tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
18.05.2010
Tư liệu
Tìm hiểu về Triều Tiên

Triều Tiên (theo cách sử dụng tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên: 조선, Chosǒn) hay Hàn Quốc (theo cách sử dụng tại Đại Hàn Dân quốc: 한국, Hanguk) hay Korea (theo cách sử dụng quốc tế và có gốc từ "Cao Ly") là một nền văn hóa và khu vực địa lý nằm tại bán đảo Triều Tiên tại Đông Á. Khu vực này giáp liền với Trung Quốc về hướng tây bắc và Nga về hướng đông bắc, với Nhật Bản ở đông nam qua eo biển Triều Tiên. Từ "Triều Tiên" có nghĩa là "(Xứ) Buổi sáng tươi đẹp".


Hiện nay Triều Tiên được chia ra hai chính thể: Đại Hàn Dân quốc ở phía nam là một nước dân chủ tự do theo kiểu phương TâyCộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở phía bắc là một nước chuyên chính cộng sản (dân chủ nhân dân).


Là một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới, Triều Tiên có lịch sử được ghi chép khoảng 3000 năm. Trong thế kỷ thứ 4, họ đã bắt đầu dùng hệ thống Hán tự và chịu ảnh hưởng của Phật giáo, và nhiều khía cạnh văn hóa khác có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội này. Sau này Triều Tiên đã đem những bước tiến này cũng như những kỹ thuật họ tự khám phá vào Nhật Bản.


Sau khi thống nhất Tam Quốc vào năm 676, Triều Tiên đã được quản lý bởi một nhà nước và giữ được độc lập về chính trị cũng như văn hóa cho đến khi bị Mông Cổ xâm lược trong thế kỷ 13. Trong nhiều thế kỷ, Triều Tiên giữ một mối liên hệ gần gũi với Trung Quốc, cường quốc trong khu vực này, trong khi đồng thời giữ bản chất của mình.


Nền văn hóa Triều Tiên đã đem lại máy in đầu tiên, đồng hồ tự gõ, máy đo lượng nước mưa và tàu chiến bọc sắt. Văn hóa Triều Tiên đến được tột đỉnh trong thế kỷ 15, dưới thời Thế Tông Đại Vương (세종대왕). Sau đó Triều Tiên lao vào cảnh đình trệ vào phần sau của nhà Triều Tiên (Joseon), và đến cuối thế kỷ 19 đã bị các đế quốc dòm ngó.


Năm 1905, Triều Tiên bị Nhật Bản đóng chiếm và trở thành thuộc địa cho đến cuối Đệ nhị thế chiến. Hoa KỳLiên Xô chiếm giữ nước này và lập ra những chính phủ trung thành với tư tưởng của họ, tạo ra tình huống ngày nay.


Tên gọi Triều Tiên


Tên gọi "Korea" xuất phát từ thời kỳ Cao Ly trong lịch sử Triều Tiên, cũng xuất phát từ nước Cao Cấu Ly. Nay tên gọi "Korea" được quốc tế sử dụng để chỉ đến cả hai nước.


Lịch sử


Đã có bằng chứng khảo cổ cho thấy loài người đã sống trên bán đảo Triều Tiên khoảng 700.000 năm trước, trong thời kỳ Hạ Đồ đá cũ. Đồ gốm Triều Tiên cổ xưa nhất có từ khoảng năm 7000 TCN, và thời kỳ Đồ đá mới bắt đầu khoảng năm 6000 TCN. Thời kỳ đồ gốm Trất Văn kéo dài từ 3500 TCN đến 2000 TCN.


Cổ Triều Tiên


Theo sự tích Đàn Quân, Triều Tiên được thành lập năm 2333 TCN. Quốc gia này được biết đến với tên Triều Tiên, thường được gọi là Cổ Triều Tiên để phân biệt với nhà Triều Tiên. Các nhà khảo cổ đã khai quật được các đồ tạo tác của Cổ Triều Tiên và các thành cổ khắp Triều Tiên và miền nam Mãn Châu.


Các tài liệu khảo cổ và sử sách cho biết nó có thể được thành lập từ một liên minh của các thành thành một nhà nước tập trung vào giữa thế kỷ 7 và 4 TCN, khi nó tự xưng là một vương triều và tuyên chiến với nhà Chu. Năm 108 TCN, nhà Hán tại Trung Quốc đã đánh bại Cổ Triều Tiên và lập ra 4 quận tại miền bắc Triều Tiên (kể cả một quận gần Bình Nhưỡng) và Mãn Châu chủ yếu để làm tiền đồn buôn bán. Đến 75 TCN, ba trong bốn quận đã bị thất thủ, nhưng còn một quận nằm dưới sự cai trị của nhà Hán cho tới năm 313.


Một quốc gia với tên gọi Thìn Quốc tồn tại ở miền nam Triều Tiên trước khi Cổ Triều Tiên bị sụp đổ. Tuy rất ít được biết về tổ chức chính trị của quốc gia này, các tạo tác bằng đồng thiếc từ thế kỷ 3 và 2 TCN đã được khai quật trong khu vực. Tam Hàn, ba liên minh có nguồn gốc từ Thìn, thay nước Thìn. Tại miền bắc, quốc gia Cao Cấu Ly đã thống nhất Phù Dư, Ốc TựĐông Uế trong lãnh thổ Cổ Triều Tiên trước kia, và tiêu diệt quận của người Hán vào năm 313.


Tam Quốc


Ba nước Cao Cấu Ly, Tân LaBách Tế (hai nước sau phát sinh từ Tam Hàn) giành quyền với nhau và thâu tính các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực. Tổ chức nhà nước tinh vi được phát triển dưới dạng Khổng giáoPhật giáo.


Cao Cấu Ly là nước mạnh nhất, nhưng luôn giao chiến với nhà Tùynhà Đường tại Trung Quốc. Trong thế kỷ thứ 7, Dượng Đế của nhà Tùy đã đem 100 vạn quân qua xâm lấn Cao Câu Ly. Tuy nhiên, người Triều Tiên, dưới sự chỉ huy của tướng Eulji Mundeok (Ất Chi Văn Đức) đã đánh bại quân Hán. Việc này đã dẫn đến sự sụp đổ của nhà Tùy. Nhà Đường cũng tiếp tục giao chiến với Cao Cấu Ly.


Tuy là nước lạc hậu nhất trong lĩnh vực văn hóa trong Tam Quốc, Tân La có một truyền thống quân sự xung quanh các chiến sĩ được gọi là hoa lang (hwarang). Thoạt tiên Tân La sáp nhập khối Kha Gia (Gaya), rồi liên minh với nhà Đường để thâu tính Bách Tế và, sau này, Cao Cấu Ly. Việc này tạo ra nhà nước thống nhất đầu tiên tại Triều Tiên, thường được gọi là Tân La Thống nhất.


Bột Hải và Tân La Thống nhất


Tân La cuối cùng đuổi được quân nhà Đường ra khỏi lãnh thổ Cao Cấu Ly. Vì lẽ đó, đến thế kỷ thứ 8, Tân La đã quản lý hầu hết bán đảo Triều Tiên và vì thế được gọi là Tân La Thống nhất. Đến cuối thế kỷ thứ 9, Tân La Thống nhất sụp đổ và thời Hậu Tam Quốc bắt đầu.


Sau khi Cao Cấu Ly sụp đổ, tướng Đại Tộ Vinh (Dae Joyeong) lãnh đạo quân dân đến khu vực Cát Lâm của Mãn Châu. Vị tướng này thành lập nước Bột Hải như nhà nước tiếp kế Cao Cấu Ly và giành lại được khu vực miền bắc bị mất. Cuối cùng, lãnh thổ Bội Hải đã trải dài từ Tùng Hoa GiangHắc Long Giang ở miền bắc Mãn Châu đến các tỉnh miền bắc Triều Tiên. Trong thế kỷ thứ 10, Bột Hải đã bị người Khiết Đan chiếm đóng.


Triều đại Cao Ly (918-1392)


Vương triều Cao Ly thay thế Tân La Thống nhất. Nhiều hoàng thân từ nước Bột Hải cũng tham gia vào quốc gia mới này, có lãnh thổ rộng hơn bán đảo Triều Tiên (xem Gian Đảo, nay dưới sự quản lý của Trung Quốc). Trong thời kỳ này, luật pháp đã được soạn ra, một hệ thống quan lại cũng ra mắt vào thời điểm này, và Phật giáo trở thành thịnh hành tại Triều Tiên.


Trong thế kỷ thứ 1011, Triều Tiên tiếp tục bị người Nữ ChânKhiết Đan tấn công tại biên giới phía bắc. Xung đột giữa các quan lại văn và võ ngày càng tăng khi các quan võ bị hạ thấp địa vị và được trả tiền ít hơn. Việc này khiến nhiều tướng cầm quân kháng cự và một số khác di cư tại nơi khác.


Trong năm 1238, quân Mông Cổ xâm chiếm Triều Tiên. Sau gần 30 năm kháng chiến, Triều Tiên tiêu tàn và hai nước ký hiệp ước có lợi cho Mông Cổ. Dưới sự điều khiển của Mông Cổ, Cao Ly tham gia vào hai cuộc xâm chiếm Nhật Bản không thành. Trong thập niên 1340, Đế quốc Mông Cổ bị nhanh chóng suy sụp vì có xung đột nội bộ. Lúc này Triều Tiên có thể cải cách chính trị mà không bị Mông Cổ quấy rối. Vào thời điểm này, tướng Lý Thành Quế (Yi Seong-gye) lập danh cho mình bằng cách đánh đuổi hải tặc Nhật Bản, được gọi là Nụy khấu (giặc lùn), đã cướp bóc từ các tàu lái buôn của Trung Quốc và Triều Tiên và tàn phá bờ biển Triều Tiên.


Triều đại Triều Tiên (1392-1905)


Năm 1392, Ly Thành Quế thành lập nhà Triều Tiên (Joseon), dời thủ đô đến Hán Thành (Hanseong) (nay là Seoul). Trong 200 năm đầu của triều đại này, lãnh thổ miền Bắc được thêm vào, diện tích đất trồng trọt được tăng gấp hai, khoa học và kỹ thuật phát triển, chữ viết mới Hangul phù hợp với tiếng Triều Tiên được sáng chế, và nhiều sách vở về giáo dục cơ bản được xuất bản, trong khi hiến pháp và luật pháp được hoàn thành.


Trong cuối thập niên 1590, Nhật Bản hai lần xâm lăng Triều Tiên nhưng không thành, gây ra nhiều sự tàn phá. Những người xâm lược đốt hết những gì họ không đem về Nhật Bản được và nhiều tạo tác văn hóa bị mất tích. Với sự giúp đỡ của quân Minh và tàu chiến bọc sắc của đô đốc Lý Thuấn Thần (Yi Sunsin), quân Joseon đẩy lùi được quân Nhật.


Tuy thế, sau sự xâm lăng của Nhật Bản, trong thập niên 16201630 nhà Joseon không thể kháng cự quân Mãn Châu. Cuối cùng nó phải công nhận nhà Thanh là triều đại tại Trung Quốc. Sau đó Triều Tiên được hai thế kỷ hoà bình. Quốc gia này đã cách ly với thế giới bên ngoài vào thời điểm này và được gọi là "Vương triều ẩn dật".


Nhà Joseon được cho là triều đại cai trị lâu dài nhất tại Đông Á.


Nhật Bản chiếm đóng


Bắt đầu từ đầu thập niên 1870, Nhật Bản bắt đầu cưỡng bức Triều Tiên ra khỏi khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc và vào khu vực của Nhật. Năm 1895, Hoàng hậu Minh Thành (Myeongseong) bị quân Nhật dưới sự chỉ đạo của Miura Goro ám sát. Sau Chiến tranh Trung-NhậtChiến tranh Nga-Nhật, Nhật Bản giành được ưu thế tại Triều Tiên. Năm 1910, Nhật Bản cưỡng bức Triều Tiên ký Điều ước Sáp nhập Hàn-Nhật.


Sự cai trị của Nhật rất tàn bạo và nhiều người Triều Tiên đã kháng cự, cuối cùng dẫn đến phong trào đòi độc lập. Phong trào này đã bị Nhật đàn áp dã man và hàng ngàn người đã bị Nhật giết hại.


Trong Đệ nhị thế chiến, nhiều người Triều Tiên đã bị cưỡng bức hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Nhật. Hàng vạn người đàn ông đã bị bắt đi lính trong quân đội Nhật, trong khi đến 200.000 phụ nữ đã bị cưỡng bức lao động hay làm nô lệ tình dục, được gọi là "úy an phụ" (慰安婦, 위안부). Khoảng 60.000 người Triều Tiên làm việc trong hầm mỏ đã bị thiệt mạng giữa 1939 và 1945, và vô số khác bị dùng làm thí nghiệm cho Đơn vị 731.


Thái độ bài Nhật vẫn còn mạnh mẽ tại Triều Tiên, đặc biệt là trong thế hệ già, vì họ tin rằng Nhật Bản không tỏ ra hối hận cho những điều sai trái này.


Đất nước chia cắt


Sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945, chính phủ đế quốc Nhật được thay thế bởi sự hiện diện của Hoa KỳLiên Xô. Liên Xô ủng hộ chính quyền miền bắc, đồng thời cũng có quan hệ với Trung Quốc; Hoa Kỳ có quan hệ gần gũi với chính quyền ở miền nam, giúp đỡ những người có kinh nghiệm dưới thời Nhật lên cầm quyền và đàn áp những người cộng sản. Người Triều Tiên bị chia rẽ: những người tay sai Nhật thiếu sự tín nhiệm của người dân, nhưng họ có nhiều kinh nghiệm và giữ quyền. Chủ nghĩa cộng sản ngày càng thâm nhập vào Triều Tiên và những người Triều Tiên đã từng chiến đấu chống Nhật cùng với Trung Quốc được nhiều quyền lực và danh tiếng.


Chiến tranh Triều Tiên và hy vọng thống nhất


Theo một số nhà khoa học chính trị, Chiến tranh Triều Tiên là kết quả trực tiếp của chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã ủng hộ những người theo chủ nghĩa chống cộng, hậu thuẫn quân đội Nam Hàn, và ảnh hưởng Liên Hiệp Quốc để ủng hộ quân đội này. Trong năm 1945, sau Đệ nhị thế chiến, Liên Hiệp Quốc dự định tạo ra một chính quyền ủy nhiệm, Hoa Kỳ điều khiển bán đảo này phía nam vĩ tuyến 38 và Liên Xô điều khiển phía bắc. Tình thế chính trị của Chiến tranh Lạnh đã dẫn đến sự hình thành của hai chính phủ.


Tuy nhiên, sau khi Hoa Kỳ rời khỏi Nam Hàn và chỉ để lại một số cố vấn, Bắc Triều Tiên tấn công vào miền nam. Chiến tranh bắt đầu vào tháng 6 năm 1950 và diễn tiến đến năm 1953. Hoa Kỳ hậu thuẫn miền nam và Trung Quốc hậu thuẫn miền bắc. Hàng triệu người Triều Tiên bị thiệt mạng. Sau ba năm dữ dội, chiến tranh kết thúc với một hiệp ước đình chiến, và ranh giới của hai nước trở lại gần như cũ (Nam Hàn chiếm được nhiều lãnh thổ hơn là mất). Hai nước vẫn chưa ký hiệp ước hòa bình. Cả hai bên đều tuyên bố thống nhất là mục đích cuối của họ.


Từ thập niên 1990, với chính quyền ở Hàn Quốc (Nam Hàn) ngày càng tự do hơn, cũng như sau cái chết của lãnh tụ cộng sản Bắc Triều Tiên Kim Nhật Thành, hai bên đã có những bước tiến đến cộng tác, trong các cuộc thi thể thao quốc tế, việc đoàn tụ thân nhân, kinh tế và du lịch.


Gần đây, trong nỗ lực hòa giải, hai quốc gia đã chọn một Cờ Thống nhất. Trong khi lá cờ này tượng trưng cho Triều Tiên trong các cuộc thi thể thao quốc tế, nó không phải là quốc kỳ của Hàn Quốc hay CHDCND Triều Tiên. Cả hai vẫn dùng quốc kỳ mà họ dùng từ khi nhà nước thành lập năm 1948.


Địa lý


Triều Tiên nằm trên bán đảo Triều Tiên tại đông bắc châu Á. Nó có ranh giới với hai quốc gia và ba biển. Ở phía tây bắc, Áp Lục Giang chia Triều Tiên ra khỏi Trung Quốc và về hướng bắc, Đồ Môn Giang tách Triều Tiên từ Nga. Hoàng Hải nằm tại hướng tây, Đông Trung Quốc Hải ở phía nam, và Biển Nhật Bản (Triều Tiên Đông Hải) ở hướng đông. Các đảo đáng kể gồm có Tể Châu Đảo, Uất Lăng ĐảoĐộc Đảo.


Phần phía nam và phía tây của vùng đất lục địa Triều Tiên là những đồng bằng phát triển, trong khi phần phía tây và phía bắc có nhiều đồi núi. Núi cao nhất Triều Tiên là núi Bạch Đầu (Baekdu) (2744 m, Trung Quốc gọi là "núi Trường Bạch"). Biên giới với Trung Quốc chạy qua dãy núi này. Phần kéo dài về phía nam của núi Bạch Đầu là một cao nguyên gọi là Gaema Gowon. Cao nguyên này chủ yếu được nâng lên vào thời Đại Tân Sinh và một phần bị bao phủ bởi tro núi lửa. Về phía nam của Gaema Gowon, nhiều dãy núi kế tiếp toạ lạc dọc theo bờ biển phía đông của bán đảo Triều Tiên. Những dãy núi này được đặt tên là Bạch Đầu đại cán (Baekdudaegan). Một số núi quan trọng bao gồm Sobaeksan (2.184 m), Baeksan (1.724 m), Kim Cương sơn (1.638 m), Seoraksan (1.708 m), Taebaeksan (1.567 m) và Jirisan (1.915 m). Có một số núi thấp hơn, những dãy núi thứ hai có hướng gần như vuông góc với hướng núi Baekdudaegan. Chúng phát triển dọc theo đường nối lục địa thời Đại Trung Sinh và hướng của chúng là tây bắc và tây tây bắc.


Tương phản với những dãy núi cổ trên lục địa, một số đảo quan trọng của Triều Tiên được hình thành bởi các hoạt động núi lửa trong thời Đại Tân Sinh gần đây. Đảo Tể Châu, tọa lạc xa về phía nam của bán đảo Triều Tiên, là một đảo núi lửa lớn với núi chính là Hán Noa (1950 m). Đảo Úc Lăng và Độc Đảo là những đảo núi lửa trên Biển Nhật Bản, mà thành phần có nhiều felsic hơn Tể Châu. Những đảo núi lửa có xu hướng trẻ hơn đối với các núi di chuyển về phía tây.


Bởi vì những vùng núi có hướng ngả về phần đông của bán đảo, những con sông lớn có xu hướng chảy về phía tây. Hai trường hợp ngoại lệ là sông Lạc Đông và sông Seomjin chảy về phía nam. Các con sông quan trọng chảy về phía tây bao gồm sông Áp Lục, sông Cheongcheon, sông Đại Đồng, sông Hán, sông Cẩmsông Vinh San. Những con sông này làm lụt các đồng bằng và cung cấp một môi trường lý tưởng cho việc trồng lúa.


Phía nam và tây nam bờ biển của bán đảo Triều Tiên là đường bờ biển Lias khá phát triển. Nó được biết đến như là Dadohae trong tiếng Triều Tiên. Đường bờ biển phức tạp tạo ra những biển ôn hòa và môi trường biển tĩnh lặng cho phép tàu thuyền đi lại an toàn, đánh cá và trồng rong biển. Thêm vào đường bờ biển phức tạp, bờ phía tây của bán đảo Triều Tiên có cường độ thủy triều rất cao (tại Nhân Xuyên, khoảng giữa bờ biển phía tây, nó cao đến 9 m). Những tấm chắn thủy triều lớn đang được phát triển trên bờ biển phía nam và tây của bán đảo Triều Tiên.


Nhân khẩu


Triều Tiên được định cư bởi một sắc tộc thuần nhất là người Triều Tiên. Họ sử dụng một ngôn ngữ riêng là tiếng Triều Tiên và hệ thống chữ viết đặc thù hangul.


Sắc tộc thiểu số sinh sống trên bán đảo Triều Tiên có thể kể tới người Hoa (khoảng gần 20.000) ([1]) chủ yếu ở Hàn Quốc. Ngoài ra có một vài nhóm cộng đồng người gốc Hoa và gốc Nhật được cho là còn định cư ở phía bắc Triều Tiên [2]).


Lực lượng lao động nước ngoài ở Hàn Quốc chủ yếu bao gồm những lao động đến từ các nước như Bangladesh, Pakistan, PhilippinesViệt Nam, tổng cộng khoảng hơn nửa triệu. Cũng có thể kể tới hơn 10.000 người Mỹ, Úc, Anh, Canada, Ireland làm công tác giảng dạy tiếng Anh tại đây. Và khoảng 30.000 lính Mỹ đồn trú thường trực trên lãnh thổ Hàn Quốc.


Tổng dân số trên bán đảo Triều Tiên là khoảng 73 triệu người.


Ngôn ngữ


Văn hóa


Trong các sách Trung Hoa cổ, Triều Tiên được nhắc đến như là "Cẩm tú giang sơn" (錦繡江山) và "Đông phương lễ nghi chi quốc" (東方禮儀之國). Trong suốt thế kỉ thứ 7 và thứ 8, buôn bán thương mại đường bộ và đường thủy nối Triều Tiên với Arabia. Xưa nhất là từ năm 845, những thương Ả Rập đề cập Triều Tiên với câu nói "Phía bên kia biển qua khỏi Trung Quốc là một đất nước nhiều đồi núi gọi là 'Silla', giàu vàng. Người Muslim lạc đến nơi đó bị thu hút bởi những tính cách ở đó đến nỗi mà họ ở lại luôn nơi đó và không muốn rời đi."


Theo sử sách Nhật Bản, các học giả Triều Tiên đã giới thiệu kiến thức và kỹ thuật của Trung Quốc, kể chữ Hán và những tác phẩm kinh điển, như Luận ngữ, vào Nhật Bản. Vào năm 554, một vương quốc Triều Tiên tên là Bách Tế gửi bác sỹ, chuyên gia dược thảo và làm lịch và thầy tu đến Nhật Bản; và năm 602, một sư Bách Tế tên là Kwalluk được gửi đi để đem các sách về thiên văn học, làm lịch, địa lýtôn giáo.


Những hội hè Triều Tiên thường phô diễn nhiều màu sắc sặc sỡ, được gán cho những ảnh hưởng từ Mông Cổ: đỏ sáng, vàng và xanh thường đánh dấu những nét truyền thống của Triều Tiên [3]. Những màu sáng này đôi lúc được thấy trong bộ quần áo truyền thống được biết đến như là hanbok.


Tôn giáo và giáo dục


Truyền thống Khổng giáo đã thống trị ý nghĩ của người Triều Tiên, cùng với các đóng góp của Phật giáo, Lão giáoShaman giáo. Tuy nhiên, từ giữa thế kỉ 20 Cơ Đốc giáo đã cạnh tranh với Phật giáo để trở thành một ảnh hưởng tôn giáo chính ở Nam Triều Tiên, trong khi tôn giáo bị cấm đoán ở Bắc Triều Tiên.


Theo thống kê năm 2003 của Nhà nước Hàn Quốc, khoảng 46% công dân cho biết là không theo một tôn giáo đặc biệt nào, trong khi Cơ Đốc giáo chiếm 27,3% tổng dân số và Phật giáo 25.3%.


Người Triều Tiên coi trọng học thức và ưu đãi giáo dục và học hỏi các kinh điển Trung Quốc; những đứa bé Yangban được giáo dục kỹ trong Hanja. Cho đến thời hiện đại, người Triều Tiên đặt nặng vào địa vị cha truyền con nối. Cho đến thế kỉ thứ 10, "địa vị cốt lõi" của một người đàn ông (xác định bởi thứ bậc của cha và mẹ anh ta) định ra vị trí xã hội của anh ta và vị trí nào trong nhà nước anh ta được chỉ định. Từ thế kỉ thứ 10 đến hết thế kỉ 19, vị trí xã hội của cha và mẹ của anh quyết định các kì thi dân sự, nếu có, anh có thể tham dự nhưng không bảo đảm sẽ có được vị trí đó.


Vào tháng 4 năm 2006, Nam Triều Tiên trở thành nước đầu tiên trên thế giới cung cấp dịch vụ nối mạng Internet tốc độ cao đến tất cả các trường tiểu học và trung học [4].


Ẩm thực


Ẩm thực Triều Tiên nổi tiếng với món kimchi, sử dụng một quá trình lên men đặc trưng để bảo quản rau cải. Ớt cũng được sử dụng nhiều, do vậy các món ăn nổi tiếng là cay. Bulgogi (bò hay heo nướng tẩm sốt), galbi (xườn) và samgyeopsal (thịt heo mỡ) là những món thịt khai vị phổ biến. Những bữa ăn Triều Tiên hay đi kèm theo súp hay món hầm, thường được làm với bột đậu dwenjang.


Thể thao


Hàn Quốc là nước chủ nhà trong Thế vận hội mùa hè 1988Seoul, giúp thúc đẩy kinh tế nước này thông qua tăng cường du lịch và sự công nhận rộng rãi hơn của thế giới. Vào thời điểm đó, Bắc Triều Tiên tẩy chay sự kiện đó với cớ là họ không được mời làm nước đồng chủ nhà.


Một đội thống nhất dưới lá Cờ Thống nhất vào năm 1991 đã thi đấu trong giải Vô địch bóng bàn thế giới lần thứ 41 ở Chiba, Nhật Bản và trong Giải bóng đá trẻ thế giới lần thứ 6 ở Lisboa, Bồ Đào Nha. Một đội tuyển của toàn bộ Triều Tiên diễu hành dưới Cờ Thống nhất trong lễ khai mạc Thế vận hội mùa hè 2000Sydney, Á vận hội 2002Busan, Thế vận hội mùa hè 2004AthenaThế vận hội mùa đông 2006Torino nhưng thi đấu riêng trong các sự kiện thể thao. Cũng như trong Á vận hội 2006, các viên chức Hàn Quốc đã công bố rằng cả hai nước sẽ thi đấu trong cùng một đội.


Vào mùa hè năm 2002, Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 được tổ chức bởi Hàn Quốc và Nhật Bản trên 10 sân vận động của mỗi nước. Tuy nhiên hai nước Triều Tiên thi đấu như hai đội khác nhau. Đã có vài đề nghị là Bắc Triều Tiên nên đứng ra làm chủ nhà cho một hay hai trận, nhưng không có điều gì như thế đã xảy ra. Trong khi Nam Triều Tiên tự động được vào vòng chung kết vì là nước đồng chủ nhà và đã vào tận bán kết (xếp thứ 4, thua Thổ Nhĩ Kỳ), Bắc Triều Tiên đã không qua được vòng loại khu vực châu Á (thuộc liên đoàn bóng đá châu Á) và không tham dự vòng chung kết.


Khoa học và kỹ thuật


Một trong những di tích nổi tiếng nhất trong lịch sử khoa học và kỹ thuật của Triều Tiên là Chiêm tinh đài (Cheomseongdae), một đài quan sát thiên văn cao 9 mét xây dựng vào năm 633. Nó phục vụ như là một trong những trạm quan sát thiên văn cổ xưa nhất của thế giới.


Tài liệu được in ấn xưa nhất trên thế giới là một quyển kinh Phật in tại Triều Tiên vào khoảng 750-751. Bản in bằng kim loại di chuyển được được phát minh ở Triều Tiên vào năm 1232, trước khi Johann Gutenberg phát triển bản in chữ bằng kim loại (Cumings 1997: 65). Mặc dù người Triều Tiên sử dụng các khuôn in bằng gỗ vào năm 751, đây là một phát triển đáng kể trong việc in ấn cho phép tiếp tục sử dụng một khuôn in cũ. Hangul, một trong những ngôn ngữ phiên âm khoa học nhất thế giới, được tạo ra bởi vua Thế Tông vào năm 1443. Một trong những đồng hồ nước tự động đầu tiên trên thế giới được sáng chế năm 1434 bởi Chang Yong-sil, người sau này phát triển các loại đồng hồ nước phức tạp hơn với các thiết bị thiên văn, đo nước, đo lượng mưa.


Trong suốt thời đại nhà Triều Tiên, tơ lụa Triều Tiên được đánh giá cao bởi Trung Quốc và đồ gốm Triều Tiên tráng men xanh có giá trị cao ở Nhật. Người Trung Quốc nghĩ rằng đồ sành sứ Triều Tiên có chất lượng cao, nhưng điều này chỉ đúng cho đến hết triều đại Cao Ly. Trong suốt giai đoạn này, Triều Tiên đạt được nhiều tiến bộ trong các nghệ thuật và đồ thủ công truyền thống, chẳng hạn như men sứ trắng, tơ lụa mịn và giấy. Cũng trong thời gian này, tàu chiến bọc sắt đầu tiên trên thế giới, Geobukseon (hay "Tàu con rùa"), được phát minh.


Tuy nhiên, sự ngưng trệ bắt đầu xảy ra trong thời gian sau của triều đại Joseon và Triều Tiên trở nên lạc hậu so với phương Tây.


Ngày nay, Nam Triều Tiên dẫn đầu thế giới với số lượng kết nối mạng Internet tốc độ cao tính trên đầu người. Nam Triều Tiên cũng là nhà sản xuất lớn các sản phẩm công nghệ cao như điện thoại di độngmàn ảnh plasma. Nam Triều Tiên cũng chỉ đứng thứ hai trên thế giới trong việc sử dụng các kỹ thuật tiêu thụ mới, chỉ sau Đài Loan [http://www.parksassociates.com/press/press_releases/2005/gdl6.html1. Bắc Triều Tiên tiếp tục sử dụng hầu hết các kỹ thuật lạc hậu từ thập niên 1960thập niên 1970.


Tham khảo


Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun, Norton, 1997. ISBN 0-393-31681-5


Kim, et al. Women of Korea: A History from Ancient Times to 1945, Ewha Womans University Press, 1976. ISBN 89-7300-116-7.


Đọc thêm


Chun, Tuk Chu. "Korea in the Pacific Community." Social Education 52 (March 1988), 182. EJ 368 177.


Cumings, Bruce. The Two Koreas. New York: Foreign Policy Association, 1984.


Focus On Asian Studies. Special Issue: "Korea: A Teacher's Guide." No. 1, Fall 1986.


Lee Ki-baik. A New History Of Korea. Cambridge: Harvard UP, 1984.


Lee Sang-sup. "The Arts and Literature of Korea." The Social Studies 79 (July-August 1988): 153-60. EJ 376 894.


 


 


Bắc Triều Tiên, Bắc Hàn, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên - là một quốc gia Đông Á trên phần phía bắc Bán đảo Triều Tiên.


Ở phía nam, nước này giáp biên giới với Hàn Quốc, hai nước từng là một quốc gia duy nhất với tên gọi Triều Tiên tới tận năm 1945. Biên giới phía bắc đa phần giáp với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Liên bang Nga có chung biên giới dài 18.3 kilômét (11.4 dặm) dọc theo Đồ Môn Giang ở góc đông bắc đất nước.


Bắc Triều Tiên là một nhà nước độc đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Triều Tiên và theo chủ nghĩa Juche, một lý tưởng tự chủ phát khởi bởi Kim Il Sung, cựu lãnh tụ của quốc gia này. Đây tuy là một quốc gia xã hội chủ nghĩa nhưng chính phủ nước này bị phần lớn cộng đồng quốc tế coi là một chế độ độc tài chuyên chế, theo kiểu chủ nghĩa Stalin. Juche dựa trên các điểm chính là tự cung tự cấp, cô lập hóa, thuyết truyền thống Triều Tiên và chủ nghĩa Marx-Lenin[1]


Lịch sử


Thời Nhật Bản thống trị Triều Tiên chấm dứt cùng với Chiến tranh thế giới thứ hai năm 1945. Triều Tiên bị Liên bang Xô Viết chiếm đóng miền bắc từ vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ chiếm miền nam vĩ tuyến 38, nhưng Hoa Kỳ và Xô Viết không thể đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên. Điều này dẫn tới việc thành lập các chính phủ riêng biệt ở miền bắc và miền nam, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên.


Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền bắc và miền nam cuối cùng dẫn tới Chiến tranh Triều Tiên, khi ngày 25 tháng 6, 1950 (Bắc) Quân đội nhân dân Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, buộc tội miền nam đã vượt qua trước, và tấn công. Cuộc chiến kéo dài tới 27 tháng 7, 1953, khi lực lượng Liên hiệp quốc và Quân đội nhân dân Triều Tiên cùng Quân tình nguyện nhân dân Trung Quốc ký kết Thoả thuận đình chiến Chiến tranh Triều Tiên. Vùng phi quân sự Triều Tiên (DMZ) phân chia hai nước.


Bắc Triều Tiên do Kim Nhật Thành (Kim Il-sung) lãnh đạo từ năm 1948 tới khi ông chết ngày 8 tháng 7 năm 1994. Sau khi ông chết, con ông là Kim Chính Nhật (Kim Jong-il) được phong làm Tổng thư ký Đảng lao động Triều Tiên ngày 8 tháng 10, 1997. Năm 1998, cơ quan lập pháp tái xác nhận ông là Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng Bắc Triều Tiên và tuyên bố rằng chức vụ đó là "vị trí cao nhất của quốc gia." Các quan hệ quốc tế của nước này nói chung đã được cải thiện, và đã có một cuộc gặp thượng đỉnh lịch sử Nam-Bắc vào tháng 6, 2000. Tuy nhiên, căng thẳng với Hoa Kỳ gần đây đã tăng lên khi Bắc Triều Tiên tiếp tục Chương trình vũ khí hạt nhân của họ.


Thời Kim Chính Nhật cầm quyền vào giữa thập kỷ 1990, nền kinh tế đất nước đã đi xuống nghiêm trọng, tình trạng thiếu lương thực diễn ra ở nhiều vùng. Theo các tổ chức viện trợ, hàng triệu người ở vùng nông thôn chết vì nạn đói, càng trầm trọng hơn vì sự sụp đổ của hệ thống phân phối lương thực.


Rất nhiều người Bắc Triều Tiên đã nhập cư trái phép vào Cộng hoà nhân dân Trung Hoa để tìm lương thực. Hwang Jang-yop, Thư ký quốc tế Đảng lao động Triều Tiên đã đào thoát sang Nam Triều Tiên năm 1997[1].


 Chính trị


Chính phủ


Chính phủ Bắc Triều Tiên bị chi phối bởi Đảng Lao động Triều Tiên (KWP), chiếm 80 phần trăm vị trí chính phủ. Ý thức hệ của KWP được gọi là Juche Sasang (주체사상 chủ thể tư tưởng), và bị coi là có liên hệ gần gũi với chủ nghĩa Stalin. KWP đã thay thế các phần có liên quan tới chủ nghĩa Mác xít – Lêninít trong hiến pháp Bắc Triều Tiên bằng Juche Sasang năm 1977. Những lời chỉ trích cộng sản của KWP phủ nhận rằng họ là một quốc gia Mác xít – Lêninít. Các đảng chính trị nhỏ có tồn tại nhưng chúng đều phụ thuộc vào KWP và không phản đối lại sự nắm quyền của nó. Cơ cấu quyền lực thực sự của đất nước hiện vẫn còn đang bị tranh cãi giữa những nhà quan sát bên ngoài.


Trên danh nghĩa, Thủ tướng là lãnh đạo chính phủ, nhưng quyền lực thực sự nằm trong tay Kim Chính Nhật, lãnh đạo KWP và quân đội. Kim giữ nhiều chức vụ, quan trọng nhất là Tổng bí thư Đảng Lao động Triều tiên, chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Triều Tiên, và tư lệnh tối cao Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Bên trong nước, ông thường được gọi là "Lãnh tụ kính yêu", một phần trong sự sùng bái cá nhân ông. Tương tự như vậy, cha ông Kim Nhật Thành được phong "Lãnh tụ vĩ đại".


Hiến pháp 1998 quy định Kim Nhật Thành là "Chủ tịch vĩnh viễn của nước Cộng hoà", và vị trí chủ tịch nước đã bị bãi bỏ sau khi ông chết. Hiến pháp trao nhiều chức năng thông thường thuộc về lãnh đạo quốc gia cho Chủ tịch đại hội nhân dân tối cao, chủ tịch của tổ chức này "đại diện cho quốc gia" và nhận quốc thư từ đại sứ nước ngoài. Chính phủ nước cộng hoà được lãnh đạo bởi Thủ tướng và, trên lý thuyết, một siêu Nội các được gọi là Uỷ ban trung ương nhân dân (CPC), cơ cấu thiết lập chính sách cao nhất của chính phủ. CPC được lãnh đạo bởi một chủ tịch, do các thành viên Uỷ ban bầu ra. CPC đưa ra các quyết định về chính sách và giám sát Nội các, hay Uỷ ban hành chính quốc gia (SAC). SAC do một thủ và cơ quan điều hành hành chính của ông lãnh đạo.


Quốc hội, là Hội nghị Nhân dân Tối cao (Choego Inmin Hoeui), theo hiến pháp là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước. 687 thành viên của nó được bầu cử phổ thông theo thời hạn năm năm. Quốc hội nhân dân họp hai kỳ một năm, mỗi kỳ chỉ kéo dài vài ngày; thường thì nó chỉ phê chuẩn những quyết định do đảng KWP lãnh đạo đưa ra (xem chỉ để phê chuẩn (Chính trị)). Một uỷ ban thường trực được Quốc hội bầu ra để thực hiện các chức năng lập pháp khi Quốc hội không họp. Chủ tịch ủy ban thường vụ quốc hội hiện nay là ông Kim Yong-nam, và chủ tịch Quốc hội là ông Choe Thae Bok.


Nhân quyền


Tổ chức Ân xá quốc tế và các tổ chức nhân quyền khác buộc tội Bắc Triều Tiên có hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất trong số tất cả các nước, hạn chế nghiêm khắc đa số các quyền tự do, gồm tự do ngôn luậntự do di chuyển, cả trong và ngoài nước.


Những người tị nạn đã xác nhận sự hiện diện của những trại giam với ước tính khoảng 150.000 đến 200.000 người, thiếu ăn, hãm hiếp, giết hại và lao động nô lệ[2]. Truyền hình Nhật Bản đã phát sóng cảnh phim mà họ cho là một trại tù[3]. Trong một số trại, những người tù cũ nói tỷ lệ chết hàng năm lên tới 25%[4]. Một cựu cai tù và là sĩ quan tình báo quân đội nói rằng trong một trại, các loại vũ khí hoá học đã được đem ra thử nghiệm trên tù nhân trong một phòng hơi độc[5]. Theo một cựu tù nhân, phụ nữ có thai trong các trại giam thường bị buộc phải phá thai hoặc đứa trẻ mới sinh sẽ bị giết[6]. Bắc Triều Tiên phủ nhận sự tồn tại của các trại và không cấp giấy phép vào trong cho bất kỳ một nhà quan sát nhân quyền độc lập nào.


Nạn đói


Nạn đói ở Bắc Triều Tiên đã giết 600.000 và 3.5 triệu người trong thập kỷ 1990[7]. Tới năm 1999, lương thực và cứu trợ nhân đạo đã làm giảm số người chết vì nạn đói, nhưng việc Bắc Triều Tiên tiếp tục chương trình vũ khí hạt nhân dẫn tới giảm sút viện trợ quốc tế.


Mùa xuân năm 2005, Chương trình lương thực thế giới báo cáo rằng các điều kiện gây ra nạn đói là một mối nguy hiểm và đang quay trở lại Bắc Triều Tiên, và chính phủ đã thông báo tập hợp hàng triệu cư dân thành phố tới giúp đỡ những người nông dân[8][9]. Tuy nhiên, chính phủ Triều Tiên báo rằng sản lượng lương thực 2005 đạt tới 4.6 triệu tấn (tăng 10% so với năm 2004), bội thu nhất trong mười năm.


Vào khoảng tháng 9 năm 2005, Bắc Hàn từ chối nhận những viện trợ lương thực từ bên ngoài vì tuyên bố đã có thể tự lập. Nhưng một số chuyên gia lo sợ nếu chấm dứt trợ giúp thì sẽ có nhiều người chết đói ở Bắc Hàn.[10]


Yếu tố Trung Quốc


Địa lý


Bắc Triều Tiên nằm ở phần phía bắc Bán đảo Triều Tiên trải dài 1.100 kilômét (685 dặm) từ lục địa Châu Á. Bắc Triều Tiên có chung biên giới với ba nước và hai vùng biển. Phía tây, nó giáp với Hoàng HảiVịnh Triều Tiên, phía đông giáp Biển Nhật Bản (Biển Đông của Triều Tiên). Biên giới trên bộ Bắc Triều Tiên giáp với ba nước Nam Triều Tiên, Trung Quốc, và Nga. Điểm cao nhất ở Triều Tiên là đỉnh Bạch Đầu 2.744 mét (9.003 ft) và các con sông chính là Đồ MônÁp Lục.


Khí hậu khá ôn hoà, lượng mưa lớn vào mùa hè với một mùa mưa ngắn gọi là jangma (gió mùa Đông Á), mùa đông thỉnh thoảng khá lạnh. Thủ đô Bắc Triều Tiên và là thành phố lớn nhất nước Bình Nhưỡng (P'yŏngyang); các thành phố chính khác gồm Khai Thành (Kaesŏng) ở phía nam, Tân Nghĩa Châu (Sinŭiju) ở phía tây bắc, Nguyên San (Wŏnsan) và Hàm Hưng (Hamhŭng) ở phía đông và Thanh Tân (Ch'ŏngjin) ở đông bắc.


 Dân cư


Dân cư Bắc Triều Tiên là một trong những dân tộc thuộc loại thuần chủng về ngôn ngữ và sắc tộc nhất trên thế giới, với chỉ một nhóm rất nhỏ thiểu số người Trung QuốcNhật Bản. Đa số các sắc dân khác chỉ là cư trú tạm thời, chủ yếu là người Nga và dân các nước Đông Âu khác, người Trung Quốc, và người Việt Nam.


Tôn giáo


Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật được sùng kính trong nhiều mặt đời sống công cộng ở Bắc Triều Tiên, thường với những tuyên bố ngụ ý kiểu sùng kính tôn giáo. Các hoạt động tôn giáo mọi kiểu bị hạn chế khắt khe bởi quan điểm vô thần của nhà nước, đặc biệt là Tin Lành, bị coi là có liên quan tới Hoa Kỳ.


Bắc Triều Tiên có chung di sản Phật giáoKhổng giáo với Nam Triều Tiên trong lịch sử xa xưa và Thiên Chúa giáo cùng các phong trào Thiên Đạo giáo (천도교) gần đây. Bình Nhưỡng từng là trung tâm các hoạt động Thiên chúa giáo trước khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra. Hiện nay có hai nhà thờ được nhà nước phê chuẩn cho tồn tại, mà những người ủng hộ tự do tôn giáo cho là có để trưng ra cho những vị khách nước ngoài.[11][12] Con số tính toán thông thường cho rằng có khoảng 4.000 người theo Thiên chúa giáo ở Bắc Triều Tiên, và khoảng 9.000 người theo Tin Lành, trong tổng dân số 20 triệu người. Các hoạt dộng Thiên Chúa Giáo và Tin Lành, do trái ngược với quan điểm chính trị của Đảng Lao Động, bị hạn chế nghiêm ngặt.


Theo một danh sách xếp hạng do tổ chức Open Doors ("Những Cánh Cửa Mở") đưa ra, Bắc Triều Tiên hiện là nước ngược đãi ghê gớm nhất đối với những người Thiên chúa giáo trên thế giới.[13]


Ngôn ngữ


Bắc Triều Tiên có chung tiếng Triều Tiên với Nam Triều Tiên. Có một số khác biệt về thổ ngữ bên trong cả hai miền Triều Tiên, nhưng biên giới giữa Bắc và Nam không thể hiện là một biên giới chính về ngôn ngữ. Đã xuất hiện một số khác biệt nhỏ, ban đầu là những từ được sử dụng trong những cải cách gần đây.


Sự khác biệt ngôn ngữ đáng chú ý nhất giữa hai nước Triều Tiên là ngôn ngữ viết, với việc hạn chế những từ gốc Hán trong sử dụng thông thường ở Bắc Triều Tiên. Trái lại ở Nam Triều Tiên các từ gốc Hán vẫn được sử dụng nhiều, dù trong nhiều trường hợp, như báo chí thì lại hiếm.


Việc La tinh hoá chữ viết cũng có khác biệt. Bắc Triều Tiên tiếp tục sử dụng hệ La tinh hoá tiếng Triều Tiên của McCune-Reischauer trong khi đó miền Nam dùng phiên bản đã sửa đổi.


Đơn vị hành chính


Tới năm 2005, Bắc Triều Tiên gồm hai thành phố trực thuộc quản lý trực tiếp của chính phủ (Chikhalsi; 직할시; 直轄市), ba vùng đặc biệt với các chức năng khác nhau, và chín tỉnh (Xem Các tỉnh Triều Tiên). (Các tên được La tinh hoá theo hệ McCune-Reischauer như được sử dụng chính thức tại Bắc Triều Tiên; người biên tập cũng được hướng dẫn theo các kiểu đánh vần được sử dụng năm 2003 Địa lý Quốc gia Bản đồ Triều Tiên).


Đối với các thông tin lịch sử, xem Các tỉnh Triều TiênCác thành phố đặc biệt Triều Tiên.


Các thành phố trực thuộc trung ương


Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có hai thành phố trực thuộc trung ương (직할시; 直轄市; Chikhalsi): Bình NhưỡngRasŏn[14] (La Tiên)


Các vùng đặc biệt


Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có 3 đặc khu: Khu công nghiệp Kaesŏng (Khai Thành), Khu du lịch Kŭmgangsan (Kim Cương Sơn) và Đặc khu hành chính Sinŭiju (Tân Nghĩa Châu).


Các tỉnh


Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có 9 tỉnh (; ; do hoặc to):


Chagang (자강도; 慈江道; Từ Giang đạo)


Hamgyŏng-puk (함경 북도; 咸鏡北道; Hàm Kính Bắc đạo)


Hamgyŏng-nam (함경 남도; 咸鏡南道; Hàm Kính Nam đạo)


Hwanghae-puk (황해 북도; 黃海北道; Hoàng Hải Bắc đạo)


Hwanghae-nam (황해 남도; 黃海南道; Hoàng Hải Nam đạo)


Kangwŏn (강원도; 江原道; Giang Nguyên đạo)


P'yŏngan-puk (평안 북도; 平安北道; Bình An Bắc đạo)


P'yŏngan-nam (평안 남도; 平安南道; Bình An Nam đạo)


Ryanggang (량강도; 兩江道; Lưỡng Giang đạo)


Các thành phố lớn


Tân Nghĩa Châu


Khai Thành


Nam Phố


Thanh Tân


Nguyên San


Hàm Hưng


Haeju


Giang Giới


Huệ San


Kinh tế


Kinh tế Bắc Triều Tiên đã rơi vào tình trạng trì trệ từ thập niên 1970. Chính phủ từ chối thông báo các dữ liệu kinh tế, hạn chế khối lượng những thông tin xác thực. Nền công nghiệp bao cấp lạc hậu xuất ra gần như toàn bộ hàng hoá tiêu thụ. Chính phủ tiếp tục chú trọng vào công nghiệp nặng quân sự.Theo số liệu nước ngoài, năm 2005, chính phủ ước tính đã chi tiêu 25% GDP quốc gia cho quân sự (so với 2.5% của nước láng giềng Nam Triều Tiên).


Trong thập kỷ 1990 nhiều thiên tai đã xảy ra ở đây, quản lý chính trị yếu kém, những vụ tham nhũng cũng xảy ra thường xuyên. Điều này, cộng với sự sụp đổ của khối Xô viết, đã gây ra sự tan vỡ kinh tế. Sản lượng nông nghiệp thấp kém, một số sản phẩm thực phẩm bị chủ ý chiếm đoạt của các công dân để dành cho quân đội. Những ảnh hưởng từ việc tự cô lập, thiếu hụt nghiêm trọng phân bón, và những hạn chế tự nhiên — như ít đất canh tác và mùa trồng trọt ngắn — đã gây ra thiếu hụt sản lượng ngũ cốc chính hơn 1 triệu tấn so với nhu cầu tối thiểu của đất nước. Những bằng chứng gần đây cho thấy nhiều vụ thiếu hụt nghiêm trọng đã xảy ra[15]. Trước đây Bắc Triều Tiên nhận được viện trợ lương thực và nhiên liệu quốc tế từ Trung Quốc, Nam Triều Tiên, và Hoa Kỳ để đổi lấy lời hứa không phát triển vũ khí hạt nhân. Tháng 6, 2005, Hoa Kỳ thông báo họ sẽ gửi 50.000 tấn lương thực để giúp đỡ Bắc Triều Tiên. Hoa Kỳ đã trao cho Bắc Triều Tiên 50.000 tấn năm 2004 và 100.000 tấn năm 2003. Ngày 19 tháng 12 2005, Bắc Triều Tiên đã được hứa viện trợ lương thực và nhiên liệu (cùng với những thứ khác), từ Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, và Trung Quốc để đổi lấy việc từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân của họ và tái tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân.


Tháng 7, 2002, Bắc Triều Tiên bắt đầu thử nghiệm mô hình kinh tế tư bản ở Khu công nghiệp Khai Thành. Một số lượng nhỏ các vùng khác cũng được chỉ định làm các đặc khu hành chính, gồm Tân Nghĩa Châu dọc theo biên giới Trung Quốc-Bắc Triều Tiên. Đại lục Trung QuốcNam Triều Tiên là những bạn hàng thương mại lớn nhất của Bắc Triều Tiên, với thương mại với Trung Quốc tăng 38% đạt $1,02 tỷ năm 2003, và thương mại với Nam Triều Tiên tăng 12% to $724 triệu năm 2003. Đã có báo cáo rằng một lượng nhỏ điện thoại di động ở Bình Nhưỡng đã tăng lên từ 3.000 năm 2002 tới gần 20.000 năm 2004. Tuy nhiên tới tháng 6, 2004, điện thoại di động đã lại bị cấm. Một số những yếu tố kinh tế thị trường bắt đầu lan ra ở vùng thử nghiệm, gồm một số bảng quảng cáo dọc theo các đường cao tốc. Những vị khách du lịch gần đây cho biết số lượng các thị trường phi bao cấp đã tăng lên ở Khai Thành, Bình Nhưỡng, cũng như dọc biên giới Trung Quốc-Bắc Triều Tiên. Hơn nữa, từ năm 1999 đã có một số cải thiện kinh tế. Theo Bộ Thống Nhất Nam Triều Tiên, GDP đã tăng 6,2% năm 1999, 1,3% năm 2000, 3,2 % năm 2001, 1,2% năm 2002 và 1,8 % năm 2003. Các con số tương tự cũng được đưa ra cho năm 2004 và 2005.


Từ năm 2002, chính phủ Triều Tiên đã bắt đầu cho phép một số chợ được hoạt động[16], nhưng có thông tin cho rằng có nhiều ràng buộc như phụ nữ dưới 49 tuổi không được phép buôn bán.[17] Một số hàng hóa cũng được liệt vào quốc cấm (như phim Hàn Quốc). Tội "xem phim Hàn Quốc" có thể bị đưa vào trại cải tạo.[18]


Năm 2003, Pong Su, một tàu chở hàng Bắc Triều Tiên được dùng để buôn lậu heroin sang Australia đã bị các quan chức Australia bắt giữ. Chính phủ Bắc Triều Tiên phủ nhận có liên quan, nhưng Australia và Hoa Kỳ cho rằng vụ Pong Su đã làm tăng lo ngại của họ rằng Bình Nhưỡng dùng thuốc phiện để giúp đỡ nền kinh tế đang suy sụp. Năm 2006, chiếc tàu Pong Su đã bị máy bay chiến đấu Australia ném bom cho chìm trong một cuộc diễn tập.[19]


Ngày 30 tháng 11 năm 2009, nhằm kìm hãm tình trạng kinh tế tuột dốc và quản lý thị trường, Chính phủ Bắc Triều Tiên bất ngờ tung ra đợt cải cách trưng thu tiền tệ, thay đổi tiền mới bằng cách gạch bỏ 2 số "0" ở tờ tiền cũ (1000 won trở thành 10 won). Người ta cho rằng việc đổi tiền này nhằm làm lộ ra lượng tài sản mà mỗi công dân có.[20] Việc hạn chế số tiền mỗi công dân có thể có còn nhằm hạn chế việc kinh doanh buôn bán của nhân dân. Được biết một số người đã đốt tiền để phản đối việc đổi tiền mới. Một số thương nhân đã tự sát.[21] Việc đổi tiền này cũng như việc hạn chế kinh doanh tư nhân đã gây nhiều chấn động về kinh tế, xã hội lẫn chính trị cũng như bất ổn dân sự [22]. Kết quả là chính phủ đã phải nhân nhượng, cho mở lại các chợ tư nhân, khi xã hội dân sự bắt đầu có phản kháng như là biểu tình, bất ổn dân sự, thậm chí cả các vụ tấn công nhân viên chính phủ và các thương nhân giữ lại hàng vì không muốn dùng tiền mới [22].


Văn hoá


Có một sự sùng bái cá nhân rộng rãi đối với Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật, và đa số văn học, âm nhạc đại chúng, nhà hát, phim ảnh ở Bắc Triều Tiên đều là để ca ngợi hai bố con. Tháng 7, 2004, Quần thể lăng mộ Cao Cú Ly là địa điểm đầu tiên ở Bắc Triều Tiên được đưa vào danh sách Các di sản văn hoá thế giới của UNESCO.


Một sự kiện đại chúng ở Bắc Triều Tiên là thể dục đồng diễn (Mass Games). Mass Games lớn nhất gần đây được gọi là "Arirang". Nó được trình diễn sáu tối một tuần trong hai tháng và có hơn 100.000 người tham gia. Mass Games gồm nhảy múa, thể dục và múa kiểu ba lê để kỷ niệm lịch sử Bắc Triều Tiên và Đảng KWP. Mass Games được tổ chức ở Bình Nhưỡng tại nhiều địa điểm (tuỳ theo tầm vóc của lễ hội theo từng năm) kể cả ở Nhà hát Lớn Mùng 1 Tháng 5.


 Du lịch


Theo nguyên tắc, bất kỳ ai cũng được phép du lịch tới Bắc Triều Tiên, và những ai có thể hoàn thành quá trình làm thủ tục thì đều không bị Bắc Triều Tiên từ chối cho nhập cảnh. Khách du lịch không được đi thăm thú bên ngoài vùng đã được cho phép trước mà không được hướng dẫn viên người Triều Tiên cho phép.


Những khách du lịch có hộ chiếu Hoa Kỳ nói chung đều không được cấp visa, dù vẫn có một số ngoại lệ từng xảy ra vào năm 1995, 2002, và 2005. Bắc Triều Tiên đã thông báo cho những nhà tổ chức du lịch rằng họ sẽ cấp visa cho những người mang hộ chiếu Hoa Kỳ vào năm 2006. Các công dân Nam Triều Tiên cần có giấy phép đặc biệt của cả hai chính phủ mới được vào Bắc Triều Tiên. Năm 2002, vùng xung quanh núi Kim Cương, một ngọn núi đẹp gần biên giới Nam Triều Tiên, đã được chỉ định làm một địa điểm du lịch đặc biệt (Khu du lịch Kim Cương San), nơi các công dân Nam Triều Tiên không cần giấy phép đặc biệt. Các tour du lịch do các công ty tư nhân điều hành đã đưa hàng nghìn người Nam Triều Tiên tới núi Kim Cương hàng năm.


Tháng 7, 2005 công ty Hyundai của Nam Triều Tiên đã đạt được một thoả thuận với chính phủ Bắc Triều Tiên về việc mở cửa thêm nhiều khu du lịch, gồm cả núi Bạch ĐầuKhai Thành.


Chương trình hạt nhân


Bắc Triều Tiên đã có một chương trình hạt nhân mà theo họ là đủ khả năng tạo ra bom hạt nhân. Chương trình hạt nhân này thường gây ra tranh cãi trên bình diện quốc tế.


Thống nhất và đối đầu


Bắc Triều Tiên đã từng có chủ trương thống nhất bán đảo Triều Tiên bằng vũ lực và đã có cuộc chiến nhằm giải phóng tổ quốc. Chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên luôn gây lo ngại cho Hàn Quốc và nhiều nước láng giềng. Khi Hàn Quốc tuyên bố sẽ tấn công phủ đầu nhằm phá huỷ các cơ sở vũ khí hạt nhân nếu Bắc Triều Tiên tìm cách phát động một cuộc chiến tranh hạt nhân thì Bình Nhưỡng đe doạ sẽ huỷ diệt Hàn Quốc:[23]


"Mọi thứ sẽ tan thành tro bụi chứ không chỉ là một biển lửa một khi chúng ta ra đòn phủ đầu."


Hoặc gần đây họ tiếp tục đe dọa vì các nhà hoạt động xã hội Hàn Quốc thả truyền đơn chống đối qua biên giới, cũng như việc báo giới Hàn Quốc đăng tin sức khỏe nhà lãnh đạo Kim Jong-Il đang xấu đi.


"Những con rối Seoul cần nhớ rằng Triều Tiên có khả năng tấn công phủ đầu và hủy diệt mọi thứ, biến chúng thành tro bụi chứ không chỉ đẩy chúng vào biển lửa".


Vì theo Bình Nhưỡng khả năng tấn công phủ đầu của họ là "ngoài sức tưởng tượng và sức tàn phá còn mạnh hơn vũ khí nguyên tử"[24].


Nguồn: wikipedia.org


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »