyễn Văn Ninh phụ trách Hà Nội và chi bộ thanh niên cộng sản.
Đầu tháng Chín
- Một số đảng viên thành lập chi nhánh lâm thời của Đông Dương đại hội ở Bắc Kỳ. Tổ chức lấy tên là nhóm “Sống”, tuyên truyền cho Đông Dương đại hội, trụ sở ở cửa hàng gạo số nhà 32 phố Hàng Da.
5 - 9
- 400 nhân dân Hà Nội, kéo đến cuộc họp của bọn tay sai Pháp do Phạm Huy Lục viện trưởng viện dân biểu Bắc Kỳ triệu tập ở Hội Khai Trí Tiến Đức, âm mưu lập “Uỷ ban Bắc Kỳ” cũng vận động cho Đông Dương đại hội.
16 - 9
- Xuất bản công khai báo Le Travail (Lao động), tờ báo công khai đầu tiên của Đảng bộ Bắc Kỳ xuất bản bằng tiếng Pháp. Trụ sở ở 24 phố Phạm Phú Thứ (nay là 28 phố Nguyễn Quang Bích) do các đồng chí Nguyễn Thế Rục, Trần Đình Long, Trần Huy Liệu chủ trương.
27 - 9
- Đông đảo quần chúng đến phá cuộc mít tinh của cái gọi là “Uỷ ban Bắc Kỳ” nhằm giả mạo ý dân vận động Đông Dương đại hội.
29 - 9
- Mật thám Pháp vây trụ sở nhóm “Sống” ở 32 phố Hàng Da, bắt 18 người (trong đó có Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Kính, Trần Đình Long).
6 - 10
- 50 thợ may ở một hiệu tư của Pháp đình công đòi chủ trả lương.
11 - 10
- Toàn quyền Đông Dương ra nghị định quy định thời gian lao động cho công nhân mỗi ngày không quá 10 giờ. Từ 1-1-1937 không quá 9 giờ. Từ 1-1-1938 không quá 8 giờ, được nghỉ chủ nhật, nghỉ phép hàng năm 10 ngày được hưởng lương.
23 - 10
- Thợ xe Hà Nội đình công đòi trả công theo giá khoán cũ.
Tháng 11
- Do áp lực đấu tranh của ta và của Đảng cộng sản Pháp, Mặt trận nhân dân Pháp, Hội quốc tế cứu tế đỏ nên thực dân Pháp phải trả tự do cho một số tù chính trị. Các đồng chí Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt) về Hà Nội tham gia tòa soạn báo Le Travail (Lao động).
30 - 11
- Phạm Tuấn Tài - một trong những người sáng lập Việt Nam Quốc dân đảng viết “Tuyên cáo báo chí” trước khi chết. Khuyên anh em trong đảng nên chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa dân tộc cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản.
1 - 12
- 200 thợ mộc các xưởng đồ gỗ ở Hà Nội yêu cầu tăng lương.
6 và 9 - 12
- Công nhân các nhà in Ngô Tử Hạ, Tân Dân đấu tranh đòi lương ngày chủ nhật.
27 - 12
- 300 thợ thổi thông phong của các xưởng thủy tinh: Vĩnh Hưng, Vĩnh Lợi, Vân Du, Thanh Đức bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm.
Trong năm
- Đường xe hỏa Sài Gòn - Huế - Hà Nội nối liền.
- Tổ chức công khai Hội Ái hữu để lãnh đạo phong trào công nhân ở nhà máy đèn Bờ Hồ, nhà máy điện Yên Phụ.
Năm 1937
2 - 1
- Những người làm công nhật ở nhà máy hỏa xa Gia Lâm bãi công yêu cầu được vào ngạch chính thức.
14 - 1
- 85 công nhân bán vé và lái xe điện Thụy Khuê đình công đòi tăng lương bằng mức năm 1932, bỏ lệ phạt tiền, không được đuổi thợ vô cớ, công nhân ốm được chữa ở nhà thương. Ngày 23-1, anh em biểu tình trước tòa Đốc lý yêu cầu can thiệp.
- Tù chính trị ở nhà giam Hỏa Lò tuyệt thực để đấu tranh nhiều đợt phản đối cai ngục tàn ác, đòi cải thiện sinh hoạt từ ngày 15 đến 29-1.
16 - 1
- 2000 thợ may Âu phục đình công đòi tăng lương và thi hành luật lao động. Đến 21-1, yêu cầu của công nhân được giải quyết.
17 - 1
- Công nhân nhà máy hỏa xa Gia Lâm đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm.
21 - 1
- 200 thợ làm mũ đình công đòi tăng lương 40%, ngày làm 11 giờ.
- Toàn thể công nhân Sở Vệ sinh đình công.
22 - 1
- Khoảng hơn 700 thợ giày Hà Nội bãi công, mít tinh tại ga xe điện Bờ Hồ, yêu cầu trở lại mức lương năm 1930, chủ nhật, ngày lễ được nghỉ ăn lương.
25 - 1
- 300 thợ hớt tóc Hà Nội đình công đòi chủ tăng lương 40%, ngày làm 9 giờ.
28 - 1
- Thợ giày hiệu Casablanca và thợ đệm Hàng Bông đòi tăng lương.
31 - 1
- Đặc phái viên của chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp đến Hà Nội. Ba vạn rưỡi người đã biểu tình trước ga Hàng Cỏ đón Giuýtanh Gôđa (Justin godart) và cả ngày hôm sau (1-2) biểu dương lực lượng dân chủ ở trước nhà nghỉ của Gôđa ở 36 phố Carô (Carreau) nay là phố Lý Thường Kiệt.
Tháng 1
- Trịnh Văn Phú, quản lý báo Le Travail (Lao động) của Đảng giành thắng lợi trong cuộc tranh cử vào Viện dân biểu Bắc Kỳ.
4 - 2
- Gần 300 phu xe kéo đình nghiệp, yêu cầu giảm giá thuê xe, cai không được đánh đập, thu thẻ.
6 - 2
- 3000 người biểu dương lực lượng, hô khẩu hiệu và tuần hành nhân dịp toàn quyền Brêviê (Brévié) đến Hà Nội.
27 - 2
- Toàn thể sinh viên trường cao đẳng Mỹ thuật bãi khóa.
16 - 3
- Xuất bản tờ báo Rassemblement (Tập hợp), cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương, bằng tiếng Pháp. Báo do đồng chí Đặng Xuân Khu phụ trách. Trụ sở ở 30 Risô (nay là phố Quán Sứ) ra tới tháng 5 thì bị đình bản.
Tháng 3
- Thành lập chi bộ báo chí ở Hà Nội do đồng chí Đặng Xuân Khu làm bí thư.
- Lập lại Xứ ủy Bắc Kỳ do đồng chí Hoàng Tú Hữu làm bí thư, Thành Ủy Hà Nội lúc này có 20 chi bộ.
- 210 Hội Ái hữu ngành nghề được thống nhất trong Ủy ban xướng xuất nghiệp đoàn.
- Thành lập Ban công vận của Thành ủy.
16 - 4
- Xuất bản “Hà Thành thời báo”, tờ tuần báo tiếng Việt công khai đầu tiên của Đảng. Báo do Trần Huy Liệu làm chủ bút, Nguyễn Văn Phúc làm chủ nhiệm, Nguyễn Trọng Cảnh (Trần Quốc Hoàn) làm quản lý.
24 - 4
- 150 nhà báo dự Hội nghị báo giới Bắc Kỳ ở phố Hàng Vải Thâm đòi tự do ngôn luận và tiến tới Hội nghị báo giới toàn quốc.
8 - 5
- Mật thám khám trụ sở báo “Le Travail”, bắt chủ nhiệm Nguyễn Văn Tiến và quản lý Trịnh Văn Phú.
24 - 5
- Tổng bãi thị của chị em tiểu thương. Khỏi đầu từ chợ Đồng Xuân sau lan ra khắp thành phố. Sáng 25 - 5, 300 người kéo tới Tòa Đốc lý đòi giảm thuế. Cảnh sát được lệnh đàn áp, dùng dùi cui và vòi nước giải tán, bắt 12 người và phóng viên các báo “Rassem blement”, “Bạn dân” chị em kiên quyết giữ vững đấu tranh. Cuối cùng địch phải thả những người bị bắt.
27 - 5
- 160 công nhân xưởng mộc Phú Mỹ bãi công đòi tăng lương 10%, ngày nghỉ đi làm phải trả lương gấp đôi.
14 - 6
- Biểu tình của 300 nông dân, thợ thủ công các làng Đại Mỗ, Tây Mỗ, La Khê, La Phù, La Nội, Ỷ La (nay thuộc huyện Từ Liêm và Hoài Đức) đòi giảm thuế.
15 - 6
- Nông dân vùng Láng (xã Yên Lãng) kéo đến dich Tổng đốc Hà Đông đòi giảm thuế.
17 - 6
- 500 nông dân làng Vạn Phúc (Hoài Đức) họp mít tinh đòi giảm sưu, thuế.
21 - 6
- Đại biểu lao động Hà Nội gửi thư cho Hội đồng nghiên cứu thi hành Luật nghiệp đoàn ở Đông Dương, đòi có đại biểu công nhân tham dự Hội đồng.
19 - 7
- Chị em khâu đầm, Vú em, anh em kéo xe nhà, bồi bếp, cử đại biểu gặp Thanh tra lao động và Đốc lý Hà Nội đòi tự do lập công hội.
25 - 7
- Công nhân nhà in Lê Văn Tân đình công.
7 - 8
- 120 công nhân hãng xe Xitrôen (Citroën) đấu tranh đòi tăng lương.
- Thợ mộc hãng Phú Mỹ đòi tăng lương, phản đối chế độ làm khoán.
20 - 8
- Xuất bản tờ báo En Avant (Tiến Lên), cơ quan ngôn luận công khai của Đảng bằng tiếng Pháp. Trụ sở được ở 35 Hàng Vải sau chuyển về 93 Hăngri Đoóclêăng (nay là phố Phùng Hưng).
29 - 8
- Đại biểu Đảng Cộng sản Pháp sang thăm Đông Dương tới Hà Nội. Một ủy ban đại biểu của các giới thợ thuyền, dân cày, thợ thủ công đòi tăng giá khoán, đến ngày 16-11 đã giành thắng lợi.
- Trường Thăng Long thành lập Hội Ái hữu cựu học sinh.
29 - 12
- Báo Bạn dân của Đoàn thanh niên bị Pháp bắt đóng cửa.
Trong năm: Ra đời các báo: Thời thế (do Đảng chủ trương), Dân báo (của Việt Nam quốc dân đảng), Ngày nay (xu hướng cải lương), Việt cường (của bọn bảo hoàng), Hà Nội báo, Vịt đực, Con ong (có tính chất lưu manh).
- Số dân Hà Nội 1937: 182.000 người.
Năm 1938
3 - 1
- 200 người mít tinh kéo đến Tòa Đốc lý trong khi Hội đồng thành phố đang họp, đòi thả những người bị bắt.
12 - 1
- Đồng chí Đỗ Ngọc Du, sau khi được trả lại tự do (11-1936) đã mất tại Hà Nội vì bệnh lao phổi.
19 đến 23 - 2
- Toàn thể tù chính trị ở Hỏa Lò tuyệt thực đòi thi hành chế độ nhà tù đối với chính trị phạm.
Cuối tháng 2
- Hai tờ báo “Hà thành thời báo” và “Thời thế” bị bắt buộc đình bản.
Tháng 3
- Xuất bản tờ “Tin Tức”, cơ quan tuyên truyền vận động thành lập mặt trận Dân chủ Đông Dương, báo công khai của Đảng, tuần ra 2 số. Trụ sở 105 Hăng-ri Đoóclêăng (nay là phố Phùng Hưng) Tòa soạn có Đặng Xuân Khu, Trần Đình Long, Trần Huy Liệu.
- 500 tiểu thương và thợ thủ công đưa yêu sách 14 điểm cho Đốc lý đòi giảm thuế, hạ tiền điện, tiền nhà và đòi phổ thông đầu phiếu.
- 200 công nhân vệ sinh đòi sửa đổi chế độ làm việc.
Tháng 4
- Thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương ở Hà Nội. Gồm các nhóm: báo Tin tức, Đại biểu công nhân, Đoàn thanh niên, chị em các chợ, nhóm Ánh sáng, chi nhánh Đảng xã hội Pháp ở Bắc Đông Dương, nhóm tư sản dân tộc…
1 - 5
- Cuộc mít tinh lớn công khai đầu tiên kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động tại nhà Đấu xảo (nay là Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt-Xô) lúc 16 giờ. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng bí thư của Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, 25 đoàn đại biểu với trên 2 vạn người đã tham dự mít tinh. Khẩu hiệu đưa ra là: “Cơm áo - Hòa Bình - Tự do”, tiến tới phổ thông đầu phiếu, “chống nạn thất nghiệp”, “lập trường học cho mọi người”, “tự do nghiệp đoàn”, “tự do dân chủ”, “chống phát xít và chiến tranh”, “bảo vệ phụ nữ - nhi đồng”, “chống nạn sinh hoạt đắt đỏ”.
5 - 5
- Hội nghị đại biểu Đoàn thanh niên dân chủ Đông Dương. Có 100 đại biểu và họp tại 28 phố Rôlăng (nay là Hai Bà Trưng), bầu ra Ban chấp hành trung ương Đoàn thanh niên.
14 - 5
- Công nhân xe lửa Gia Lâm đình công đòi tăng lương, ngày làm 8 giờ, không đánh đập, đuổi thợ.
23 - 5
- Đồng chí Nguyễn Thế Rục, một chiến sĩ cộng sản Hà Nội mất tại số nhà 102 Hàng Gai, nơi đồng chí mở cửa hàng bán chiếu, thảm để hoạt động bí mật. Ngày 25-5, tang lễ cử hành công khai tại nghĩa trang Phúc Thiện (Cầu Giấy). Đồng chí Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) đọc điếu văn vĩnh biệt.
25 - 5
- Đông đảo quần chúng họp tại sân vận động Hội thể dục thể thao Hà Nội nghe đồng chí Phan Thanh nói chuyện về nạn thất học và sự cần học. Vận động thành lập Hội truyền bá quốc ngữ. Hội thành lập theo sáng kiến của Đảng. Hội trưởng là nhà học giả Nguyễn Văn Tố, trụ sở ở 44 phố Nguyễn Trãi (nay là phố Nguyễn Văn Tố) kết quả đến cuối năm 1944, Hội đã dạy cho trên dưới 5 vạn người biết chữ, riêng ở Hà Nội được 3 vạn người.
10 - 7
- 11 người trong danh sách của Mặt trận Dân chủ Đông Dương đã trúng cử vào Viện dân biểu Bắc Kỳ, trong đó có đồng chí Khuất Duy Tiến.
25 - 7
- Phát hành cuốn “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh và Vân Đình (tức Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp) do nhà Đức Cường xuất bản tại Hà Nội.
25 - 8
- Hơn một nghìn chị em buôn bán ở Chợ Mơ bãi thị phản đối thuế cao.
Tháng 10
- Công nhân nhà máy xe Lửa Gia Lâm bãi công đấu tranh đã giành thắng lợi sau 5 ngày.
7 - 11
- 200 thợ thủy tinh phố Hàng Bồ đình công phản đối chủ không giải quyết 7 yêu cầu của công nhân.
1 - 12
- Báo Đời nay, cơ quan của Đảng ra số 1.
- Đoàn thanh niên dân chủ Hà Nội tổ chức chợ phiên (từ 1 đến 4 - 12) lấy tiền ủng hộ nhân dân Trung Quốc kháng Nhật.
Tháng 12
- Mặt trận Dân chủ Đông Dương đưa giáo sư Phan Thanh và 2 người nữa tranh cử vào hội đồng thành phố. Đoàn trúng cử Tại phiên họp đầu tiên, đoàn đưa ra yêu cầu sửa đổi tổ chức Hội đồng thành phố nhưng không được chấp nhận, đoàn đã từ chức.
Cuối năm 1938
- Xuất bản tờ Notre voix (Tiếng nói của chúng tôi) cơ quan của Đảng, bằng tiếng Pháp. Trụ sở ở 28 Đuđa đơ Lagơrê (nay là phố Hàm Long).
- Đồng chí Hoàng Tú Hữu bị địch bắt. Đồng chí Lương Khánh Thiện được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Đồng chí Đinh Xuân Nhạ làm bí thư Thành ủy Hà Nội thay đồng chí Lương Khánh Thiện.
Trong năm
- Xuất bản “Ngục KomTum” của Lê Văn Hiến.
- Nguyễn Công Hoan viết “Bước đường cùng”, tiểu thuyết hiện thực phê phán.
Năm 1939
Tháng 1
- Báo Tin tức bị đóng cửa.
Tháng 2
- Báo Thế giới của Đoàn thanh niên dân chủ bị cấm.
- Tập sách Dân chúng xuất bản “Vượt ngục” của Cựu Kim Sơn.
4 - 3
- Lập Hội chấn hưng thương mại và kỹ nghệ, do một số tư sản dân tộc chủ trương khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp bản xứ.
21 - 3
- “Lều chõng”, tiểu thuyết của Ngô Tất Tố lần đầu in trên báo Thời vụ.
- Xuất bản “Tắt đèn”, tiểu thuyết hiện thực phê phán của Ngô Tất Tố.
9 - 4
- Bầu lại Hội đồng thành phố. 3 đại biểu của Mặt trận Dân chủ Đông Dương lại trúng cử với số phiếu cao hơn trước.
19 - 4
- Xuất bản tờ Ngày mới, cơ quan của Xứ ủy Bắc Kỳ.
20 - 4
- 368 thợ cưa đình công đòi tăng lương.
1 - 5
- Báo “Mới” của nhóm thanh niên ra số 1, lần đầu giới thiệu thơ Tố Hữu.
4 - 5
- Lễ tang giáo sư Phan Thanh, một tri thức hoạt động trong Mặt trận Dân chủ. Hơn 2 vạn người đã tham dự đưa đám, biểu dương lực lượng từ nhà thương ngõ Trạm tới nghĩa trang Hợp Thiện (Bạch Mai).
24 - 5
- 400 thợ mộc bãi công đòi tăng luơng.
31 - 5
- Cuộc mittinh chống tăng thuế ở chợ Hàng Da bị chính quyền đàn áp.
2 - 6
- Công nhân nhà in Lê Văn Phúc đình công, yêu cầu tăng lương mỗi ngày 7 xu.
10 - 6
- 800 công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm bãi công đòi tăng lương, nghỉ lễ có lương gấp đôi.
- 300 thợ làm nón Hà Nội đình công.
16 - 6
- 250 nữ công nhân nhà máy Diêm Hà Nội đình công đòi được nghỉ trưa 1 giờ, có nước uống, tăng lương, bỏ đánh đập.
21 - 6
- Công nhân nhà máy in Minh Sang đòi tăng lương, đình công, chủ phải nhương bộ.
22 - 6
- Bãi công của 150 công nhân nhà in Viễn Đông IDEO.
14 - 7
- Đoàn thanh niên xã hội, tổ chức hợp pháp của thanh niên, mít tinh kỷ niệm cách mạng tư sản Pháp tại Nhà hát Lớn, đòi dân chủ và cải thiện đời sống.
20 - 7
- Phát hành cuốn “Tự chỉ trích” của Trí Cường (tức Nguyễn Văn Cừ, tổng bí thư của Đảng) do nhà Dân chúng xuất bản..
31 - 7
- Khám xét và bắt hàng loạt người viết báo ở các tòa báo Đời nay, Ngày mới, Người mới, Notre voix.
1 - 8
- Nhân ngày chống chiến tranh đế quốc, đồng chí Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh) diễn thuyết ở Cột đồng hồ.
5 - 8
- 93 nghị viên (trong tổng số 121) Viện dân biểu Bắc Kỳ họp tại trụ sở Hội Khai Trí Tiến Đức, ký kiến nghị yêu cầu hủy bỏ sắc lệnh sáp nhập Bắc Kỳ vào với Trung Kỳ.
6 - 8
- 1000 người mít tinh chớp nhoáng ở vườn hoa Canh nông (nay là công viên Lê Nin) nghe nói về âm mưu sáp nhập Bắc Kỳ vào với triều đình Huế, quay lại Hiệp ước 1884.
12 - 8
- Đại biểu các báo ở Hà Nội họp tại khách sạn Lạc Xuân (phố Hàng Bông) đồng thanh phải đòi quay lại Hiệp ước 1884.
- 600 công nhân hỏa xa Gia Lâm đình công biểu tình phản đối hành động đánh đập công nhân. Chủ đã buộc bọn cai côn đồ phải xin lỗi công nhân.
15 - 8
- 1000 người biểu tình ở đầu phố Hăngri Đoóclêăng (nay là phố Phùng Hưng) phản đối trở lại Hiệp ước 1884.
16 - 8
- 100 người bán hoa quả rong đến tòa Đốc lý kêu giảm thuế.
3 - 9
- Pháp lập lại Ty kiểm duyệt sách báo ở Hà Nội.
- Vây ráp bắt nhiều người hoạt động cách mạng trong thành phố.
8 - 9
- Hội nghị Xứ ủy Bắc Kỳ họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ tọa của đồng chí Nguyễn Văn Cừ ra nghị quyết rút vào bí mật. Đồng chí Hoàng Văn Thụ được cử làm Bí thư xứ ủy Bắc Kỳ, phụ trách Hà Nội.
28 - 9
- Toàn quyền Catơnu (Catroux) ra nghị định giải tán các tổ chức ái hữu, nghiệp đoàn, tịch thu giấy tờ tài sản của các tổ chức đó.
Tháng 9
- Đồng chí Nguyễn Mạnh Đạt (tức Lộc Ái) được cử làm Bí thư thành ủy Hà Nội, thay đồng chí Đinh Xuân Nhạ đi công tác khác.
17 - 11
- Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tịch thu và cho bán tài sản của Đảng cộng sản Đông Dương.
- Tới năm 1939, Hà Nội có diện tích 12 km2 và 20 vạn dân.
Năm 1940
13 - 2
- Cắm cờ đỏ và rải truyền đơn ở núi Sóc nhân dịp hội đền Sóc, làng Vệ Linh, huyện Sóc Sơn (mồng 6 tháng Giêng).
1 - 5
- Cờ đỏ treo ở nhà máy hỏa xa Gia Lâm.
21 - 6
- Một số cựu chiến binh Pháp ở Hà Nội biểu tình phản đối chính phủ Pháp đầu hàng Đức, Nhật hô khẩu hiệu chống phát xít.
17 - 7
- Một số tư sản Pháp ở Hà Nội biểu tình chống chính sách đầu hàng Nhật.
Cuối tháng 10
- Phái đoàn ngoại giao Nhật chính thức hoạt động ở Hà Nội.
- Quân đội Nhật đến đóng ở sân bay Gia Lâm theo hiệp ước ký với Pháp ngày 22-9-1940.
10 - 11
- Nhật thành lập Hội Nhật - Việt để thu nạp tay sai.
18 - 12
- Cơ sở Đảng ở ga Hàng Cỏ phát truyền đơn ủng hộ khởi nghĩa Nam Kỳ trên chuyến xe lửa Hà Nội - Sài Gòn.
Tháng 12
- Các tổ chức thân Nhật như Hưng Việt cách mạng Đảng, Đại Việt dân đảng, Việt Nam cấp tiến cách mệnh đảng hợp nhất lại thành Đại Việt quốc dân đảng.
Năm 1941
30 - 3
- Thả chim bồ câu mang cờ đỏ trên bầu trời Hà Nội kỷ niệm Công xã Pari.
13 - 4
- Bắn pháo, tung truyền đơn vào sân Măngdanh (Cột cờ) phản đối xử án từ hình chính trị phạm ở Hà Nội.
Tháng 12
- Tổ chức hiến binh Nhật và các hãng Đại Nan Kôsi, Mitsưbishi bắt đầu hoạt động ở Hà Nội.
- Đảng Đại Việt quốc dân sang sáp nhập với đảng Quốc xã, đổi tên thành đảng Đại Việt dân chỉnh làm tay sai cho Nhật.
Năm 1942
- Thành lập các đoàn thể cứu quốc của Mặt trận Việt minh ở Hà Nội.
11 - 7
- Bảo Đại ra dụ tách huyện Hoàn Long ra khỏi tỉnh Hà Đông và sáp nhập vào Hà Nội thành nhượng địa của Pháp. Ngày 25-8, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chính thức việc này.
31 - 12
- Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đổi tên huyện Hoàn Long thành “Đại lý đặc biệt Hà Nội” trực thuộc thành phố. Nhân dân quen gọi là Đại lý Hoàn Long.
- Tới cuối 1942, thành phố Hà Nội gồm 8 bộ (quartier) ở nội thành và Đại Lý đặc biệt Hà Nội gồm 9 tổng, 60 xã. Diện tích 130 km2, dân số 30 vạn.
Năm 1943
1 - 1
- Lính thợ đưa yêu sách đòi thêm giờ nghỉ và phát xà phòng.
- Chợ Đồng Xuân bãi thị chống sinh hoạt đắt đỏ.
Tháng 12
- Thợ xẻ xưởng gỗ Săng-cô của Nhật bãi công đòi tăng lương.
25 đến 28 - 2
- Ban thường vụ Trung ương Đảng họp ở làng Võng La (Đông Anh) quyết định mở rộng hoạt động của Mặt trận Việt Minh và thành lập mặt trận dân chủ chống Nhật ở Đông Dương. Hội nghị đã thông qua bản Đề cương văn hóa của Đảng.
Tháng 4
- Dân làng Cổ Bi (Gia Lâm) chống Nhật bắt nhổ ngô để trồng đay.
9 - 5
- 1000 phu trong trường bay Gia Lâm đình công phản đối hành động dã man của lính Nhật sát hại một phụ nữ.
Tháng 5
- Công nhân sửa chữa và đóng tầu thủy của Nhật ở Phà Đen đình công đòi trả lương hưu.
Tháng 8
- Thành lập tổ văn hóa cứu quốc ở Hà Nội, do đồng chí Lê Quang Đạo, bí thư thành ủy trực tiếp phụ trách.
21 - 9
- Đồng chí Hoàng Văn Thụ bị Pháp bắt ở Tám Mái.
10 đến 12 - 12
- Máy bay Mỹ ném bom Hà Nội (khu vực Đấu Xảo, ngõ Lương Sử) làm chết và bị thương nhiều người.
21 - 12
- Pháp mở phiên tòa quân sự đặc biệt kết án tử hình đồng chí Hoàng Văn Thụ.
Trong năm
- Mở đường xe điện nối từ Kim Liên đến Vọng.
Năm 1944
Tháng 1,2,3
- Đấu tranh đòi tăng lương của công nhân các nhà in Viễn Đông (IDEO), Xuân Thu, Lê Văn Tân, Tin mới.
8 - 4
- Nông dân làng Trung Màu (Gia Lâm) nổi dậy đánh đuổi bọn Nhật về cân đay.
16 - 4
- Nông dân làng Khả Do kéo ra đồng chống tên tri huyện Kim Anh bắt phá hoa màu trồng đay.
Tháng 4
- Nông dân Xuân Kỳ (Sóc Sơn) đấu tranh chống nộp thầu dầu.
Tháng 5
- Dân làm giấy vùng Bưởi kéo lên đồn Tây đòi được tự do mua dó.
7 - 5
- Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị chuẩn bị khởi nghĩa. Thành ủy Hà Nội bắt đầu xây dựng lực lượng tự vệ chiến đấu và phát triển các đoàn thể cứu quốc.
24 - 5
- Pháp xử bắn đồng chí Hoàng Văn Thụ, ủy viên thường vụ Trung ương Đảng, tại trường bắn Tương Mai lúc 6 giờ sáng. Nhiều truyền đơn phản đối án tử hình xuất hiện ở nhiều nơi trong thành phố. Tât cả tù chính trị ở Hỏa Lò nhịn ăn 5 ngày. Đảng mở đợt phát triển Đảng lớp Hoàng Văn Thụ.
30 - 6
- Đảng Dân chủ Việt Nam thành lập và gia nhập Mặt trận Việt Minh.
Tháng 8
- Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu (Hà Nội) chính thức thành lập.
- 400 công nhân xưởng xẻ gỗ Săng-cô đấu tranh đòi chủ nhật phải bán gạo.
Tháng 9
- Thợ thuộc da Thụy Khuê đòi tăng lương và bán vải.
Tháng 11
- Thành ủy phát động tuần lễ hưởng ứng cuộc đấu tranh vũ trang ở Thái Nguyên. 18 nơi trong thành phố cùng một lúc trưng bày sách báo cách mạng, tuyên truyền Việt Minh.
Tháng 12
- Cuộc bãi công lớn của giới thợ xẻ kéo dài 8 ngày buộc chủ phải tăng lương 40%.
Năm 1945
16 - 2
- Việt Minh treo biểu ngữ “Đánh Pháp, đuổi Nhật” ở chùa Đồng Quang và gò Đống Đa nhân dịp kỷ niệm Quang Trung chiến thắng Đống Đa.
17 - 2
- Việt Minh tổ chức mít tinh ở đền Voi Phục kêu gọi thanh niên noi gương anh hùng Nguyễn Huệ, hăng hái tham gia Việt Nam độc lập đồng mình (Việt Minh) đánh đuổi Nhật - Pháp.
9 - 3
- 20 giờ 25, Nhật tấn công các doanh trại Pháp. Súng nổ cho tới sáng. Pháp chống cự yếu ớt. Tới 16 giờ 15 ngày 10 - 3, quân Pháp hoàn toàn đầu hàng. Cuộc đảo chính của Nhật lật đổ Pháp đã thành công. 8 vạn quân Pháp ở khắp Đông Dương tan rã, 1662 lính Pháp bị giết.
10 - 3
- Việt Minh rải truyền đơn bóc trần trò “độc lập” giả hiệu của bọn thân Nhật, vạch rõ kẻ thù chính của nhân dân ta lúc này là phát xít Nhật.
- Nhân dân xã Trung Màu, huyện Gia Lâm, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, khởi nghĩa lập chính quyền cách mạng.
14 - 3
- Bọn tay sai Nhật tổ chức mít tinh ở ngã tư Bờ Hồ giới thiệu cái gọi là “Đại Việt quốc gia cách mạng ủy viên hội”.
12 - 4
- Việt Minh rải truyền đơn ở chợ Trôi (nay thuộc xã Đức Giang, huyện Hoài Đức).
16 - 4
- Toàn thể thợ máy Đông Anh (lúc này thuộc tỉnh Phúc Yên) biểu tình đòi phát gạo “bông” (phiếu).
20 - 4
- Việt Minh phát truyền đơn “Kháng Nhật cứu nước” trên chuyến xe điện Bờ Hồ - Hà Đông.
- Mít tinh của hằng trăm thanh niên ủng hộ Việt Minh tại xã Mễ Trì (Từ Liêm).
- Mít tinh diễn thuyết của Việt Minh tại Kim Anh (Phúc Yên).
24 - 4
- 350 phụ nữ nội thành về dự mít tinh chống Nhật ở xã Mễ Trì (Từ Liêm).
- Phá kho gạo của Nhật ở phố Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân), Lò Lợn, Phà Đen và mọc Quan Nhân (Từ Liêm), phát gạo cho dân nghèo chống đói.
29 - 4
- Việt Minh tuyên truyền công khai ở chợ Canh (Hoài Đức).
Tháng 4
- Công nhân nhà máy điện hai lần biểu tình phản đối làm chiều thứ 7 không có lương.
Cuối tháng 4
- Hội nghị quân sự của Thành phố do Việt Minh triệu tập họp tại chùa làng Tân (xã Thái Đô, huyện Từ Liêm - nay là Nghĩa Đô) quyết định đẩy mạnh việc phát triển tự vệ chiến đấu và mua sắm vũ khí.
10 - 5
- Một đội tuyên truyền xung phong vào diễn thuyết ở trường Gia Long (phố Phủ Doãn).
- 180 công nhân xưởng sửa chữa ô tô Xtai biểu tình phản đối làm chiều thứ bẩy.
13 - 5
- Đội tuyên truyền xung phong diễn thuyết, treo cờ đỏ, tung truyền đơn ở nhà máy rượu.
1 - 6
- Sinh viên bất hợp tác với Nhật, không chịu ghi tên xin học, bị Nhật đuổi ra khỏi Việt Nam học xá.
11 - 6
- Phát xít Nhật ra lệnh kiểm soát các máy thu thanh bằng cách gắn xi vào nút vặn.
13 - 6
- Diễn thuyết, tuyên truyền, treo cờ đỏ sao vàng ở làng Cao Quang (Mê Linh).
17 - 6
- Phá buổi lễ kỷ niệm Nguyễn Thái Học tại vườn Bách Thảo do bọn tay sai Nhật tổ chức, biến cuộc lễ thành mít tinh ủng hộ Việt Minh.
18 - 6
- Đội tự vệ công nhân xử tử tên Việt gian Hoàng Sĩ Nhu tại ngã tư phố Giắc-canh La-vơ-răng (nay là Ngô Thì Nhậm - Lê Văn Hưu)
20 - 6
- Bắn chết tên cai Lý Văn Long, mật thám đắc lực cho Nhật ở vùng Bưởi.
30 - 6
- 6 tên mật thám Nhật đi dò Việt Minh bị ta đánh chết ở quãng đê gần cầu Đuống.
Tháng 6
- Nhân dân tổng Kim Sơn (Gia Lâm) phá kho thóc chợ Keo để tự cứu đói.
7 - 7
- Diệt tên Sinh, trùm mật thám, thanh tra chính trị đắc lực của Pháp-Nhật, tại Ngã Tư Sở. Sau đó, bắn chết Trương Anh Tự, tên chỉ điểm cho Nhật.
Tháng 7
- Hai đại biểu Thành ủy đi dự Hội nghị toàn quốc của Đảng. Một số đại biểu của Thành bộ Việt Minh lên đường đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào.
9 - 8
- Thanh niên cứu quốc làng Mai Động tước đoạt triện đồng của lý trưởng, lập Ủy Ban cách mạng lâm thời.
15 - 8
- Thành ủy triệu tập hội nghị bất thường với các đội trưởng Đội tuyên truyền xung phong và Tự vệ chiến đấu ở Chùa Hà (Dịch Vọng, Từ Liêm) đặt kế hoạch gấp rút khởi nghĩa.
- Một phái đoàn Việt Minh gặp Khâm sai Bắc Kỳ để bác bỏ ý kiến mời Việt Minh tham gia chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, tuyên bố lập trường và đường lối cứu nước của Việt Minh. Phái đoàn do đồng chí Nguyễn Khang dẫn đầu.
15 - 8
- Xứ ủy Bắc Kỳ họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định xúc tiến Tổng khởi nghĩa.
16 - 8
- Tại số nhà 101 đường Gam-bút-ta (Gambetta, nay là phố Trần Hưng Đạo) thành lập ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội gồm 5 người: Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Quyết, Nguyễn Huy Khôi, Nguyễn Duy Thân. Lệnh Tổng khởi nghĩa phát đi khắp nội ngoại thành.
- Buổi tối, các đội vũ trang tuyên truyền xung phong đột nhập các rạp Quảng Lạc, Hiệp Thành, Tố Như, tuyên truyền cho Việt Minh giữa buổi công diễn.
17 - 8
- 15 giờ, biến cuộc mít tinh của Tổng hội Công chức tại quảng trường Nhà hát Lớn thành cuộc biểu tình tuần hành thị uy “ủng hộ Việt Minh”. Một đội viên thanh niên xung phong chiếm diễn đàn báo tin. Nhật đã đầu hàng Đồng minh và hô hào đồng bào khởi nghĩa. Một nữ đội viên kêu gọi phụ nữ tham gia phong trào cứu quốc. Mười vạn người xếp hàng ngũ đi theo lá cờ đỏ sao vàng, vừa đi vừa hô khẩu hiệu. Anh em bảo an binh và cảnh sát cũng vác súng đi theo đoàn biểu tình. Cuộc tuần hành diễu qua các phố Tràng Tiền, Bờ Hồ, qua Bưu Điện ra Hàng Đào, Hàng Ngang, Cửa Bắc đến phủ Toàn quyền - nơi tư lệnh quân Nhật đóng (nay là Phủ Chủ tịch) rồi theo đường Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ) về Cửa Nam. Trời tối hẳn mới giải tán.
- Đêm, tòa báo Tin mới bị Việt Minh đột nhập yêu cầu đưa tin cuộc biểu tình ủng hộ Việt Minh vào số báo ra hôm sau.
- Khâm sai Phan Kế Toại từ chức.
18 - 8
- 11 giờ, ba vạn tờ báo Tin Mới in bài “Hô hào nhân dân khởi nghĩa” và các khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh, thành lập chính quyền cách mạng, phát hành rộng rãi khắp nội, ngoại thành..
- Công nhân cứu quốc ở xưởng A-vi-a lấy một xe ô tô của Nhật sang Gia Lâm chở vũ khí. Khi xe qua cầu bị bọn lính Nhật đứng gác bắt giữ những người trên xe, đưa về giam ở gần Nhà hát Lớn. Lập tức nhân dân bủa vây quanh nơi đó, đòi bọn Nhật phải thả những người bị bắt. Bọn Nhật chĩa súng liên thanh vào quần chúng nhưng tất cả không nao núng, không rút lui mà người kéo đến lại thêm đông.
- 23 giờ, Nhật phải thả tất cả anh em bị bắt.
19 - 8
- Từ sáng sớm, hơn 20 vạn người xuống đường đấu tranh: Hà Nội đỏ cờ. 8 giờ, quảng trường nhà hát lớn và các phố chung quanh đông nghịt. Tự vệ chiến đấu và thanh niên xung phong từ bờ Hồ Gươm tiến về lễ đài trước nhà hát. Nhân dân nhiệt liệt hoan hô các chiến sĩ cách mạng lần đầu ra công khai. 11 giờ, cuộc mít tinh bắt đầu. Đồng chí Nguyễn Huy Khôi (tức Trần Quang Huy), đại biểu thành bộ Việt Minh đọc bản hiệu triệu Tổng khởi nghĩa và chương trình của Việt Minh. Đồng chí Lê Trọng Nghĩa hô hào đồng bào cướp chính quyền. 12 giờ, cuộc mít tinh biến thành biểu tình tuần hành. Một nửa bên phải nhà hát lớn kéo đến chiếm phủ Khâm Sai Bắc Kỳ (12 Ngô Quyền), tòa Thị Chính (nay là trụ sở Ủy ban nhân dân Hà Nội) và Sở cảnh sát Trung ương (nay là công an quận Hoàn Kiếm). Nửa bên trái kéo về trại Bảo an binh. Anh em binh lính mở cổng đón đồng chí Nguyễn Quyết dẫn đầu đoàn biểu tình. Việc bàn giao kho vũ khí đang tiến hành thì 4 xe tăng Nhật kéo đến vây góc phố, một đội quân Nhật kéo vào trại buộc ta phải dồn vào phía trong để chúng gác ngoài. Thành bộ Việt Minh kịp thời vận động quần chúng kéo đến đông thêm, bao vây chúng, vừa hỗ trợ lực lượng của ta vừa hô khẩu hiệu uy hiếp tinh thần địch, đồng thời cử đại diện gặp bọn chỉ huy Nhật, giải thích cho chúng biết: bây giờ chúng là kẻ thua trận, chờ ngày về nước, nếu chúng ở yên thì Việt Minh sẽ không đụng chạm tới. Bọn Nhật hạ lệnh cho lính rút lại. Hà Nội hoàn toàn giành chính quyền về tay nhân dân.
20 - 8
- Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội ra mắt đồng bào Thủ đô, do đồng chí Trần Quang Huy làm chủ tịch.
21 - 8
- Đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng và Ban thường vụ Trung ương Đảng từ Tân Trào về Hà Nội.
- Nước sông Hồng lên to, đê núng nhiều chỗ. Hàng vạn người xung phong xin đi hộ đê.
- Ban hành lệnh “thiết quân luật” ở thành phố.
- Sơn Tây khởi nghĩa cướp chính quyền.
22 - 8
- Xanh-tơ-ny, sĩ quan tình báo Pháp theo gót phái đoàn Mỹ dưới danh nghĩa phái bộ Đồng minh do thiếu tá Pát-ti chỉ huy đến sân bay Gia Lâm.
- Thường vụ Trung ương Đảng họp tại 48 Hàng Ngang bàn một số công tác lớn trước mắt.
23 - 8
- Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội. Người dừng lại ở thôn Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm 2 ngày. Hôm sau, đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trần Đăng Ninh lên báo cáo với Người về tình hình Hà Nội. Ngày 25, đồng chí Trường Chinh đón Người về ở gác hai số nhà 48 Hàng Ngang. Tại đây, mấy ngày sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử.
26 - 8
- Hàng chục vạn quần chúng tham gia biểu dương lực lượng trong cuộc đón tiếp Phái bộ Đồng minh, hô vang khẩu hiệu “Nước Việt Nam của người Việt Nam”!
27 - 8
- Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp các vị Bổ trưởng trong chính phủ cách mạng lâm thời tại Bắc Bộ phủ.
28 - 8
- Công bố danh sách Chính phủ cách mạng lâm thời trên các báo chí xuất bản tại Hà Nội.
29 - 8
- Hai chi đội quân Giải phóng từ chiến khu Việt Bắc về tới Thủ đô.
- Thành ủy ra quyết định tổ chức Đội tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu, quân số 350 người, gồm 3 đại đội: Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản và đại đội nữ tự vệ Minh Khai.
30 - 8
- Lễ duyệt binh đầu tiên của quân đội cách mạng tại quảng trường Nhà hát Lớn.
- Đài vô tuyến điện Bạch Mai truyền thanh buổi đầu tiên của “Tiếng nói Việt Nam” trên
sóng 32m.
Tháng 8
- Thành lập cơ quan công an Hà Nội.
2 - 9
- Nửa triệu người nội, ngoại thành và các tỉnh lân cận kéo về vườn hoa Ba Đình dự cuộc mít tinh lớn của “ngày Độc lập”. 12 giờ, khắp các ngả đường cuồn cuộn dòng người đổ về vườn hoa Ba Đình. 14 giờ, Chính phủ cách mạng lâm thời lên lễ đài. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” “… Một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Vì những lẽ trên, chúng tôi - Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem của cải để giữ vững tự do và độc lập ấy…” Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa làm lễ tuyên thệ trước quốc làng. Chính phủ gồm 13 bộ. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Bộ Nội vụ trình bày tình hình trong nước. Bộ trưởng Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo việc tước ấn kiếm của vua Bảo Đại và trình bày trước đồng bào ấn quốc bảo và thanh kiếm vàng mà Bảo Đại nộp cho phái đoàn Chính phủ tại Huế. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng, đại biểu Tổng bộ Việt Minh nói về cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Minh và kêu gọi nhân dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ. 15 giờ 30, toàn dân làm lễ tuyên thệ “cùng Chính phủ giữ quyền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng”. Cuộc mít tinh biến thành biểu tình tuần hành qua các phố Hà Nội, gần tối mới giải tán. Từ đây, ngày 2 - 9 trở thành ngày Tết độc lập, ngày Quốc khánh của nhân dân ta.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị mở rộng Giải phóng quân và đổi tên là Vệ quốc đoàn.
3 - 9
- Phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa bàn 6 vấn đề cấp bách nhất:
+ Chống nạn đói
+ Chống nạn mù chữ
+ Tổ chức Tổng tuyển cử
+ Phát động phong trào: cần, kiệm, liêm, chính.
+ Bãi bỏ các thứ thuế thân, thuế chợ, thuế đò và cấm hút thuốc phiện.
+ Tuyên bố tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết.
Phiên họp tổ chức tại số nhà 12 phố Ngô Quyền, nguyên là dinh Thống sứ Pháp, sau là Phủ Khâm sai Bắc Kỳ, nay gọi là Bắc Bộ phủ (ngày nay là nhà khách của Chính phủ).
4 - 9
- Ra sắc lệnh tổ chức Quỹ Độc lập.
5 - 9
- Chính phủ ban hành sắc lệnh giải tán các đảng phái phản động.
7 - 9
- Thành lập Đài “Tiếng nói Việt Nam”.
- Ban hành sắc lệnh bãi bỏ thuế thân.
- Những đơn vị quân Tưởng Giới Thạch đầu tiên làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật đến Hà Nội.
8 - 9
- Tiêu Văn, phó tập đoàn quân Lưỡng Quảng và Chu Phúc Thành, tư lệnh quân đoàn 62 Trung ương của quân đội Tưởng Giới Thạch, đem theo tên tay sai Nguyễn Hải Thần và bọn phản động Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đến Hà Nội.
- Chính phủ ra sắc lệnh tổ chức Tổng tuyển cử vào ngày 23 - 12 - 1945 (sau hoãn đến 6 - 1 - 1946).
9 - 9
- Đơn vị thông tin đầu tiên của Vệ quốc đoàn được thành lập ở Hà Nội.
14 - 9
- Lư Hán, tư lệnh quân đoàn 93 Vân Nam, tổng tư lệnh quân Tưởng vào miền Bắc nước ta đến Hà Nội. Bọn phản động Việt Nam Quốc dân đảng như Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam… đã bám theo chúng về nước. Tổng số quân Tưởng vào miền Bắc là 18 vạn.
16 - 9
- Biểu tình của giới công giáo phản đối Phái bộ Anh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ ở Sài Gòn và hoan nghênh chủ trương vận động thành lập Giáo hội Việt Nam tự trị.
17 đến 24 - 9
- Tuần lễ vàng. Nhân dân Thủ đô đã ủng hộ nhà nước trên 7 triệu đồng, trong đó có 2201 lạng vàng cho Độc lập và quỹ Quốc phòng.
20 - 9
- Thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì.
22 - 9
- Chủ tịch Hồ Chí Minh vui Tết trung thu năm Việt Nam dân chủ cộng hòa thứ nhất với thiếu nhi Thủ đô tổ chức tại Hồ Gươm.
23 - 9
- Cả Hà Nội sôi sục căm thù nghe tin thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn.
27 - 9
- Đại hội Thanh niên Cứu quốc hội thành Hoàng Diệu tại Nhà hát Lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự lễ khai mạc.
Tháng 9
- Trường Quân chính Việt Nam khai giảng khóa đầu tiên tại Hà Nội.
Đầu tháng 10
- Thành lập các chi đội Vệ quốc đoàn lên đường “Nam tiến” đánh quân Pháp, tại ga Hàng Cỏ.
4 - 10
- Tướng Mỹ Mác Lơ-rơ (Mac Lure) đến Hà Nội cùng với Hà Ứng Khâm, tổng tham mưu trưởng quân Tưởng xúc tiến kế hoạch xâm chiếm Việt Nam.
- 30 vạn người xuống đường biểu dương lực lượng ủng hộ Chính phủ.
7 đến 14 - 10
- Tuần lễ văn hóa ủng hộ Nam Bộ kháng chiến.
- Triển lãm nghệ thuật đầu tiên của chế độ mới tại trụ sở của Hội Khai Trí Tiến Đức (Hàng Trống).
8 - 10
- Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự khai giảng lớp huấn luyện giảng viên bình dân học vụ đầu tiên, lấy tên là khóa Hồ Chí Minh, tại giảng đường trường Đại học Việt Nam.
11 - 10
- Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng bát gạo đầu tiên của Người nhịn ăn dành ra thực hiện khẩu hiệu “Nhường cơm xẻ áo” nhằm chống nạn đói.
24 - 10
- Bọn Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội dựa vào quân Tưởng, bắt cóc nhân viên Chính phủ ta và đòi tham gia Chính phủ.
25 - 10
- Đại hội đại biểu công nhân Bắc Bộ họp tại Hà Nội.
2 - 11
- Đại hội phụ nữ cứu quốc thành Hoàng Diệu.
5 - 11
- “Ngày Nam Bộ” được tổ chức tại Hà Nội, biểu dương ý chí quyết tâm kháng chiến chống xâm lược, thống nhất Tổ quốc.
10 - 11
- Báo Tiên phong, cơ quan của Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản số 1 tại Hà Nội.
11 - 11
- Đảng Cộng sản Đông Dương rút vào hoạt động bí mật.
- Thành lập Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương.
12 - 11
- Nguyễn Hải Thần định tổ chức mít tinh ở Bách Thảo. Thành ủy chỉ đạo phá, chúng phải vứt cờ, biểu ngữ bỏ chạy.
22 - 11
- Chính phủ ra sắc lệnh số 63/SL quy định bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính ở Hà Nội và ở 5 khu phố nội thành (Lãng Bạc, Đống Đa, Mê Linh, Đại La, Đề Thám) và 120 xã ngoại thành.
25 - 11
- Đại hội thanh niên Bắc Bộ họp tại Hà Nội.
26 - 11
- Biểu tình phản đối bọn chủ Ngân hàng Đông Dương đình chỉ đổi giấy bạc 500đ từ ngày 14 -11 - 1945. Bọn Pháp bắn vào đoàn biểu tình.
28 - 11
- Mở đầu cuộc bất hợp tác toàn diện chống thực dân Pháp, kéo dài 5 ngày.
Tháng 11
- Xuất bản tờ báo Tiếng gọi Phụ nữ, cơ quan của Đoàn Phụ nữ cứu quốc thành Hoàng Diệu.
Đầu tháng 12
- Thành lập Phòng Nam Bộ ở Hà Nội để thống nhất và đẩy mạnh phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến.
3 - 12
- Khai mạc hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số toàn quốc lần đầu tiên tại Thủ đô.
5 - 12
- Báo Sự Thật, cơ quan trung ương của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, kế tục báo Cờ Giải phóng, ra số đầu tiên tại Hà Nội.
21 - 12
- Chính phủ ra sắc luật số 77/SL quy định bầu cử Ủy ban hành chính ở 17 khu phố nội thành: Trúc Bạch, Đồng Xuân, Đông Kinh nghĩa thục, Hoàn Kiếm, Văn Miếu, Quán Sứ, Đại Học, Chợ Hôm, Thăng Long, Đông Thành, Lò Đúc, Hồng Hà, Long Biên, Đồng Nhân, Vạn Thái, Bạch Mai, Đông Mác.
31 - 12
- Chính phủ thành lập Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc.
Tháng 12
- Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm thị xã Sơn Tây xem tình hình thủy lợi.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm trường nữ học sinh Hai Bà Trưng.
Giang Quân
thanglonghanoi.gov.vn
|