Hải Phòng là một thành phố cảng và công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam và là một thành phố biển nằm trong Vùng duyên hải Bắc Bộ, còn là 1 trong 28 tỉnh/thành phố duyên hải .
Hải Phòng là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương và là một đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam, có vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước. Là thành phố cảng, cửa chính ra biển quan trọng của Việt Nam, là đầu mối giao thông quan trọng Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc. Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc. Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong những động lực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Là Trung tâm kinh tế - khoa học - kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.(Quyết định 1448 /QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ). Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số Hải Phòng là 1.837.302 người, trong đó dân cư thành thị 847.058 người chiếm 46,1%, dân cư nông thôn 990.244 người chiếm 53,9%.
Hải Phòng còn được biết đến với các tên gọi không chính thức như Thành phố Hoa Phượng Đỏ (do thành phố trước đây trồng nhiều cây phượng), Thành phố Cảng (đây là tên gọi không chính thức phổ biến ở miền Bắc trước 1975 do lúc đó Hải Phòng là thành phố cảng lớn nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
Hoa phượng vĩ là một biểu tượng của thành phố cảng Hải Phòng. Loài cây này được trồng nhiều bên các con đường trong thành phố. Hàng phượng đẹp nhất, rực rỡ nhất mang tính biểu tượng của thành phố được trồng gần khu vực quảng trường Nhà Hát lớn thành phố và quán hoa Hải Phòng. Trước đây, đường Năm cũ chạy từ quán Toan về trung tâm thành phố trồng rất nhiều cây phượng, cứ vào tháng 5 là hoa phượng ở đây nở đỏ rực cả bầu trời. Bất kỳ ai vào Hải Phòng qua con đường này vào mùa hè thời bấy giờ đều được chứng kiến cảnh tượng hoa phượng nở, ấn tượng không thể gặp ở nơi khác. Tuy nhiên những năm gần đây, những đường phố cũ được mở rộng, những hàng phượng vĩ cổ thụ cũng bị chặt đi nhiều, những cây phượng mới trồng thì còn nhỏ và cũng ít hoa hơn trước, nhiều hàng phượng mới trồng thậm chí còn không nở hoa. Do vậy, ấn tượng về "Hoa phượng đỏ" Hải Phòng ngày nay không còn được như xưa.
Hải Phòng là trụ sở Bộ Tư lệnh Hải quân, Trụ sở của Bộ tư lệnh Quân khu 3.
Hải Phòng có nhiều khu công nghiệp, thương mại lớn và trung tâm dịch vụ, du lịch, thủy sản, giáo dục và y tế của vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam. Địa lí
Hải Phòng là một thành phố ven biển, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp biển Đông.
Đồi núi, đồng bằng
Địa hình phía bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam ra biển. Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại đá cát kết, phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển, chia ra làm hai dãy chính:
Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu
Dãy Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An Sơn - Núi Đèo gồm hai nhánh:
Nhánh An Sơn - Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết có hướng tây bắc đông nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng, Núi Đèo
Nhánh Kỳ Sơn - Trang Kênh có hướng tây tây bắc - đông đông nam gồm nhiều núi đá vôi
Sông
Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, trung bình từ 0,6 - 0,8 km trên 1 km².
Sông Đá Bạc - Bạch Đằng dài hơn 32 km, là nhánh của sông Kinh Môn đổ ra biển ở cửa Nam Triệu, là ranh giới giữa Hải Phòng với Quảng Ninh.
Sông Cấm dài trên 30 km là nhánh của sông Kinh Môn, chảy qua nội thành và đổ ra biển ở cửa Cấm.
Sông Lạch Tray dài 45 km, là nhánh của sông Kinh Thầy, từ Kênh Đồng ra biển bằng cửa Lạch Tray qua địa phận Kiến An, An Hải và cả nội thành.
Sông Văn Úc dài 35 km chảy từ Quí Cao, đổ ra biển qua cửa sông Văn Úc làm thành ranh giới giữa hai huyện An Lão và Tiên Lãng.
Sông Thái Bình là ranh giới giữa Hải Phòng với Thái Bình.
Các sông khác: sông Giá, sông Đa Độ, sông Tam Bạc.
Bờ biển và biển
Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km, thấp và khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra biển.
Thời tiết Hải phòng mang tính chất đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Tuy nhiên, Hải Phòng có một chút khác biệt so với Hà Nội về mặt nhiệt độ và thời tiết. Do cạnh biển, thành phố này ấm hơn 1 độ vào mùa đông và mát hơn 1,2 độ vào mùa hè.Ngoài ra, thành phố trồng rất nhiều cây nên không khí ở đây kể cả vào ngày trời nóng vẫn rất thoáng đãng và trong lành, các đường phố có nhiều bóng cây râm mát
Hành chính
Thành phố Hải Phòng gồm 7 quận nội thành, 6 huyện ngoại thành và 2 huyện đảo ; (70 phường, 10 thị trấn và 147 xã). Lịch sử
Hải Phòng là vùng đất cổ đã nổi tiếng trong lịch sử khi nữ tướng Lê Chân khai phá lập nên trang An Biên ở đây, và được gắn với các cái tên Hải tần phòng thủ. Thời kỳ độc lập tự chủ của các triều đại phong kiến Việt Nam, vùng này lại nổi tiếng với các chiến thắng trên sông Bạch Đằng: trận Bạch Đằng, 938 của Ngô Quyền, trận Bạch Đằng, 981 của Lê Hoàn, trận Bạch Đằng, 1288 của Trần Hưng Đạo.
Thời Hậu Lê (giai đoạn Lê sơ), vùng này nằm trong xứ Hải Dương (là miền cực đông duyên hải của xứ này).
Thời Nhà Mạc: vì đây là quê hương của nhà Mạc nên vùng này được chú ý xây dựng thành kinh đô thứ hai gọi là Dương Kinh.
Sau đó, từ nhà Lê trung hưng đến nhà Nguyễn vùng này đều thuộc trấn Hải Dương và sau này là tỉnh Hải Dương (1831).
Năm 1871 - 1873, Bùi Viện, được sự tiến cử với vua Tự Đức của Doanh điền sứ Doãn Khuê, đã thực hiện việc xây dựng một bến cảng bên cửa sông Cấm mang tên Ninh Hải và một căn cứ phòng ngự bờ biển ở liền kế bên, gọi là nha Hải phòng sứ[1]. Khi Pháp đánh chiến Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873-1874, nhà Nguyễn phải ký hòa ước Giáp Tuất, trong đó quy định nhà Nguyễn phải mở cửa thông thương các cảng Ninh Hải (Hải Phòng) thuộc tỉnh Hải Dương và Thị Nại tỉnh Bình Định, để đổi lấy việc Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ. Sau đó tại cảng Ninh Hải này, nhà Nguyễn và Pháp lập nên một cơ quan thuế vụ chung, quản lý việc thương mại ở vùng cảng này gọi là Hải Dương thương chính quan phòng. Như vậy, nguồn gốc địa danh Hải Phòng có thể là từ:
Tên gọi rút ngắn trong cụm từ Hải tần phòng thủ, của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỉ 1.
Tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương: Hải Dương thương chính quan phòng
Tên Hải Phòng có thể bắt nguồn từ ti sở nha Hải phòng sứ hay đồn Hải Phòng do Bùi Viện lập từ năm 1871 đời Tự Đức, với căn cứ như sau: "Bến cảng trên sông Cấm trước khi gọi là Hải Phòng đã được gọi là Ninh Hải, địa danh Ninh Hải được dùng chính thức trong giấy tờ, sử sách của ta từ trước khi có tên Hải Phòng cho đến khi bị tên Hải Phòng loại hẳn"
Năm 1887, người Pháp tách vùng lân cận cảng Ninh Hải ra từ tỉnh Hải Dương để cho thành lập tỉnh Hải Phòng.
Ngày 19 tháng 7 năm 1888, Tổng thống Pháp Sadi Carnot kí sắc lệnh thành lập thành phố Hải phòng - thành phố Hải Phòng chính thức có tên trên bản đồ Liên bang Đông Dương. Theo sắc lệnh thành phố Hải phòng được tách ra từ tỉnh Hải phòng, phần còn lại của tỉnh Hải phòng lập thành tỉnh Kiến An. Về mặt hành chính, thành phố Hải Phòng là một nhượng địa nên thời kỳ này thuộc quyền trực trị của Pháp thay vì dưới thể chế bảo hộ của xứ Bắc Kì.
Từ năm 1945 đến năm 1954: kháng chiến chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh.
Ngày 13 tháng 5 năm 1955: Quân đội nhân dân Việt nam tiếp quản thành phố Hải Phòng từ tay Pháp
Năm 1962: tỉnh Kiến An được nhập về thành phố Hải Phòng.
Kinh tế, thương mại
Hải Phòng là một trong những trung tâm kinh tế quan trọng của Việt Nam, đóng góp ngân sách đứng thứ 4 sau Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, và Hà Nội). Năm 2008, thu ngân sách nhà nước của địa phương đạt 24.000 tỉ đồng. Năm 2006 đóng góp khoảng 9.752 tỷ đồng và năm 2007 là 12.000 tỉ đồng. Xem thêm Dự toán thu ngân sách năm 2006 của các tỉnh thành Việt Nam.
Một số chợ tiêu biểu
Chợ Sắt
Chợ Hàng
Chợ Tam bạc
Chợ Ga
Chợ An Dương
Chợ Con
Chợ hoa Hạ Lũng
Chợ Hàng Gà
Trung tâm thương mại, siêu thị
TTTM Minh Khai (Phố Minh Khai, quận Hồng Bàng). Trong thời kỳ bao cấp, đây là cửa hàng bách hóa tổng hợp lớn nhất thành phố và thường được gọi không chính thức là Tổng hợp Mới để phân biệt với cửa hàng bách hóa tổng hợp xây dựng trước đó ở phố Lê Lai, Ngã Năm.
TTTM Parkson Plaza (Đường Lê Hồng Phong, quận Ngô Quyền)
Siêu thị BigC (Đường Lê Hồng Phong, quận Ngô Quyền)
Siêu thị Metro (Đường Hồng Bàng, quận Hồng Bàng)
Siêu thị Ánh dương (Phố Trần Phú, quận Ngô Quyền) Đây là một trong những siêu thị đầu tiên tại Hải Phòng nhưng hiện tại đã đóng cửa.
Siêu thị Kiến An (Quận Kiến An)
Siêu thị Intimex (Phố Lạch tray, quận Ngô Quyền)
Một số khu công nghiệp
Khu công nghiệp Nomura [1] Liên doanh giữa Việt nam và Nhật, thành lập từ năm 1994 với thời hạn hoạt động 50 năm. Khu công nghiệp Nomura có diện tích 153 ha, nằm ngay cạnh quốc lộ 5 đi Hà Nội và cách trung tâm thành phố 13 km, cách cảng Hải Phòng 15 km, cách sân bay Cát Bi 20 km.
Khu công nghiệp Đình Vũ [2] Liên doanh giữa thành phố Hải Phòng, tập đoàn AIG của Mỹ và tập đoàn IPEM của Bỉ, thành lập năm 1997, có thời hạn hoạt động 50 năm. Khu công nghiệp Đình Vũ có diện tích 945 ha, nằm trên bán đảo Đình Vũ (quận Hải An) cách trung tâm thành phố 7 km. Trong khu công nghiệp này có cảng cho container, hàng rời, hàng tổng hợp với công suất 20.000 DWT và cảng hàng lỏng 10.000 DWT.
Khu công nghiệp Đồ Sơn [3] Liên doanh giữa Hải Phòng và công ty Asia Glorious Development (Hồng Kông), thành lập năm 1997 với dự kiến công năng ban đầu là khu chế xuất với tên gọi là Khu chế xuất Hải Phòng 96, sau đó điều chỉnh thành khu công nghiệp và đi vào hoạt động từ năm 2004 với giai đoạn 1 có diện tích 150 ha. Khu công nghiệp Đồ Sơn nằm ven đường 353 từ Hải Phòng đi Đồ Sơn.
Khu công nghiệp An Dương(An Dương)Khu hợp tác thương mại Việt Trung ( Hải Phòng- Thẩm Quyến)Chủ đầu tư Công ty TNHH liên hợp đầu tư Thâm Việt,
Khu công nghiệp tổng hợp cầu Kiền (An Dương)
Khu công nghiệp Tràng Duệ (An Dương)
Khu công nghiệp - Đô thị Tràng Cát Dự án liên doanh giữa Công ty CP Phát triển Đô thị Kinh Bắc và Tập đoàn Hồng Hải (Foxconn) - Đài Loan với quy mô diện tích lên tới hơn 1000ha tại Tràng Cát - Quận Hải An - TP Hải Phòng, bao gồm: khu công nghiệp (300ha), khu sân golf (200ha) và khu đô thị (360ha).
Cụm công nghiệp Vĩnh Niệm ( Q Lê Chân)
Cụm công nghiệp Sở Dầu (Q Hồng Bàng)
Cụm công nghiệp Đặng Cương (An Dương)
Cụm công nghiệp Gia Minh (Thuỷ Nguyên)
Cụm công nghiệp Tân Liên (Vĩnh Bảo)
Cụm công nghiệp An Tràng (An Lão)
Cụm công nghiệp Trường Sơn (An Lão)
Cụm công nghiệp thị trấn Tiên Lãng (Tiên Lãng)
Cụm công nghiệp Tiên Cường (Tiên Lãng)
Khu đô thị, công nghiệp và dịch vụ tại Hải Phòng Chủ đầu tư Công ty cổ phần Phát triển Đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam-Singapore (VSIP JSC)
Cụm công nghiệp đóng tàu trọng tải 30.000 tấn xã An Thọ và Chiến Thắng(An Lão) Công ty cổ phần Tập đoàn Vina Megastar làm chủ đầu tư.
Công ty Cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Shinec, đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật
Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền (Vinashin-Shinec). Chủ đầu tư Công ty Cổ phần công nghiệp tàu thuỷ Shinec, đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật quy mô hơn 263 ha
Khu công nghiệp Nam Đình Vũ (khu 1 và khu 2).
Khu 1, khu công nghiệp Nam Đình Vũ có quy mô diện tích 1344 ha bao gồm khu phi thuế quan có diện tích 448 ha, nằm trên địa bàn hai phường Đông Hải và Tràng Cát, quận Hải An, Thành phố Hải Phòng. Công ty cổ phần đầu tư Nam Đình Vũ làm chủ đầu tư. Khu 2, khu công nghiệp Nam Đình Vũ có quy mô 658 ha, do công ty cổ phần Hapaco làm chủ đầu tư.
Cửa khẩu quốc tế
Cảng Hoàng Diệu
Cảng Chùa Vẽ,
Cảng Đình Vũ
Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng
Bến tầu khách quốc tế Hoàng Diệu.
Sân bay Cát Bi
Hải Quan
Cảng Hoàng Diệu
Cảng Chùa Vẽ, cảng Đình Vũ
Sân bay Cát Bi
Giao thông
Hải Phòng có đầy đủ các hệ thống giao thông là đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không.
Hệ thống cảng biển
Cảng Hải Phòng cùng với Cảng Sài Gòn là 1 trong 2 hệ thống cảng biển lớn nhất Việt Nam.
Cảng Chính Hoàng Diệu
Cảng Chùa Vẽ
Cảng Hoàng Diệu
Cảng Tranvina
Cảng Green Port
Cảng Vật Cách
Cảng Đoạn Xá
Cảng Cửa Cấm
Cảng Đình Vũ
Cảng PTSC
Tân Cảng Hải Phòng
Cảng 128 Quân đội
Cảng Cá hộp
Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện Hải Phòng
Cảng Xăng dầu Thượng Lý
Cảng Đài Hải
Cảng TOTAL GAS Hải Phòng
Cảng Xăng Dầu PETEC Hải Phòng
Cảng Thăng Long
Cảng Xi măng CHINFON
Bến tầu khách quốc tế Hoàng Diệu.
Bến tầu khách Cát Bà
Bến tầu khách Gia Luận
Bến tầu khách Bến Bèo
Hệ thống cảng sông, tuyến đường sông
Cảng sông Vật Cách
Cảng sông Sở Dầu
Bến tầu khách Cửa Cấm
Tuyến phía Bắc: Hải Phòng-Quảng Ninh-Hải Dương-Hà Nội-Tuyên Quang-Việt Trì-Hoà Bình-Lào Cai.
Tuyến phía Nam: Hải Phòng - Hà Nội - Thái Bình - Nam Định - Ninh Bình.
[sửa] Đường sắt
Hải Phòng có một tuyến đường sắt là tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, do Pháp xây dựng từ năm 1901 đến ngày 16.6.1902 thì hoàn thành và đưa vào sử dụng. Hiện được sử dụng để vận chuyển hành khách và hàng hóa, tuyến đường sắt này đang có kế hoạch được nâng cấp và điện khí hóa[4][5].
Cùng với ga Huế và ga Nha Trang, ga Hải Phòng nằm trong số ít những ga đường sắt rất đẹp vẫn còn giữ được nguyên vẹn nét kiến trúc thời Pháp thuộc.
Hàng không
Sân bay Cát Bi
Sân bay Kiến An (Đại bản doanh của không lực hải quân VN, do Bộ Quốc phòng quản lí)
Sân bay quốc tế Tiên Lãng (Dự án, là sân bay cấp vùng tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, quy mô khoảng 2.100 ha (7.000 m x 3.000 m).)
Đường bộ
Quốc lộ 5A: chiều dài 29,0 km.Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng:chiều dài toàn tuyến 101km
Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng: chiều dài 33,5 km lộ giới 100 m.Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng:chiều dài toàn tuyến 105,5km
Quốc lộ 10: chiều dài 52,5 km, lộ giới 61,5 m. Uông Bí - Hải Phòng - Thái Bình - Nam Định - Ninh Bình - Thanh Hóa:chiều dài toàn tuyến 151km
Đường xuyên đảo Hải Phòng - Cát BàToàn tuyến dài 35 km.
Quốc lộ 37: chiều dài 20,1 km, lộ giới 52,0 m.
Đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh(Đường cao tốc ven biển): (Dự án. chiều dài qua địa bàn 43,8 km, lộ giới 120,0 m)
Đường bộ ven biển Việt Nam (Chiều dài 3.127 km, đi qua tất cả các tỉnh ven biển, đây có thể coi là tuyến đường bộ dài nhất Việt Nam. Tổng chiều dài các đoạn tuyến đã có đường hiện tại là 1.800,86 km, chiếm 59,21%; các đoạn đã có dự án là 257,01 km, chiếm 9,04%; các đoạn đã có quy hoạch là 224,47 km, chiếm 7,38% )Giai đoạn I (từ nay đến năm 2020) sẽ tập trung xây dựng các đoạn tuyến tại các vùng kinh tế trọng điểm và 15 khu kinh tế ven biển đã được xác định trong Quyết định số 1353/QĐ-TTg ngày 23/9/2008.
Bến xe
Niệm Nghĩa (quận Lê Chân)
Cầu Rào (quận Ngô Quyền)
Tam Bạc(quận Hồng Bàng)
Lạc Long (quận Hồng Bàng)
Đình Vũ (quận Hải An)
Đồ Sơn (quận Đồ Sơn)
Kiến An (quận Kiến An)
Thuỷ Nguyên ( Thuỷ Nguyên)
Kiến Thuỵ (Kiến Thuỵ)
Tiên Lãng (Tiên Lãng)
Vĩnh Bảo (Vĩnh Bảo)
Cát Hải (Cát Hải)
Cầu
Cầu Bính bắc qua sông Cấm nối giữa quận Hồng Bàng và huyện Thủy Nguyên
Cầu Kiền bắc qua sông Cấm, nằm trên quốc lộ 10 nối giữa huyện An Dương và huyện Thủy Nguyên
Cầu Lạc long bắc qua sông Tam Bạc, thuộc quận Hồng Bàng
Cầu Thượng Lý bắc qua sông đào Thượng Lý, thuộc quận Hồng Bàng
Cầu Quay còn gọi là cầu Xe Lửa, bắc qua sông Tam Bạc
Cầu Rào bắc qua sông Lạch Tray, nối phố Lạch Tray với đường Phạm Văn Đồng
Cầu Rào 2 (Đang xây dựng) bắc qua sông Lạch Tray, nối phố Hồ sen kéo dài với đường Phạm Văn Đồng
Cầu Niệm bắc qua sông Lạch Tray, nối phố Trần Nguyên Hãn với phố Trường Chinh
Cầu An Dương Bắc qua sông Lạch Tray, nằm trên phố Tôn Đức Thắng, giữa quận Lê Chân và huyện An Dương
Cầu An Đồng bắc qua sông Lạch Tray, nằm trên đường Nguyễn Văn Linh, giữa quận Lê Chân và huyện An Dương
Cầu Kiến An bắc qua sông Lạch Tray, nối giữa quận Kiến An và huyện An Dương
Cầu Khuể (đang xây dựng), bắc qua sông Văn Úc
Cầu Trạm Bạc,bắc qua sông Lạch Tray, nối An Duơng - An lão
Cầu Đá Bạc, nối Hải Phòng - Quảng Ninh, bắc qua sông Bạch đằng
Cầu Giá, bắc qua sông giá Thủy Nguyên
Cầu sông Mới bắc qua sông đào Tiên Lãng
Cầu Nghìn, nối Hải Phòng-Thái Bình, qua sông Hóa.
Cầu Tiên Cựu, qua sông VĂn úc, nối An Lão - Tiên Lãng
Cầu Quý Cao, bắc qua sông Thái Bình, nối Hải duơng - Vĩnh Bảo
Đình Vũ (Dự án) Đình Vũ - Cát Hải
Giao thông đô thị
Thành phố Hải phòng có khoảng 500 tuyến đường phố, nằm trong 7 quận nội thành. Đường dài nhất là đường Phạm Văn Đồng, dài 14.5km, bắt đầu từ cầu Rào và kết thúc ở đầu đường vào khu du lịch Đồ sơn. Ngắn nhất là phố Đội Cấn, nối từ phố Lê Lợi đến phố Lương Văn Can thuộc quận Ngô Quyền, chỉ dài hơn 70 mét.
Các đường phố lớn
Đường Phạm Văn Đồng (Quận Dương kinh, quận Đồ sơn)
Đường Lê Hồng Phong (Quận Ngô Quyền, quận Hải an)
Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (Quận Ngô Quyền, quận Hải an)
Đường Nguyễn Văn Linh (Quận Lê Chân, huyện An Dương)
Đường Tôn Đức Thắng (Quận Lê Chân, huyện An Dương, quận Hồng Bàng)
Phố Trường Chinh (Quận Kiến an)
Phố Trần Tất Văn (Quận Kiến An)
Phố Lê Duẩn (Quận Kiến an)
Phố Trần Thành Ngọ (Quận Kiến an)
Phố Văn Cao (Quận Ngô Quyền, quận Hải an)
Phố Lạch tray (Quận Ngô Quyền)
Phố Đà Nẵng (Quận Ngô Quyền)
Phố Lê Lợi (Quận Ngô Quyền)
Phố Cầu Đất (Quận Ngô Quyền)
Phố Lương Khánh Thiện (Quận Ngô Quyền)
Phố Điện Biên Phủ (Quận Ngô Quyền, quận Hồng Bàng)
Phố Tô Hiệu (Quận Lê Chân)
Phố Trần Nguyên Hãn (Quận Lê Chân)
Phố Nguyễn Đức Cảnh (Quận Lê Chân)
Phố Hai Bà Trưng (Quận Lê Chân))-(tên cũ là Cát dài, một trong những con đường đầu tiên của thành phố này)
Phố Quang Trung (Quận Hồng Bàng)
Phố Nguyễn Tri Phương (Quận Hồng Bàng)
Phố Trần Phú (Quận Hồng Bàng)
Phố Bạch Đằng (Quận Hồng Bàng)
Phố Đinh Tiên Hoàng (Quận Hồng Bàng)
Phố Hoàng Văn Thụ (Quận Hồng Bàng)
Phố Hoàng Diệu (Quận Hồng Bàng)
Giáo dục, Y tế
Các trường Đại học
Đại học Hàng hải Việt Nam (484 Lạch Tray, quận Ngô Quyền)
Đại học Y Hải Phòng (Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận Ngô Quyền)
Đại học Hải Phòng (171 Phan Đăng Lưu, quận Kiến An)
Đại học Dân lập Hải Phòng (phố Dân lập, quận Lê Chân)
Các trường Cao đẳng
Trường Cao đẳng nghề Hải phòng
Trường Cao đẳng nghề Vinashin
Trường Cao đẳng nghề Duyên Hải
Trường Cao đẳng thủy sản Hải phòng
Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Hải phòng
Trường Cao đẳng Y tế Hải phòng
Trường Cao đẳng Cộng đồng
Trường cao đẳng Hàng Hải 1
Trường Cao đẳng Bách Nghệ
Trường Cao đẳng Công nghệ Viettronics
Trường Cao đẳng giao thông vận tải TW 2
Trường Cao đẳng Nghề Bắc Nam
Trường Cao đẳng Văn Hóa nghệ thuật Hải Phòng
Trường Cao đẳng Nghề số 3 (QK3)
Trường Cao đẳng GT Công Chính
Trường Cao đẳng công nghiệp
Các bệnh viện lớn
Bệnh viện đa khoa Việt Tiệp Hải Phòng (phố Nhà thương, quận Lê Chân)
Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng (phố Trần Quang Khải, quận Hồng bàng)
Bệnh viện trẻ em Hải Phòng (phố Trường Chinh, quận Kiến An)
Bệnh viện đa khoa Kiến An (Quận Kiến An)
Bệnh viện lao Hải Phòng (Quận Kiến An)
Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Phòng (phố Nguyễn Đức Cảnh, quận Lê Chân)
Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng (Đông Khê, quận Ngô Quyền)
Viện Quân Y 7 (phố Bến Bính, quận Hồng Bàng)
Viện Y học biển Việt Nam (Đường Nguyễn Văn Linh, quận Lê Chân)
Viện Y học Hải Quân (Đường Phạm Văn Đồng, quận Dương Kinh)
Viện Mắt Hải Phòng
Các trường Trung học phổ thông nổi tiếng
Trường Trung học phổ thông chuyên Trần Phú, Hải Phòng (Số 12 phố Trần Phú, quận Ngô Quyền)
Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, Hải Phòng ( Số 2 phố Mê Linh, quận Lê Chân)
Trường Trung học phổ thông Thái Phiên, Hải Phòng ( Số 258 phố Đà Nẵng, quận Ngô Quyền) '
Văn hóa
Lễ hội
Hội chọi trâu Đồ sơn
Hội vật cầu làng Kim (Kim Sơn, Kiến Thuỵ) sáng mồng 6 tháng Giêng
Lễ hội đua thuyền rồng trên biển Đồ Sơn: sáng mùng 4 Tết âm lịch Canh Dần (ngày 17-2), tại bãi biển khu 1 (Đồ Sơn)
Đình,Chùa
Đình Hàng kênh tên chữ là Nhân Thọ còn có tên là đình Rồng Bay toạ lạc trên đường Nguyễn Công Trứ, Hàng Kênh
Đền Nghè - ngôi đền thờ nữ tướng Lê Chân, người có công khai phá, tạo dựng vùng đất Hải Phòng
Chùa Dư Hàng có tên chữ là Phúc Lâm Tự, thuộc địa bàn phường Hồ Nam, quận Lê Chân.
Chùa Đỏ phố Lê Lai,quận Ngô Quyền. Có pho tượng Phật Thích Ca bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Tượng cao 5 mét 4 chưa kể bệ, do anh Đoàn Trúc tạc bằng 20 mét khối gỗ mít thành phẩm.
Chùa Hải Ninh( Đồng Thiện) Phường Vĩnh Niệm,Quận Lê Chân. Sân chùa có hai ngọn tháp ghi 40 bức ký họa về thời kỳ mới xây dựng thành phố Hải Phòng
Chùa Nguyệt Quang Phường Đông Khê, quận Ngô Quyền
Chùa Phổ Chiếu (Chùa Chiếu) Phường Dư Hàng Kênh,Quận Lê Chân
Đền Lý Học Thờ danh nhân văn hoá Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Đền thờ Nam Hải Thần Vương Đảo Dáu
Đền Bà Đế Đồ Sơn
Chùa Tường Long trên núi Ngọc Sơn, phường Vạn Sơn, Đồ Sơn
Miếu cây đa 13 gốc nằm ở khu xóm Trại, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền thờ Chúa Ngũ Phương thuộc hệ thống các vị thánh nằm trong tứ phủ
Đền Tam Kỳ, ngõ Tam Kỳ, đường Trần Nguyên Hãn thờ Quan Lớn Đệ Tam thuộc hệ thống các vị thánh tứ phủ
Đền Tiên La,ngõ Tám Gian, đường Lê Lợi thờ Chầu Bát- nữ tướng Vũ Thị Thục-danh tướng của Hai Bà Trưng quê ở Bạch Hạc, Phú Thọ có công chém đầu tướng giặc Tô Định. Bà cũng là vị thánh thuộc tứ phủ
Kiến trúc
Thành phố mang đậm dấu ấn kiến trúc thuộc địa của Pháp. Kiến trúc của Hải Phòng rất giống Hà Nội dưới thời Pháp thuộc về tổng thể, chỉ nhỏ hơn về quy mô.
Đến thời điểm này (2009), Hải Phòng còn giữ được nhiều khu phố với kiến trúc khá nguyên vẹn từ thời Pháp thuộc. Khu vực quận Hồng Bàng là một ví dụ, nhiều phố với những biệt thự khá đẹp, chưa bị cơi nới và phá vỡ về tổng thể, đường phố sạch và không quá đông đúc.
Ở quận Hồng Bàng có khu phố Tàu gần chợ Sắt (phố Khách nay là phố Phan Bội Châu và phố Trung quốc nay là phố Tam Bạc) có những nét giống như khu vực Chợ Lớn ở TP.HCM, đặc biệt là phố Tam Bạc nằm ngay bên con sông Tam Bạc thơ mộng, trên bến dưới thuyền, từng là đề tài cho nhiều họa sĩ.
Các công trình văn hóa
Nhà hát lớn Hải Phòng
Quán hoa: Gồm 5 quán bán hoa được xây dựng từ thời Pháp thuộc trên khu vực quảng trường Nhà hát Lớn với đường nét kiến trúc đình làng cổ Việt nam. Khi xây dựng quán hoa, các bộ phận được làm sẵn từ nơi khác rồi mang đến lắp ráp chỉ trong một đêm. [6]
Bảo tàng Hải Phòng: Trưng bày các hiện vật và thông tin về lịch sử thành phố từ thời tiền sử tới nay. Tòa nhà Bảo tàng Hải Phòng vốn là trụ sở của Ngân hàng Pháp-Hoa thời Pháp thuộc, được xây dựng theo kiến trúc gô-tích từ cuối thập niên 1910. [7]
Trung tâm triển lãm VHNT Hải Phòng
Trung tâm hội nghị thành phố Hải Phòng
Cung VHLĐ Việt Tiệp
Cung Văn hóa Thanh niên Hải Phòng Được xây trên nền Nhà hát Nhân dân, là nhà hát ngoài trời, được xây dựng sau khi hòa bình lập lại vào cuối những năm 1950 trên khu đất trước là trường đua ngựa.
Cung Thiếu nhi Hải Phòng
Trung tâm triển lãm quốc tế Hải Phòng (Nhà Diều)
Tượng đài Lê Chân
Một số công trình kiến trúc mới
Thư Viện Thành Phố Phố Lạch Tray- P Đổng Quốc Bình - Q Ngô Quyền)
Bảo tàng Hải quân Chân Cầu Rào- Quận Dương Kinh
Khách sạn Hữu nghị - 60 Phố Điện Biên Phủ, Q Hồng Bàng
Khách sạn Habour view - Phố Trần Phú, Q Ngô Quyền
Khách Sạn Nam Cường (Tên cũ Tray Hotel) - Phố Lạch Tray, Q Ngô Quyền
Khách sạn Pearl River -Km8 Đường Phạm Văn Đồng, Q Dương Kinh
Khách sạn Công đoàn Đồ Sơn
Toà nhà Ánh Dương -Phố Trần Phú, Q Ngô Quyền
Toà nhà Cánh Diều -Đường Phạm Văn Đồng, Q Dương Kinh
Toà nhà LG -Phố Trần Hưng Đạo, Q Hồng Bàng
TD Plaza - Đường Lê Hồng Phong, Q Ngô Quyền
Một số Khu Đô thị mới
Khu Đô thị Ngã 5 - Sân bay Cát Bi (Đường Lê Hồng Phong Quận Ngô Quyền & Quận Hải An)
Khu Đô thị PG (Xã An Đồng- Huyện An Dương)
Khu Đô thị Anh Dũng ( Phường Anh Dũng - Quận Dương Kinh)
Khu Đô thị Cái Giá (Huyện Thuỷ Nguyên)
Khu Đô thị Cựu Viên (Quận Kiến An)
Công viên, vườn hoa, hồ
Vườn hoa Trung tâm (thời Pháp thuộc gọi là vườn hoa Nhà kèn)
Vườn hoa Nguyễn Du
Vườn hoa Kim Đồng (Vườn trẻ)
Vườn hoa Nguyễn Văn Trỗi
Vườn hoa Nguyễn Bỉnh Khiêm
Công viên An biên
Hồ An biên (còn gọi là hồ Đào hoặc hồ Mắm tôm)
Hồ Tam bạc (trước là sông Lấp cải tạo thành hồ năm 1985)
Hồ Hạnh phúc (nằm ở trung tâm Quận Kiến An, gần trụ sở Ủy ban Hành chính tỉnh Kiến An cũ)
Hồ Phương Lưu
Hồ Quần ngựa (sau giải phóng miền Bắc, nhà hát Nhân dân được xây ở khu vực bên trong hồ Quần ngựa, nhà hát Nhân dân sau đó bị dỡ bỏ do không còn phù hợp và được thay thế bằng Cung VHTT Thanh niên Hải Phòng như ngày nay)
Hồ Sen
Hồ Lâm tường
Hồ Dư hàng
Du lịch
Hải Phòng có các khu du lịch biển nổi tiếng là:
Bãi biển Đồ Sơn
Cát Bà.
Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà
Vườn quốc gia Cát Bà
Sân Golf Đồ Sơn
Sân Golf Cái Giá
núi Voi
Hòn Dáu
Động Đá Hoa thuộc xã Gia Luận/ http://hoaphuongdo.vn/news/cat-ba-24h/so-tay-du-lich/10727-ng-a-hoa-mt-a-ch-du-lch-kho-c-hc-ca-o-cat-ba.html
Ẩm thực
Hải Phòng nổi tiếng với các món hải sản. Các nhà hàng hải sản ở khu vực Đồ Sơn nổi tiếng với tôm cua cá mực rất tươi và giá phải chăng. Phong cách chế biến hải sản ở Hải Phòng theo phong cách dân dã, nhấn mạnh thực chất và vị tươi ngon của nguyên liệu nhiều hơn sự cầu kỳ trong gia vị và cách chế biến. Một vài món ăn khác trở thành đặc trưng của thành phố này là canh bánh đa, bao gồm cả bánh đa trắng và bánh đa đỏ, ăn với nước dùng nấu từ cua đồng hoặc xương ninh. Ngoài ra, Hải Phòng còn có đặc sản: Bún chả,bún cá,Bánh cuốn chả, bánh mì pate cay, ăn rất ngon và có vị đặc trưng.
Thể thao
Hải phòng là một trong những trung tâm thể thao lớn nhất Việt nam. Thể thao Hải phòng có thế mạnh về các môn: Bóng đá, Bắn súng, bơi lội, điền kinh... Người Hải phòng đặc biệt hâm mộ bóng đá đến cuồng nhiệt. Sân vận động Lạch Tray của Hải phòng luôn kín chỗ mỗi khi có những trận đá bóng. Không chỉ có mặt thường trực ở SVĐ Lạch tray, cổ động viên bóng đá Hải phòng còn theo chân đội bóng của thành phố mình đến sân khách để cổ vũ. Đội bóng đá hiện nay của Hải phòng là câu lạc bộ bóng đá Xi Măng Hải Phòng
[Những công trình thể thao
SVĐ Lạch tray
Nhà thi đấu Lạch tray
SVĐ khu LHTT Hải phòng( Q Dương Kinh)
Nhà thi đấu đa năng khu LHTT Hải phòng ( Q Dương Kinh)
Nhà VHTT Thanh niên
SVĐ Cảng( Q Hồng Bàng)
Nhà VHTT Thanh niên Q Hồng Bàng
SVĐ Máy tơ quận Ngô Quyền
Nhà thi đấu thể thao quận Ngô Quyền
SVĐ Hồ sen quận Lê Chân
Nhà thi đấu thể thao quận Lê Chân
SVĐ Đằng Lâm ( Q Hải An)
SVĐ Kiến An
SVĐ Đồ Sơn
SVĐ An Dương
SVĐ Kiến Thuỵ
SVĐ Tiên lãng
SVĐ Thuỷ Nguyên
SVĐ An Lão
SVĐ Vĩnh Bảo
SVĐ Quân khu 3
Nhà thi đấu Quân khu 3
SVĐ Đại Học Hàng Hải
SVĐ Đại Học Dân Lập Hải Phòng
Sân Bóng Cỏ nhân tạo Cung VHTT thanh Niên (Lạch Tray)
Truyền thông
Đài Phát thanh và truyền hình Hải Phòng:
-Kênh phát thanh FM phát trên tần số 93,7 Mhz -Kênh truyền hình THP phát trên kênh 28 UHF
Báo Hải Phòng (ra hàng ngày)
Báo An Ninh Hải Phòng (ra hàng ngày)
Tạp chí Cửa biển (Hội Văn Hóa Nghệ Thuật Hải phòng)
Con người
Năm 1897 tức vài năm sau khi thành lập, Hải Phòng có dân số 18.480.[3]
Người Hải Phòng mang đậm dấu ấn của người dân miền biển, đặc biệt là trong sinh hoạt. Họ thường được biết đến với lối sống đơn giản và trực tính.
Nhân vật tiêu biểu
Lê Chân
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) Trạng nguyên, Tả Thị lang Đông các Học sĩ, nhà Mạc
Lê Ích Mộc, đỗ Trạng nguyên năm 1502, thượng thư, nhà Mạc
Trần Tất Văn, đỗ Trạng Nguyên năm 1526, Tả thị lang, nhà Lê
Phạm Tử Nghi (1509-1551)
Nguyễn Sơn Hà (1894-1980)
Khái Hưng (1896 - 1947)
Thế Lữ (1907-1989)
Đinh Nhu (1910-1945)
Trần Văn Cẩn (1910-1994)
Hoàng Quý (1920 - 1946)
Hoàng Thế Thiện (1922–1995)
Văn Cao (1923-1955)
Đoàn Chuẩn (1924-2001)
Trần Bảng (1926 - )
Nguyễn Quang Riệu (1932 - )
Thanh Tùng (nhà thơ) (1935 - )
Đoàn Duy Thành
Ngô Thụy Miên (1948 - )
Lệ Thu (1943 - )
Phạm Thị Mai Phương, hoa hậu Việt Nam năm 2002
Nguyễn Thị Huyền, hoa hậu Việt Nam năm 2004
Chú thích
^ Bài Bùi Viện - Người đặt nền móng cho sự ra đời của thành phố Cảng Hải Phòng
^ Bài Tên gọi Hải Phòng có từ bao giờ
^ Hydrographic Office of the Admiralty. The China Sea Directory Vol II. London: Eyre and Spottiswoode, 1906. tr 475
Quảng Ninh
Lịch sử
Quảng Ninh được thành lập năm 1963 với nền tảng là khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh. Tên tỉnh là ghép tên của hai tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh cũ. Diện tích của toàn tỉnh Quảng Ninh là 8.239,243 km².
Biên giới giáp với Trung Quốc trước năm 1887 là sông Dương Hà (còn gọi là An Nam Giang) bao gồm cả mũi Bạch Long nhưng Công ước Pháp-Thanh 1887 nhận kinh tuyến đông 105 độ 43 phút Paris làm đường phân định thì phần đất này Pháp nhường cho nhà Thanh. Phần đất bị cắt gồm hơn bảy xã thuộc tổng Bát Tràng và hai xã của tổng Kiến Duyên.[1]
Hiện nay có một số ý kiến cho rằng vùng đất Trường Bình - Bạch Long của huyện Phòng Thành Cảng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc là thuộc Việt Nam, nhất là sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập và tuyên bố hủy bỏ mọi hiệp ước về Việt Nam của thực dân Pháp với các nước khác. Như vậy vùng Bạch Long - Trường Bình đúng ra phải được trả lại về Quảng Ninh nhưng đã không được thực hiện. Rất nhiều người Kinh sống ở khu vực này tuyệt nhiên trở thành người mất quê hương và trở thành 1 trong 56 dân tộc của Trung Quốc.
Hành chính
Quảng Ninh có 2 thành phố trực thuộc, 1 thị xã và 10 huyện:
Thành phố Hạ Long 20 phường
Thành phố Móng Cái 8 phường và 9 xã
Thị xã Uông Bí 7 phường và 4 xã
Thị xã Cẩm Phả 14 phường và 2 xã
Huyện Ba Chẽ 1 thị trấn và 7 xã
Huyện Bình Liêu 2 thị trấn và 7 xã
Huyện Cô Tô 1 thị trấn và 2 xã
Huyện Đầm Hà 1 thị trấn và 7 xã
Huyện Đông Triều 2 thị trấn và 19 xã
Huyện Hải Hà 1 thị trấn và 15 xã
Huyện Hoành Bồ 1 thị trấn và 14 xã
Huyện Tiên Yên 1 thị trấn và 11 xã
Huyện Vân Đồn 1 thị trấn và 11 xã
Huyện Yên Hưng 1 thị trấn và 18 xã Quảng Ninh có 184 đơn vị hành chính cấp xã gồm 127 xã, 49 phường và 12 thị trấn. Quảng Ninh là tỉnh có nhiều thành phố và thị xã trực thuộc nhất của Việt Nam.
Dân số Quảng Ninh theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 là 1.144.381 người trong đó nữ là 558.793 người có tỉ lệ dân số sống ở thành thị cao thứ 3 Việt Nam (sau Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng), dân số thành thị là 575.939 người( chiếm tỉ lệ 50,3%). Quảng Ninh thuộc diện tỉnh có số dân trung bình trong cả nước. Tỷ lệ tăng dân số bình quân từ năm 1999 đến 2009 là 1,3% (trung bình cả nước là 1,2%).
Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí
Quảng Ninh có toạ độ địa lí khoảng từ 106°26' - 108°31' E và từ 20°40' - 21°40' B.
Điểm cực bắc thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Điểm cực tây thuộc xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều. Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc xã Trà Cổ, thành phố Móng Cái.
Phía tây giáp tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang, phía đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và Thành phố Hải Phòng, phía bắc giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) với cửa khẩu Móng Cái và Trinh Tường. Đường biên giới với Trung Quốc dài 132,8 km.
Biển Quảng Ninh có hơn 2000 hòn đảo, chiếm 2/3 số đảo cả nước (2078/2779), trong đó có 1.030 đảo có tên. Tổng diện tích các đảo là 619,913 km². Một số hòn đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh là: đảo Trần và quần đảo Cô Tô (thuộc huyện Cô Tô). Vùng nội thuỷ từ bắc xuống nam có những đảo chính như đảo Vĩnh Thực, đảo Miễu, đảo Cái Chiên, đảo Thoi Xanh, đảo Vạn Vược, đảo Thoi Đây, đảo Sậu Nam, đảo Co Bầu, đảo Trà Ngọ, đảo Cao Lô, đảo Trà Bàn, đảo Chén, đảo Thẻ Vàng, đảo Cảnh Cước, đảo Vạn Cảnh, đảo Cống Tây, đảo Phượng Hoàng, đảo Nấc Đất, đảo Thượng Mai và đảo Hạ Mai cùng vô số những đảo nhỏ trong vịnh Bái Tử Long và Hạ Long.
Duyên hải Quảng Ninh chạy dài gần 200 hải lí từ lãnh hải Trung Quốc ở phía đông đến địa giới thành phố Hải Phòng.
Địa hình
80% diện tích Quảng Ninh là địa hình đồi núi, tập trung ở phía Bắc. Một phần năm diện tích ở phía Đông Nam tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Quảng Ninh còn có rất nhiều đảo ven biển. Địa hình đáy biển Quảng Ninh không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m, có nhiều lạch sâu làm nơi cư trú của các rạn san hô.
Kinh tế
Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo. Quảng Ninh có 3 Khu kinh tế Vân Đồn, hai Trung tâm thương mại Hạ Long, Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực.
Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản,(Về trữ lượng than trên toàn Việt Nam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90%.) nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh. Quảng Ninh với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 2 lần được Tổ chức UNESCO tôn vinh. Với di tích văn hóa Yên Tử, bãi cọc Bạch Đằng, Đền Cửa Ông, Đình Quan Lạn, Đình Trà Cổ, núi Bài Thơ... thuận lợi cho phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch văn hóa tâm linh. Quảng Ninh được xác định là 1 điểm của vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, là cửa ngõ quan trọng của hành lang kinh tế Nam Ninh-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh. Có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu có năng lực bốc xếp cho tàu hàng vạn tấn,... tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường biển giữa nước ta với các nước trên thế giới. Quảng Ninh có hệ thống cửa khẩu phân bố trên dọc tuyến biên giới, đặc biệt cửa khẩu quốc tế Móng Cái là nơi hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư; Là cửa ngõ giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong khu vực.
Quảng Ninh xếp thư 5 cả nước về thu ngân sách nhà nước (2010).[[2]] Năm 2010 GDP đầu người ước đạt 1500 USD/năm. (Hạ Long 2882 USD/năm [3] ,Móng Cái 2580 USD/năm ,Cẩm Phả vượt 2000 USD/năm). 2009 lương bình quân của lao động trên địa bàn tỉnh ước đạt gần 4 triệu đồng .Công nhân mỏ ước đạt trên 5.3triệu.[[4]] Quảng Ninh phấn đấu 2010 tốc độ tăng trưởng đạt 11%.[[5]]
Tuy nhiên Quảng Ninh là tỉnh mà hoạt động kinh tế ngầm . Đặc biệt là than thổ phỉ trái phép diễn ra ngang nhiên dù chính quyền địa phương đã có nhiều hình thức ngăn chặn và dẫn đến tình trạng lạm phát giá tiêu dùng tại đây rất cao cùng bất bình đẳng thu nhập.[[6]]
Văn hóa, Du lịch
Quảng Ninh là một địa danh giàu tiềm năng du lịch, là một đỉnh của tam giác tăng trưởng du lịch miền Bắc Việt Nam, Quảng Ninh có danh thắng nổi tiếng là vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và di sản thế giới bởi giá trị địa chất địa mạo.[7]. Tiềm năng du lịch Quảng Ninh nổi bật nên với:
Các Thắng cảnh nổi tiếng
Vịnh Hạ Long có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo, trong đó khu di sản thế giới được UNESCO công nhận có diện tích trên 434 km2 với 788 đảo, có giá trị đặc biệt về văn hoá, thẩm mĩ, địa chất, sinh học và kinh tế. Trên vịnh có nhiều đảo đất, hang động, bãi tắm, cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát triển nhiều điểm, nhiều hình thức du lịch hấp dẫn. Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà là khu du lịch trọng điểm quốc gia, động lực phát triển vùng du lịch Bắc Bộ.
Các bãi tắm bãi tắm đẹp như Trà Cổ (Móng Cái), Bãi Cháy, đảo Tuần Châu đã được cải tạo, nâng cấp với nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đa dạng các nhu cầu của khách.
Các di tích lịch sử văn hóa
Cả tỉnh có gần 500 di tích lịch sử, văn hoá, nghệ thuật... gắn với nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có những di tích nổi tiếng của Quốc gia như chùa Yên Tử, đền Cửa Ông, Đình Trà Cổ, di tích lịch sử Bạch Đằng, chùa Long Tiên, đình Quan Lạn. đây là những điểm thu hút khách thập phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là vào những dịp lễ hội.
Ấm thực Quảng Ninh
Quảng Ninh nổi bật với các món ăn được chế biến từ các loài hải sản của biển Quảng Ninh, trong đó có những đặc sản giá trị như hải sâm, bào ngư, tôm, cua, sò, ngán, hầu hà, sá sùng, rau câu.
Các trường Đại học, cao đẳng ở Quảng Ninh hiện nay
Đại học Công nghiệp Quảng Ninh
Đại học Ngoại thương phân hiệu Quảng Ninh
Đại học Điện lực phân hiệu Quảng Ninh ( dự án )
Đại học Mỏ địa chất phân hiệu Quảng Ninh
Đại học Hạ Long
Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh
Cao đẳng Nông lâm Đông Bắc
Cao đẳng Y tế Quảng Ninh
Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả
Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng Uông Bí
Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Hạ Long
Cao đẳng Nghề mỏ Hữu nghị
Cao đẳng Nghề mỏ Hồng Cẩm
Trung cấp Kinh tế
Trung cấp Xây dựng
Trung cấp Nông lâm ngư nghiệp Quảng Ninh
Vịnh Hạ Long
Truyền thuyết về vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long có từ xa xưa do những kiến tạo địa chất. Tuy nhiên, trong tâm thức của người Việt từ thời tiền sử với trí tưởng tượng dân gian và ý niệm về cội nguồn con Rồng cháu Tiên, một số truyền thuyết [13] cho rằng khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới. Đàn Rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá trên biển, như bức tường thành vững chắc chặn bước tiến của thuyền chiến giặc. Đoàn thuyền giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột đã đâm vào các đảo đá và va chạm với nhau vỡ tan tành.
Sau khi giặc tan, thấy cảnh mặt đất thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến. Vị trí Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long; nơi Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long và đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ ngày nay, với bãi cát dài trên 15km).
Lại có truyền thuyết khác[13] nói rằng vào thời kỳ nọ khi đất nước có giặc ngoại xâm, một con rồng đã bay theo dọc sông xuôi về phía biển và hạ cánh xuống ở vùng ven biển Đông Bắc làm thành bức tường thành chắn bước tiến của thủy quân giặc. Chỗ rồng đáp xuống che chở cho đất nước được gọi là Hạ Long.
Điều kiện tự nhiên và xã hội
Vị trí
Là một vịnh nhỏ, bộ phận của vịnh Bắc Bộ, Vịnh Hạ Long được giới hạn với phía Đông Bắc giáp vịnh Bái Tử Long; phía Tây Nam giáp quần đảo Cát Bà; phía Tây và Tây Bắc giáp đất liền bằng đường bờ biển khoảng 120km kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam hướng ra vịnh Bắc Bộ. Trong diện tích 1.553km² gồm vùng lõi và vùng đệm, nằm tại các tọa độ từ 106°58'-107°22' Đông và 20°45'-20°50' Bắc, vịnh Hạ Long bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa được đặt tên[1].
Môi trường và khí hậu
Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm với nhiệt độ khoảng 27-29°C và mùa đông khô lạnh với nhiệt độ 16-18°C, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 15-25°C. Lượng mưa trên vịnh Hạ Long vào khoảng từ 2.000mm–2.200mm[1] tuy có tài liệu chi tiết hóa lượng mưa là 1.680mm với khoảng trên 300mm vào mùa nóng nhất trong năm (từ tháng 6 đến tháng 8) và dưới 30mm vào mùa khô nhất trong năm (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau)[14]. Hệ thủy triều tại vịnh Hạ Long rất đặc trưng với mức triều cường vào khoảng 3,5-4m/ngày. Độ mặn trong nước biển trên vùng Vịnh dao động từ 31 đến 34.5MT vào mùa khô nhưng vào mùa mưa, mức này có thể thấp hơn. Mực nước biển trong vùng Vịnh khá cạn, có độ sâu chỉ khoảng 6m đến 10m và các đảo đều không lưu giữ nước bề mặt[5].
Dân số
Trong số 1.969 đảo của Hạ Long hiện nay chỉ có khoảng 40 đảo là có dân sinh sống, những đảo này có qui mô từ vài chục đến hàng ngàn hecta tập trung chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam vịnh Hạ Long[7]. Mấy chục năm gần đây, nhiều vạn chài sống trôi nổi trên mặt nước, bắt đầu lên một số đảo định cư biến những đảo hoang sơ trở thành trù phú như đảo Sa Tô (thành phố Hạ Long), đảo Thắng Lợi (huyện đảo Vân Đồn).
Dân số trên vịnh Hạ Long hiện nay khoảng 1.540 người, tập trung chủ yếu ở các làng đánh cá Cửa Vạn, Ba Hang, Cặp Dè (thuộc phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long). Cư dân vùng Vịnh phần lớn sống trên thuyền, trên nhà bè để thuận tiện cho việc đánh bắt, nuôi trồng và lai tạo các giống thủy sản, hải sản. Ngày nay đời sống của cư dân Vịnh Hạ Long đã phát triển do kinh doanh dịch vụ du lịch.
Tên gọi Hạ Long qua các thời kỳ lịch sử
Đầu rồng trên thuyền du lịch tại Vịnh, mô phỏng điển tích Hạ Long (rồng đáp)
Tên gọi Hạ Long đã thay đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử, thời Bắc thuộc khu vực này được gọi là Lục Châu, Lục Hải. Các thời Lý, Trần, Lê Vịnh mang các tên Hoa Phong, Hải Đông, An Bang, Vân Đồn, Ngọc Sơn hay Lục Thủy. Tên Hạ Long (rồng đáp xuống) mới xuất hiện trong một số thư tịch và các bản đồ hàng hải [15] của Pháp từ cuối thế kỷ 19.
Trên tờ Tin tức Hải Phòng xuất bản bằng tiếng Pháp có bài viết về sự xuất hiện của sinh vật giống rồng trên khu vực là vịnh Hạ Long ngày nay với nhan đề Rồng xuất hiện trên vịnh Hạ Long, khi viên thiếu úy người Pháp Legderin, thuyền trưởng tàu Avalence cùng các thủy thủ bắt gặp một đôi rắn biển khổng lồ ba lần (vào các năm 1898, 1900 và 1902)[16]. Có lẽ người Châu Âu đã liên tưởng con vật này giống như con rồng châu Á, loài vật huyền thoại được tôn sùng trong văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa các nước đồng văn châu Á nói chung. Bên cạnh những truyền thuyết của Việt Nam về Rồng Mẹ và Rồng Con đáp xuống khu vực vịnh đảo vùng Đông Bắc này, sự xuất hiện con vật lạ hiện hữu như rồng trong thực tại, có thể đã trở thành các lý do khiến vùng biển đảo Quảng Ninh được người Pháp gọi bằng cái tên vịnh Hạ Long từ đó và phổ biến đến ngày nay[17].
Cảnh quan
Vùng di sản trên vịnh Hạ Long được thế giới công nhận (vùng lõi) có diện tích 434km², như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông), bao gồm 775 đảo với nhiều hang động, bãi tắm. Vùng kế bên (vùng đệm), là di tích danh thắng quốc gia đã được bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng từ năm 1962. Địa hình Hạ Long là đảo, núi xen kẽ giữa các trũng biển, là vùng đất mặn có sú vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng tạo nên những vẻ đẹp tương phản, kết hợp hài hòa, sinh động các yếu tố: đá, nước và bầu trời [18].
Biển và đảo
Các đảo ở vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam Vịnh Bái Tử Long và vùng phía Tây Nam vịnh Hạ Long. Theo thống kê của ban quản lý vịnh Hạ Long, trong tổng số 1.969 đảo của vịnh Hạ Long có đến 1.921 đảo đá[19] với nhiều đảo có độ cao khoảng 200m[5]. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250-280 triệu năm về trước, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình carxtơ bào mòn, phong hóa gần như hoàn toàn tạo ra một vịnh Hạ Long độc nhất vô nhị[19], với hàng ngàn đảo đá nhiều hình thù, dáng vẻ khác nhau lô nhô trên mặt biển, trong một diện tích không lớn của vùng Vịnh.
Vùng tập trung các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp là vùng trung tâm Di sản Thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm phần lớn vịnh Hạ Long (vùng lõi), một phần vịnh Bái Tử Long và vịnh Lan Hạ thuộc quần đảo Cát Bà (vùng đệm).
Các đảo trên vịnh Hạ Long có những hình thù riêng, không giống bất kỳ hòn đảo nào ven biển Việt Nam và không đảo nào giống đảo nào. Có chỗ đảo quần tụ lại nhìn xa ngỡ chồng chất lên nhau, nhưng cũng có chỗ đảo đứng dọc ngang xen kẽ nhau, tạo thành tuyến chạy dài hàng chục kilômét như một bức tường thành. Đó là một thế giới sinh linh ẩn hiện trong những hình hài bằng đá đã được huyền thoại hóa. Đảo thì giống khuôn mặt ai đó đang hướng về đất liền (hòn Đầu Người); đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng); đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Lã Vọng); phía xa là hai cánh buồm nâu đang rẽ sóng nước ra khơi (hòn Cánh Buồm); đảo lại lúp xúp như mâm xôi cúng (hòn Mâm Xôi); rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước (hòn Trống Mái); đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất (hòn Lư Hương); đảo khác tựa như nhà sư đứng giữa mặt Vịnh bao la chắp tay niệm Phật (hòn Ông Sư); đảo lại có hình tròn cao khoảng 40m trông như chiếc đũa phơi mình trước thiên nhiên (hòn Đũa), mà nhìn từ hướng khác lại giống như vị quan triều đình áo xanh, mũ cánh chuồn, nên dân chài còn gọi là hòn Ông v.v.
Bên cạnh các đảo được đặt tên căn cứ vào hình dáng, là các đảo đặt tên theo sự tích dân gian (núi Bài Thơ, hang Trinh Nữ, đảo Tuần Châu), hoặc căn cứ vào các đặc sản có trên đảo hay vùng biển quanh đảo (hòn Ngọc Vừng, hòn Kiến Vàng, đảo Khỉ v.v.). Dưới đây là một vài hòn đảo nổi tiếng:
Hòn Con Cóc: Hòn Con Cóc nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 12km về phía Đông Nam, trên vùng vịnh Hạ Long. Đây là hòn núi đá rất đẹp có góc nghiêng và hình dáng như một con cóc ngồi xổm giữa biển nước, cao khoảng 9m[20].
Hòn Trống Mái:
Là một trong những hòn đảo nổi tiếng trên vịnh Hạ Long, hòn Trống Mái nằm gần hòn Đỉnh Hương ở phía Tây Nam của Vịnh, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 5km. Đây là cụm gồm 2 đảo có hình thù giống như một đôi gà, một trống một mái, có chiều cao khoảng hơn 10m với chân thót lại ở tư thế rất chênh vênh. Là biểu tượng trên logo của vịnh Hạ Long, hòn Trống Mái cũng là biểu tượng trong sách hướng dẫn du lịch Việt Nam[21] nói chung.
Đảo Ngọc Vừng: Đảo Ngọc Vừng nằm cách cảng tàu du lịch khoảng 34km, thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, có đặc điểm là một trong số ít đảo đất trên vùng vịnh Hạ Long. Xung quanh đảo có nhiều bãi biển đẹp, có núi Vạn Xuân cao 182m và có di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Hạ Long rộng 45.000m².
Đảo Ngọc Vừng rộng 12km², có người ở, có bến cảng cổ Cống Yên thuộc hệ thống thương cảng cổ Vân Ðồn từ thế kỷ 11, và có di tích thành cổ nhà Mạc, thành nhà Nguyễn. Phía đông của đảo có bãi cát dài tới hàng kilômét với cát trắng trải ra tới tận bến tàu.
Khu vực này tương truyền trước kia có nhiều ngọc trai, đêm đêm phát sáng cả một vùng trời biển, nên có một số đảo mang tên đảo Ngọc như đảo Ngọc Vừng (ngọc phát sáng), hay Minh Châu (ngọc châu, ngọc sáng)[22]. Trước kia cư dân trên đảo sống bằng nghề đánh bắt hải sản và khai thác ngọc trai. Ngày nay cư dân ở đây vẫn còn mò trai lấy ngọc, đồng thời nghề nuôi trai lấy ngọc cũng đang phát triển mạnh.
Đảo Ti Tốp: Đảo Ti Tốp, thời Pháp thuộc mang tên hòn Cát Nàng, nằm trên khu vực vịnh Hạ Long cách Bãi Cháy chừng 14km về phía Đông. Đảo được đặt tên Ti Tốp từ khi Hồ Chí Minh đến thăm vịnh Hạ Long cùng với nhà du hành vũ trụ người Nga Gherman Titov, vào năm 1962[23].
Đảo Ti Tốp có bờ dốc đứng và bãi cát trắng phẳng hình vầng trăng nằm dưới chân. Các tour du lịch thường ghé tàu vào đảo để du khách lên bờ leo núi ngắm toàn cảnh vùng Vịnh, tắm biển, chèo thuyền kay-ắc, kéo phao và kéo dù.[cần dẫn nguồn]
Đảo Tuần Châu: Nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 4km về phía Tây Nam trên vùng vịnh Hạ Long, Đảo Tuần Châu là một đảo đất rộng khoảng 3km², gần bờ, có làng mạc và dân cư thưa thớt. Trước kia trên đảo các nhà khoa học đã tìm được nhiều di chỉ khảo cổ thuộc nền văn hóa Hạ Long. Từ năm 2001, một con đường lớn đã được xây dựng nối đảo với đất liền. Một tổ hợp dịch vụ vui chơi, giải trí, quần thể khách sạn, nhà hàng và bãi tắm sang trọng được xây dựng, đưa vào phục vụ góp phần làm thay đổi bộ mặt của Hạ Long từ năm du lịch 2003 tới nay [23].
Hang động
Không chỉ những biến đổi của những đảo đá màu xanh đen trên mặt nước biếc vùng Vịnh hấp dẫn du khách, trên những chiếc thuyền dơi màu nâu đỏ xuất phát từ bến tàu Hạ Long bắt đầu hành trình ngoạn cảnh, những khám phá lại tiếp tục khi du khách lên đảo, thăm thú những hang động ẩn chứa nhiều chứng tích lịch sử. Những hang động tại Hạ Long, theo các nhà thám hiểm địa chất người Pháp, khi nghiên cứu về vịnh Hạ Long đầu thế kỷ 20, khẳng định rằng hầu hết trong số chúng đều được kiến tạo trong thế Pleistocen kéo dài từ 2 triệu đến 11 ngàn năm trước, nằm trong 3 nhóm hang ngầm cổ, hang nền carxtơ và các hàm ếch biển.
Hang Sửng Sốt:
Hang Sửng Sốt, hay động Sửng Sốt nằm trên đảo Bồ Hòn ở trung tâm vịnh Hạ Long, được người Pháp đặt tên "Grotte des surprises" (động của những kỳ quan). Ðây là một hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long[24]. Nằm ở vùng trung tâm du lịch của Vịnh với hệ thống trong tuyến du lịch bao gồm bãi tắm Ti Tốp - hang Bồ Nâu - động Mê Cung-hang Luồn - hang Sửng Sốt.
Vị trí và diện tích: Hang Sửng Sốt là một hang dạng ống, nằm ở độ cao 25m so với mực nước biển hiện tại. Diện tích khoảng 10.000m2, chiều dài hơn 200m, chỗ rộng nhất 80m, khoảng cách lớn nhất từ nền tới trần hang xấp xỉ 20m. Hang được chia thành 2 ngăn chính.
Quá trình phát hiện và quản lý: - Do có cửa hang mở rộng, hang Sửng Sốt được phát hiện khá sớm trên Vịnh Hạ Long (cuối thế kỷ thứ XIX). Tên của hang mãi đến năm 1946 mới được xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng do một số đoàn thám hiểm đã đến đây. - Năm 1999, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã đầu tư tôn tạo Hang Sửng Sốt. Hệ thống đường đi, ánh sáng để du khách có thể quan sát và cảm nhận được vẻ đẹp của những khối nhũ, măng đá trong lòng hang.Ánh sáng được thiết kế phù hợp với kiến trúc hang đồng thời hài hoà với ánh sáng tự nhiên từ phía cửa hang. - Hiện nay Hang Sửng Sốt thuộc sự quản lý của Trung tâm bảo tồn Công viên hang động (BQL Vịnh Hạ Long).
Ðường lên hang Sửng Sốt quanh co uốn lượn dưới những tán lá rừng, với những bậc đá ghép cheo leo, khúc khuỷu. Ðộng được chia làm hai ngăn chính, toàn bộ ngăn thứ nhất như một nhà hát lớn rộng thênh thang với trần hang được phủ bằng nhũ đá, những tượng đá, voi đá, hải cẩu, mâm xôi, hoa lá, mở ra một thế giới của cổ tích. Ngăn 2 cách biệt với ngăn 1 qua một lối đi hẹp. Bước vào lòng ngăn này, động mở ra một khung cảnh mới khác lạ hoàn toàn với lòng ngăn rộng có thể chứa được hàng ngàn người. Trong lòng ngăn 2 của hang Sửng Sốt có những hình tượng được gắn với truyền thuyết Thánh Gióng: cạnh lối ra vào là khối đá hình chú ngựa, thanh gươm dài và trong lòng hang có những ao hồ nhỏ như vết chân ngựa Gióng.
Động Thiên Cung: Cách thành phố Hạ Long khoảng 8km và cách bến tàu du lịch 4km là đảo Vạn Cảnh, còn gọi là đảo Canh Độc có tọa độ 107°00'54" và 20°54'78". Trong sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: hòn Canh Độc lưng chừng đảo có động rộng rãi chứa được vài ngàn người, gần đó có hòn Cặp Gà, Hòn Mèo, Hòn La.... Ngày nay, qua khảo cứu, đảo Vạn Cảnh có đỉnh cao 189m, hình dáng như một chiếc ngai ôm hai hang động là hang Đầu Gỗ nằm chênh vênh trên cao và động Thiên Cung ở cách mép nước không xa. Hang Đầu Gỗ và động Thiên Cung cách nhau chừng 100m, được thông nhau bằng những lối đi quanh co, uốn lượn dưới tán lá rừng.
Động Thiên Cung nằm ở lưng chừng đảo Canh Độc, ở độ cao 25m so với mực nước biển. Du khách vừa bước vào cửa động Thiên Cung, lòng động đột ngột mở ra không gian có tiết diện hình tứ giác với chiều dài hơn 130 mét, với những măng đá như một đền đài mỹ lệ. Vách động cao và thẳng đứng được bao bọc bởi những nhũ đá và trên mỗi vách động ấy thiên nhiên đã khảm nhiều hình thù kỳ lạ, hấp dẫn người xem. Đó là là 4 cột trụ to lớn giữa động mà từ chân cột tới đỉnh đều được chạm nổi nhiều hình thù kỳ lạ như chim cá, cảnh sinh hoạt của con người, hoa lá cành; là những thạch nhũ mang hình tượng Nam Tào, Bắc Đẩu, tiên nữ múa hát; là trần hang với những điêu khắc người, chim, hoa, muông thú đang dự tiệc, hoàn toàn do bàn tay nhào nặn của tạo hóa tác thành qua hàng vạn năm. Cửa động nhỏ hẹp được giấu kín trong lòng núi nhưng càng đi vào bên trong, lòng động càng mở lớn và rộng, dẫn dắt người xem đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác.
Hang Đầu Gỗ: Đi hết động Thiên Cung cũng là lúc du khách bước chân sang hang Đầu Gỗ, còn gọi là hang Giấu Gỗ, một hang động với những nhũ đá tráng lệ. Tên gọi Hang Đầu Gỗ (tập trung gỗ) có từ sau khi tướng Trần Hưng Đạo chỉ huy ba quân giấu các cọc gỗ lim tại đây, trước khi đem đóng xuống lòng sông Bạch Đằng để bày thế trận cùng thủy quân đánh úp, đốt cháy đoàn thuyền tải lương thực của giặc Nguyên Mông vào mùa xuân năm 1288. Hiện các nhà khảo cổ còn tìm thấy rất nhiều khúc gỗ và mẩu gỗ vụn còn sót lại trong động. Nếu động Thiên Cung hoành tráng khoẻ khoắn, hiện đại thì hang Ðầu Gỗ trầm mặc uy nghi nhưng cũng rất đồ sộ. Cuốn Merveilles du Monde (kỳ quan thế giới) của Pháp xuất bản năm 1938 chuyên về du lịch giới thiệu về các danh thắng nổi tiếng thế giới đã mệnh danh hang Ðầu Gỗ là "Grotte des merveilles" (động của các kỳ quan)[24].
Cửa hang Đầu Gỗ ở lưng chừng vách núi và trong lòng hang được chia thành 3 ngăn chính. Ngăn phía ngoài hình vòm cuốn tràn ánh sáng tự nhiên, với trần hang như một bức tranh khổng lồ vẽ phong cảnh thiên nhiên hoang sơ với những đàn voi, những chú hươu sao, sư tử trong những tư thế sinh động. Phía dưới là rừng măng đá, nhũ đá nhiều mầu với nhiều hình thù tùy theo trí tưởng tượng của từng người. Chính giữa lòng hang là một cột trụ đá khổng lồ hàng chục người ôm, từ phía dưới chân cột lên trên là những hình mây bay, long phi phượng vũ, hoa lá, dây leo. Qua ngăn thứ nhất, vào ngăn thứ 2 bằng một khe cửa hẹp lòng hang mở ra với ánh sáng chiếu vào mờ ảo, những bức tranh đá trở nên long lanh hơn và những chùm hoa đá lúc ẩn lúc hiện. Tận cùng hang là một chiếc giếng nước ngọt và những hình tượng bằng đá như đang diễn tả một trận hỗn chiến kỳ lạ.
Năm 1917, hang Đầu Gỗ được vua Khải Ðịnh lên thăm và cho khắc một tấm văn bia với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của non nước Hạ Long nói chung và hang Ðầu Gỗ nói riêng[24]. Hiện nay, tấm bia đá vẫn còn ở phía bên phải cửa động tuy chữ đã bị mài mòn.
Một số hang động khác:
Ngoài hai hang động trên, du khách còn tham quan hàng chục hang động đẹp và quyến rũ khác như hang Bồ Nâu có cửa uốn vòng cung với nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu; hang Hanh cách thị xã Cẩm Phả 9km về phía tây, là một hang động đẹp và dài nhất so với các hang động hiện có trên vịnh Hạ Long[24], với chiều dài 1.300m chạy xuyên suốt dãy núi đá Quang Hanh ra tới biển; hang Trinh Nữ với tảng đá hình cô gái đứng xõa mái tóc dài hướng ra biển, và đối diện với nó là hang Trống (hay hang Con Trai) với bức tượng chàng trai hóa đá quay mặt hướng về phía hang Trinh Nữ; rồi hang Tiên Long, Ba Hang, hang Luồn, động Tiên Ông, động Tam Cung, động Lâu Đài, Ba Hầm v.v. Báo cáo của ban quản lý vịnh Hạ Long cho biết hiện nay vẫn chưa thể thống kê hết được tất cả hang động trên 1.969 đảo[19].
Địa chất địa mạo
Giá trị lịch sử địa chất của vịnh Hạ Long được đánh giá qua 2 yếu tố: lịch sử kiến tạo và địa chất địa mạo (carxtơ):
Lịch sử kiến tạo
Lịch sử địa chất địa mạo của vịnh Hạ Long trải qua ít nhất 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, với nhiều lần tạo sơn-biển thoái và sụt chìm-biển tiến. Vịnh Hạ Long từng là khu vực biển sâu vào các kỷ Ordovic-Silua (khoảng 500-410 triệu nẳm trước); khu vực biển nông vào các kỷ Cacbon-Pecmi (khoảng 340-250 triệu năm trước); biển ven bờ vào cuối kỷ Paleogen đầu kỷ Neogen (khoảng 26-20 triệu năm trước) và trải qua một số lần biển lấn trong kỷ Nhân sinh (khoảng 2 triệu năm trước?). Vào kỉ Trias (240-195 triệu năm trước) khu vực vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ[2].
Địa chất địa mạo
Vịnh Hạ Long có quá trình tiến hóa carxtơ đầy đủ trải qua trên 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể[2], với nhiều dạng địa hình carxtơ kiểu Phong Tùng (fengcong) gồm một cụm đá vôi thường có hình chóp nằm kề nhau có đỉnh cao trên dưới 100m, cao nhất khoảng 200m; hoặc kiểu Phong Linh (fenglin) đặc trưng bởi các đỉnh tách rời nhau tạo thành các tháp có vách dốc đứng, phần lớn các tháp có độ cao từ 50-100m. Tỉ lệ giữa chiều cao và rộng khoảng 6m.
Cánh đồng carxtơ của Hạ Long là lòng chảo rộng phát triển trong các vùng carxtơ có bề mặt tương đối bằng phẳng, thường xuyên ngập nước, được tạo thành theo những phương thức: hoặc nhờ kiến tạo liên quan các hố sụt địa hào; hoặc nhờ sụt trần của các thung lũng sông ngầm, hang động ngầm; hoặc cũng có thể nhờ tồn tại các tầng đá không hòa tan bị xói mòn mạnh mẽ nằm giữa vùng địa hình carxtơ cao hơn vây quanh mà thành[2].
Vịnh Hạ Long còn bao gồm địa hình carxtơ ngầm là hệ thống các hang động đa dạng trên Vịnh, được chia làm 3 nhóm chính[2]: nhóm 1 là di tích các hang ngầm cổ, tiêu biểu là hang Sửng Sốt, động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Thiên Long, v.v. Nhóm 2 là các hang nền carxtơ tiêu biểu là Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông, Hang Trống v.v. Nhóm 3 là hệ thống các hàm ếch biển mà tiêu biểu như 3 hang thông nhau ở cụm hồ Ba Hầm, hang Luồn, Ba Hang v.v.
Carxtơ vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính chất nền tảng cho khoa học địa mạo. Môi trường địa chất vịnh Hạ Long còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác như đa dạng sinh học, văn hóa khảo cổ và các giá trị nhân văn khác[2].
Đa dạng sinh học
Vịnh Hạ Long là nơi tập trung đa dạng sinh học với 2 hệ sinh thái điển hình là "hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới" và "hệ sinh thái biển và ven bờ". Trong mỗi hệ lớn nói trên lại có nhiều dạng sinh thái[3].
Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long rất đặc trưng, phong phú với tổng số loài thực vật sống trên các đảo khoảng trên 1.000 loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá. Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ Long. Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh Hạ Long mà không nơi nào trên thế giới có được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tím (Chirieta halongensis), cọ Hạ Long (Livisona halongensis)[25], khổ cử đại nhung (Chirieta hiepii), móng tai Hạ Long, ngũ gia bì Hạ Long, hài vệ nữ hoa vàng [3][26][27]. Một số tài liệu khác[4] mở rộng danh sách thực vật đặc hữu của Hạ Long lên 14 loại, bao gồm cả những loại đã được người Pháp khám phá và đặt tên gắn với địa danh từ trước như sung Hạ Long, nhài Hạ Long, sóng bè Hạ Long, giềng Hạ Long, phất dụ núi, phong lan Hạ Long v.v. Danh sách những loài thực vật đặc hữu khác tại vịnh Hạ Long rất có thể còn được bổ sung nhiều hơn, do chưa có một công trình nghiên cứu nào thực sự đầy đủ, toàn diện về thực vật trên tất cả các đảo trong khu vực Vịnh và vùng lân cận. Chẳng hạn loài trúc mọc ngược mà mấy năm gần đây các nhà khoa học mới phát hiện ra trên một số đảo đá của vịnh Hạ Long, một giống trúc có cành chĩa xuống đất, khác các giống trúc thông thường chĩa cành lên trời[3].
Theo thống kê, hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long có 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn; đối với động vật người ta cũng thống kê được 4 loài lưỡng cư, 10 loài bò sát, 40 loài chim và 14 loài thú. Ở vùng này còn có loại khỉ thân nhỏ, hiện được nuôi theo phương pháp đặc biệt tại đảo Khỉ.
Hệ sinh thái biển và ven bờ
Hệ sinh thái biển và ven bờ của vịnh Hạ Long bao gồm trong đó "hệ sinh thái đất ướt" và "hệ sinh thái biển"[3] với những điểm đặc thù:
Hệ sinh thái đất ướt:
Sinh thái vùng triều và vùng ngập mặn trên Vịnh: bao gồm 20 loài thực vật ngập mặn; là nơi sống cho 169 loài giun nhiều tơ, 91 loài rong biển, 200 loài chim, 10 loài bò sát và 6 loài khác.
Dạng sinh thái đáy cứng, rạn san hô: tập trung ở Hang Trai, Cống Đỏ, Vạn Giò, có 232 loài san hô đã được tìm thấy. Rặng sinh thái đáy cứng, san hô là nơi sinh cư của 81 loài chân bụng, 130 loài hai mảnh vỏ, 55 loài giun nhiều tơ, 57 loài cua.
Dạng sinh thái hang động và tùng, áng: dạng sinh thái này tại vịnh Hạ Long rất tiêu biểu và hiếm nơi có được. Đặc biệt khu vực Tùng Ngón là nơi cư trú của 65 loài san hô, 40 loài động vật đáy, 18 loài rong biển. Tại đây cũng có 4 loài sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
Dạng sinh thái đáy mềm: đây là dạng sinh thái của quần xã cỏ biển với 5 loài, là nơi sống của 140 loài rong biển, 3 loài giun nhiều tơ, 29 loài nhuyễn thể, 9 loài giáp xác.
Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn: sinh vật sống trên vùng triều đặc trưng là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị dinh dưỡng cao như sá sùng, hải sâm, sò, ngao v.v[3].
Hệ sinh thái biển:
Thực vật phù du: ở vịnh Hạ Long có 185 loài.
Động vật phù du: vùng Hạ Long-Cát Bà có 140 loài động vật phù du sinh sống.
Động vật đáy: thống kê sơ bộ, vùng Hạ Long có đến 500 loài động vật đáy, trong đó có 300 loài động vật nhuyễn thể, 200 loài giun nhiều tơ, 13 loài da gai.
Động vật tự du: đã xác định được 326 loài động vật tự du, phân bố trong vịnh Hạ Long[3].
Đến nay sơ bộ đánh giá hệ thực vật trong vùng vịnh Hạ Long có khoảng 347 loài, thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ. Trong tổng số 347 loài thực vật đã biết, có 16 loài đang nằm trong danh sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp. Trong các loài thực vật quý hiếm, có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài cây làm cảnh, 13 loài cây ăn quả và 10 nhóm có khả năng sử dụng khác nhau[27].
Các đảo tại vịnh Hạ Long có các loài động vật thân mềm đa dạng, đặc biệt là các loài cư trú trong hốc đá, và có tới 60 loài động vật đặc hữu[5]. Hải sản Hạ Long được khai thác và nuôi trồng bao gồm bào ngư, hải sâm, sá sùng, tôm, cá, mực (mực ống, mực nang, mực thước), bạch tuộc, sò huyết, trai và điệp nuôi lấy ngọc [13]. Tài liệu của Phân viện Hải dương học Hải Phòng cho thấy trong 1.151 loài động vật tại Hạ Long thì đã có tới gần 500 loài cá, 57 loài cua[19].
Di chỉ khảo cổ và chứng tích lịch sử
Di chỉ khảo cổ
Năm 1937, ông Vũ Xuân Tảo, một công nhân lò nấu thủy tinh, trong lúc đào cát để làm nguyên liệu chế tạo thủy tinh đã tình cờ phát hiện được một chiếc rìu đá trên đảo Ngọc Vừng. Phát hiện này đã gây xôn xao các nhà khảo cổ học Pháp thời ấy, bước đầu xác định Hạ Long không chỉ là kỳ quan thiên nhiên mà còn là cái nôi của người tiền sử. Những nghiên cứu từ phía các nhà khảo cổ học Andecxen người Thụy Điển và chị em nhà Colani người Pháp sau đó đã cho thấy những công cụ đá, đồ đựng bằng gốm, đồ trang sức bằng đá và xương được phát hiện, thu thập ở Hạ Long đều thuộc thời đại hậu kỳ đá mới[7]. Những di chỉ khảo cổ tại vịnh Hạ Long ban đầu được các nhà khoa học Pháp xếp vào khái niệm văn hóa Danhdola[28], trong đó Danhdola là tên đảo Ngọc Vừng do người Pháp đặt.
Khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng, các nhà khoa học Việt Nam và các chuyên gia khảo cổ học Liên Xô đã tiến hành nhiều cuộc thám sát điều tra trên diện rộng, qui mô lớn trong khu vực vịnh Hạ Long và vùng lân cận. Những cuộc khảo sát năm 1960 đã phát hiện tại di chỉ Tấn Mài trên vùng Vịnh những mảnh ghè của người vượn và tiếp đó là khai quật được những mũi tên đồng từ thời Hùng Vương. Những kết quả nghiên cứu đó đã cho phép khẳng định về một nền văn hóa Hạ Long cách nay khoảng từ 3.500-5.000 năm[7].
Từ 1960 đến nay, sự thám sát và nghiên cứu rộng mở về khảo cổ học, văn hóa học tại trên 40 địa điểm[29], bao gồm trong đó Đồng Mang, Xích Thổ, Cột 8, Cái Dăm (thành phố Hạ Long) Soi Nhụ, Thoi Giếng (Móng Cái), Hà Giắt (Vân Đồn), hòn Hai Cô Tiên v.v. đã đưa đến kết luận quan trọng chứng minh cho sự tồn tại của người tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long lùi xa hơn nữa. Không chỉ có một văn hóa Hạ Long từ khoảng 3-5 thiên niên kỷ trước, còn có nền văn hóa Soi Nhụ cách ngày nay trong khoảng 18.000-7.000 năm trước Công Nguyên, phân bố rộng trong khu vực vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long với các di chỉ tiêu biểu tại Mê Cung, Tiên Ông, Thiên Long. Các di vật còn lại chủ yếu là sản phẩm đã được sử dụng làm thức ăn như ốc núi (cyclophorus) và ốc suối (melania), một số hóa thạch của nhuyễn thể nước ngọt và một số công cụ lao động thô sơ tích tụ cấu tạo thành tầng văn hóa[6]. Các nhà khoa học nhận thấy, phương thức sống chủ yếu của cư dân Soi Nhụ là bắt sò ốc, hái lượm, đào củ, đào rễ cây, biết bắt cá nhưng chưa có nghề đánh cá. So sánh với các cư dân văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn đương thời thì cư dân Soi Nhụ sống gần biển hơn nên chịu sự chi phối từ biển nhiều hơn, trực tiếp hơn.
Bên cạnh nền văn hóa Soi Nhụ không thể không nói đến Văn hóa Cái Bèo, cách ngày nay 7000-5000 năm trước Công Nguyên, được coi như giai đoạn gạch nối giữa văn hóa Soi Nhụ trước đó và văn hóa Hạ Long về sau. Di chỉ khảo cổ Cái Bèo tập trung chủ yếu thuộc đảo Cát Bà (Hải Phòng) và Giáp Khẩu, Hà Gián thuộc vịnh Hạ Long. Văn hóa Cái Bèo là một trong những bằng chứng chắc chắn về sự đương đầu với biển khơi từ rất sớm của người Việt cổ, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố, sắc thái khác biệt vào một dòng văn hóa đá cuội truyền thống rất lâu đời trong khu vực Việt Nam và Đông Nam Á. Phương thức cư trú và sinh sống của người cổ đại Cái Bèo ngoài săn bắt hái lượm đã có thêm nghề khai thác sản vật từ biển[6].
Tiếp nối không gián đoạn trong suốt tiến trình sơ sử, ba nền văn hóa mang tên Soi Nhụ-Cái Bèo-Hạ Long trên khu vực vịnh Hạ Long chứa đựng những giá trị nhất định, cho thấy vịnh Hạ Long và khu vực lân cận một thời đã từng là một cái nôi văn hóa của nhân loại[29]. Những đặc điểm của nền văn hóa này chưa được giải mã toàn diện, và những kết quả thám sát khảo cổ học trong những năm gần đây vẫn tiếp tục hé lộ những bất ngờ mới mà một trong số đó là sự phát hiện di chỉ Đông Trong vào năm 2006. Trong một hang động tại Đông Trong, các nhà khảo cổ học phát hiện được di cốt người tiền sử, rìu đá, mảnh nồi gốm, trầm tích nhuyễn thể được sử dụng làm thức ăn và hàng trăm hạt chuỗi làm từ vỏ ốc, là một trong ba khu vực trên vùng vịnh Hạ Long tìm thấy di cốt người tiền sử sau Soi Nhụ và hòn Hai Cô Tiên[29][30].
Chứng tích lịch sử, văn hóa và phong tục
Vịnh Hạ Long là nơi gắn liền với những trang sử của quân dân Việt Nam trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước với những địa danh như Vân Đồn, nơi có hải cảng cổ tại miền Bắc Việt Nam vào thế kỷ 12. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự hình thành thương cảng Vân Đồn: "Kỷ Tỵ, (Đại Định) năm thứ 10 (1149). Mùa xuân, tháng hai, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào cảng Hải Đông (vịnh Hạ Long) xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hóa quí, dâng tiến sản vật địa phương"[7]. Thương cảng Vân Đồn với đặc điểm là có nhiều đảo đất, đảo đá ngang dọc, chia cắt biển thành nhiều vũng, luồng lạch sâu và kín gió, giúp cho thuyền bè neo đậu an toàn, không bị gió bão uy hiếp, đã khiến khu vực này trở nên sầm uất trong thông thương với khu vực và nhiều nơi trên thế giới.
Bên cạnh thương cảng Vân Đồn, tại vùng vịnh Hạ Long còn có Núi Bài Thơ lịch sử, nơi lưu lại bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông hoàng đế khắc trên đá từ năm 1468, nhân chuyến tuần du vùng biển phía Đông; và bút tích của chúa Trịnh Cương năm 1729. Bãi Cháy phía bờ Tây của Vịnh, tương truyền gắn với sự tích những chiến thuyền chở lương thực của quân Nguyên-Mông bị quân dân nhà Trần do Trần Khánh Dư chỉ huy đốt cháy, dạt vào làm cháy cả cánh rừng trong khu vực[31]. Trên Vịnh còn có hang Đầu Gỗ, nơi còn vết tích hiện vật là những cây cọc gỗ được Trần Hưng Đạo cho đem giấu trước khi đóng xuống lòng sông Bạch Đằng, và cách Vịnh không xa là cửa sông Bạch Đằng, chứng tích của hai trận thủy chiến trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc.
Hàng trăm đảo, hang động, nhũ đá trong vịnh Hạ Long được đặt tên theo các huyền thoại, truyền thuyết, hoặc theo trí tưởng tượng dân gian phong phú của cộng đồng cư dân nơi đây.
Về phong tục và văn hóa, ngư dân làng chài Cửa Vạn trên vùng vịnh Hạ Long hiện nay còn lưu giữ những câu hát giao duyên cổ xưa, đó là lối hát đúm, hò biển và hát đám cưới. Trong đó, theo cụ Nguyễn Văn Cải, ngư dân cao tuổi của làng chài Cửa Vạn, hát đám cưới của Hạ Long không kém gì lối hát của người quan họ Kinh Bắc, và đám cưới của cư dân vạn chài cũng khá đặc biệt vì theo phong tục chỉ được tổ chức trong những ngày rằm[7]. Đây là lúc trên Vịnh có trăng sáng, cá ăn tản, người dân chài không đi đánh cá.
Các tiềm năng của vịnh Hạ Long
Tiềm năng du lịch, nghiên cứu
Với các giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất, địa mạo, lại là trung tâm của khu vực có nhiều yếu tố đồng dạng bao gồm vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc, quần đảo Cát Bà với vịnh Cát Bà và vịnh Lan Hạ phía Tây Nam, vịnh Hạ Long hội tụ những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch với loại hình đa dạng. Đến vịnh Hạ Long, du khách có thể tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham quan ngắm cảnh, tắm biển, bơi thuyền, thả dù, lặn khám phá rặng san hô, câu cá giải trí. Hiện nay, khách đến vịnh Hạ Long chủ yếu tham quan ngắm cảnh, tắm biển và bơi thuyền. Các loại hình du lịch du thuyền tại vịnh Hạ Long bao gồm tham quan Vịnh ban ngày, đi tour buổi chiều ngắm hoàng hôn trên Vịnh, du thuyền đêm để ngắm cảnh Vịnh về đêm kết hợp với câu cá mực, thậm chí có thể tự chèo thuyền để khám phá Vịnh[32]. Trong những năm tới, ngành du lịch sẽ mở thêm nhiều tuyến điểm tham quan và tăng thêm nhiều loại hình du lịch khác. Dự kiến đến năm 2010, Quảng Ninh sẽ là một trong những điểm du lịch lớn nhất cả nước[8].
Quá trình đô thị hóa thành phố Hạ Long đang diễn ra mạnh mẽ về mọi mặt là một tiền đề vững chắc để phát triển du lịch. Hiện thành phố Hạ Long có khoảng 300 khách sạn từ 1 sao đến 5 sao với 4500 phòng nghỉ và nhều khách sạn mini cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Sự tăng trưởng về số lượng khách ở Hạ Long được đánh giá là nhanh nhất ở Việt Nam trong những năm gần đây[8]. Năm 1996, vịnh Hạ Long đón 236 lượt khách, thì năm 2003 vịnh Hạ Long đón tới 1.306.919 lượt khách. Năm 2005, lượng khách đến vùng Vịnh ước đạt 1,5 đến 1,8 triệu, và đến năm 2010 dự đoán vịnh Hạ Long sẽ là điểm đón tiếp 5-6 triệu lượt khách[8].
Là một trong 2 vịnh biển đẹp nhất Việt Nam bên cạnh vịnh Nha Trang, vịnh Hạ Long là nơi thường xuyên đón tiếp các tàu du lịch quốc tế chọn làm điểm dừng tham quan[33].
Tiềm năng cảng biển và giao thông thủy
Bên đặc điểm là vịnh kín ít chịu tác động của sóng gió, vịnh Hạ Long cũng có hệ thống luồng lạch tự nhiên dày đặc và cửa sông ít bị bồi lắng. Điều kiện thuận lợi này cho phép xây dựng hệ thống giao thông cảng biển lớn bên cạnh cảng nước sâu Cái Lân (Hạ Long) và Cửa Ông (Cẩm Phả). Ngoài ra, Quảng Ninh còn có một hệ thống cảng phụ trợ như: Mũi Chùa, Vạn Gia, Nam Cầu Trắng. Mục tiêu đến năm 2010 sẽ xây dựng hoàn chỉnh cảng Cái Lân với 7 cầu cảng, công suất hơn 14 triệu tấn cho phép tiếp nhận tàu trọng tải trên 5 vạn tấn[8].
Tiềm năng thủy hải sản
Vùng biển Quảng Ninh nói chung và vùng biển vịnh Hạ Long nói riêng chứa đựng nhiều hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học, trữ lượng hải sản lớn. Vùng Vịnh thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt hải sản do có các điều kiện thuận lợi: khí hậu tốt, diện tích bãi triều lớn, nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao và đa dạng với cá song, cá giò, sò, tôm, bào ngư, trai ngọc các loại[8].
Di sản Việt Nam và thế giới
Di sản quốc gia Việt Nam
Năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa-Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553km² bao gồm 1969 hòn đảo[10].
Các đảo trong vùng vịnh Hạ Long được quy hoạch là khu bảo tồn các di tích văn hoá-lịch sử và cảnh quan quốc gia, theo Quyết định Số 313/VH-VP của Bộ Văn hoá-Thông tin Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1962 (ADB 1999). Các đảo này cũng có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định Số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính Phủ).
Năm 1995, vịnh Hạ Long, cùng với đảo Cát Bà, được Phân viện Hải dương học Hải Phòng đề nghị đưa vào danh sách hệ thống các khu bảo tồn biển.
Năm 1999, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB 1999) đề xuất thành lập một khu bảo vệ có tên là Khu cảnh quan thiên nhiên vịnh Hạ Long rộng 155.300 ha[5], tuy hiện nay vẫn chưa thực hiện được.
Di sản thế giới lần 1: giá trị thẩm mỹ
Ngày 21 tháng 12 năm 1991 Chính phủ Việt Nam cho phép xây dựng hồ sơ về cảnh quan vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản Thế giới xét duyệt di sản thiên nhiên thế giới. Năm 1993, hồ sơ khoa học về vịnh Hạ Long được hoàn tất và chuyển đến UNESCO để xem xét. Trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ, UNESCO lần lượt cử các đoàn chuyên gia đến Quảng Ninh khảo sát, hướng dẫn, nghiên cứu, thẩm định hồ sơ tại chỗ. Hồ sơ vịnh Hạ Long được chấp nhận đưa vào xem xét tại hội nghị lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới[10].
Ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong kỳ họp thứ 18 tại Phuket, Thái Lan, Ủy ban Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu về mặt thẩm mĩ (tiêu chí vii)[34], theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới[10][11].
Di sản thế giới lần 2: giá trị địa chất địa mạo
Tháng 9 năm 1998, theo đề nghị của Ban quản lý vịnh Hạ Long và IUCN, Giáo sư Tony Waltham, chuyên gia địa chất học trường Đại học Trent Nottingham đã tiến hành nghiên cứu địa chất vùng đá vôi carxtơ vịnh Hạ Long. Giáo sư đã gửi bản báo cáo về giá trị địa chất vịnh Hạ Long tới UNESCO tại Paris, Văn phòng IUCN tại Thụy Sĩ và Hà Nội, đồng gửi Ban quản lý vịnh Hạ Long[10]. Ngày 25 tháng 2 năm 1999, sau khi nhận được báo cáo của giáo sư Tony Waltham, UNESCO đã gửi thư tới Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam và Ban quản lý vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận về giá trị địa chất, địa mạo vùng đá vôi vịnh Hạ Long.
Tới tháng 7 năm 1999, hồ sơ trình Hội đồng Di sản Thế giới để công nhận vịnh Hạ Long về giá trị địa chất hoàn tất và được gửi đến Trung tâm Di sản thế giới tại Paris. Tháng 12 năm 1999 tại hội nghị lần thứ 23 Hội đồng Di sản Thế giới họp tại thành phố Marrakech của Maroc, Hội đồng Di sản Thế giới đã đưa việc thẩm định hồ sơ để công nhận giá trị địa chất vịnh Hạ Long vào năm 2000. Tháng 3 năm 2000 Giáo sư Erery Hamilton Smith, chuyên gia của tổ chức IUCN được cử đến Hạ Long để thẩm định. Tháng 7 năm 2000, kỳ họp giữa năm của Trung tâm Di sản thế giới tại Paris đã chính thức đề nghị Ủy ban Di sản Thế giới công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thế giới bởi giá trị toàn cầu về địa chất địa mạo, theo tiêu chuẩn viii của UNESCO "là ví dụ nổi bật đại diện cho các giai đoạn của lịch sử trái đất, bao gồm bằng chứng sự sống, các tiến triển địa chất đáng kể đang diễn ra trong quá trình diễn biến của các kiến tạo địa chất hay các đặc điểm địa chất và địa văn"[10][11].
Ngày 2 tháng 12 năm 2000, căn cứ Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và kết quả xét duyệt hồ sơ địa chất vịnh Hạ Long, tại Hội nghị lần thứ 24 của Hội đồng Di sản Thế giới tại thành phố Cairns, Queensland, Úc, Hội đồng Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn (viii) về giá trị địa chất địa mạo[10].
Đề cử di sản thế giới lần thứ 3
Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang xúc tiến đệ trình UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 3[35], dựa trên những giá trị về khảo cổ học và đa dạng sinh học trong vùng Vịnh.
Cuộc bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới
Hiện nay, trong nỗ lực hướng tới lựa chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới trên mạng Internet do tổ chức NewOpenWorld[36][37], một tổ chức tư nhân, đứng ra tổ chức toàn cầu, vịnh Hạ Long đang được chính quyền Quảng Ninh nói riêng và các tổ chức phi chính phủ trong nước nói chung thực hiện tổng quảng bá và tuyên truyền.
Cuộc bầu chọn này chia thành 2 vòng, vòng một kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm 2008 để chọn ra 21 ứng viên cao điểm nhất để tiếp tục bầu chọn vòng 2 chọn ra 7 kỳ quan thiên nhiên, và công bố kết quả cuối cùng vào mùa hè năm 2010[38]. 9h trưa ngày 20 tháng 2 năm 2008 NewOpenWorld đã công bố kết quả bước đầu khi vịnh Hạ Long lần đầu tiên vượt lên giữ vị trí thứ nhất[39] trên bảng xếp hạng, sau khi đã trải qua rất nhiều lần lên hạng và xuống hạng trong sự cạnh tranh với 77 kì quan được bình chọn nhiều nhất trên thế giới. Cùng với sự thăng hạng của vịnh Hạ Long, hai địa danh khác ở Việt Nam là Phong Nha-Kẻ Bàng và Phanxipăng cũng đã lần đầu tiên lọt vào top 3 kỳ quan được bầu chọn nhiều nhất vào thời điểm 23 giờ đêm ngày 22 tháng 2 năm 2008[40].
Tuy nhiên, cuộc bầu chọn này kéo dài đến năm 2010 và vị trí của vịnh Hạ Long trên bảng xếp hạng sẽ còn thay đổi. Thêm nữa, do không dựa trên những tiêu chí khoa học nên kết quả của cuộc bầu chọn không được UNESCO công nhận[41]. Theo UNESCO, kết quả từ hoạt động “Bảy kỳ quan thế giới mới” hoàn toàn mang tính riêng tư, chỉ phản ánh ý kiến của một cộng đồng cư dân sử dụng mạng Internet chứ không phải là toàn bộ thế giới[41]. Tổ chức này đòi các trang web khác muốn sử dụng các nội dung về các thắng cảnh bình chọn phải trả phí 5000 USD một tháng [42]. Ngoài việc bán phiếu bầu, NOWC dựa vào các khoản quyên góp từ cá nhân, việc mua bán các loại hàng hoá như áo phông, đồ lưu niệm và các khoản thu từ quảng cáo để hoạt động.
Do điều này, Nagib Amin, một chuyên gia Ai Cập về di sản thế giới phát biểu: "Ngoài khía cạnh thương mại, lá phiếu không có cơ sở khoa học.". Có người đã liên hệ hoạt động và cách kinh doanh của NOWC với Viện Tiểu sử Hoa Kỳ.
Ngày 14/3/2008, UBND tỉnh Quảng Ninh, báo Thanh Niên, Đài Truyền hình Việt Nam và EVNTelecom đã ký hợp tác và phát động chương trình vận động bầu chọn cho vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan thiên nhiên của thế giới cho đến 31 tháng 12 năm 2008, trong đó có 1 "Cuộc tuần hành vòng quanh đất nước bằng xe đạp và thiết lập các điểm bầu chọn cho vịnh Hạ Long ở các tỉnh, thành phố" [43].
Ngày 14 tháng 4 năm 2008, theo thông tin của Ban quản lý vịnh Hạ Long thì tổ chức NewOpenWorld đã loại vịnh Hạ Long ra khỏi danh sách bầu chọn của họ với lý do một số trang web của Việt Nam trong quá trình vận động bầu chọn đã vi phạm bản quyền khi sử dụng logo và thông tin của họ để tuyên truyền[44][42]. Cũng theo Ban quản lý thì tổ chức này đòi các trang web khác muốn sử dụng các nội dung trên phải trả phí 5000 USD một tháng, và Ban quản lý đang phải tiếp tục thương lượng với NewOpenWorld để giải quyết vụ việc[42].
Ngày 18 tháng 4, vịnh Hạ Long quay trở lại vị trí dẫn đầu danh sách bầu chọn, tuy nhiên 2 ứng cử viên còn lại của Việt Nam chưa xuất hiện trở lại.
Ngày 1 tháng 8, các địa danh còn lại đã có trong danh sách với các thứ hạng là Vịnh Hạ Long xếp thứ 3, Động Phong Nha xếp thứ 11, núi Fansipan thứ 12, sông Mêkông thứ 30
Ngày 13 tháng 8, 2008, Vịnh Hạ Long tụt xuống thứ vị trí thứ 7 trong bảng xếp hạng 77 kì quan thiên nhiên thế giới do trang web New7wonders.com tổ chức bầu chọn.
Ngày 19 tháng 8, 2008, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh đã chỉ đạo Cục Hợp tác Quốc tế đưa ra 9 chương trình hành động từ nay đến cuối năm cho cuộc vận động bầu chọn cho vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan thiên nhiên thế giới [45].
Ngày 06 tháng 7, 2009 (trước ngày hết hạn một ngày), Vịnh Hạ Long dẫn đầu bảng G (Các kì quan biển), không có Động Phong Nha và núi Fansipan, sông Mekong xếp thứ 19 tại bảng F.
Vấn đề bảo tồn
Tác động của chủ quan và khách quan đối với vùng Vịnh
Hạ Long, Hải Phòng và Hà Nội là các thành phố trung tâm quan trọng của sự phát triển kinh tế ở miền Bắc Việt Nam. Sự phát triển kinh tế của các khu đô thị này, cùng với sự vươn lên nhanh chóng của các khu vực phía Nam Trung Quốc kể cả Hồng Kông, đều dẫn đến sự gia tăng về sức ép của con người tới vịnh Hạ Long[5]. Khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng hiện có mức tăng trưởng rất nhanh về sự phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt về mặt giao thông, tàu biển, khai thác than và các ngành du lịch, dịch vụ[5]. Từ năm 1999, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã cảnh báo rằng việc xây dựng cảng mới ở vùng vịnh Hạ Long có thể dẫn đến sự gia tăng về giao thông đường biển trong khu vực, và phát triển cơ sở hạ tầng của du lịch sẽ là các mối đe dọa đối với Vịnh. Ô nhiễm do chất thải công nghiệp, sự khai thác và đánh bắt tận diệt thủy sản cũng mang lại những đe dọa nghiêm trọng. Có những ý kiến cho thấy cần tiếp tục xem xét một cách thận trọng về sự phát triển trong vùng Vịnh thông qua cơ cấu quản lý vì các giá trị quan trọng về mặt môi trường cho toàn vùng[5].
Hiện nay, sự phát triển mở rộng đô thị và sự gia tăng dân số cơ học, việc xây dựng bến cảng và nhà máy; các hoạt động du lịch và dịch vụ, rác thải trong sinh hoạt và chế xuất, hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đã không chỉ còn là nguy cơ, mà sự ô nhiễm môi trường và sự biến đổi cảnh quan của vịnh Hạ Long đã ở mức báo động[46]. Do ô nhiễm, tình trạng những bãi san hô ở đáy biển sâu của vịnh Hạ Long đang trụi dần đi[47] mà gần đây các nhà môi trường Việt Nam mới phát hiện ra[48]. Mặt nước trong xanh của Vịnh đang ngày càng đục dần, bồi lắng khiến các nhà khoa học lên tiếng cảnh báo nguy cơ vịnh Hạ Long có thể bị "đầm lầy hóa"[49]. Thêm vào đó, do khu vực vịnh Hạ Long có hàng ngàn hòn đảo mà phần lớn là núi đá vôi, nguồn nguyên liệu xây dựng tốt lại thuận tiện cho khai thác nên rất dễ bị tư nhân lợi dụng, gây biến dạng cảnh quan[50].
Ở một khía cạnh khác, biến đổi khí hậu toàn cầu với mực nước biển dâng cao sẽ tác động mạnh tới cảnh quan, hệ thống đảo, hang động và đa dạng sinh học của Vịnh mà Việt Nam chưa đủ nhân lực, vật lực để sẵn sàng ứng phó[51].
Về văn hóa cộng đồng, một vấn đề mà nhiều du khách quốc tế đã phàn nàn là ý thức về bảo vệ môi trường di sản của khách du lịch và của cộng đồng địa phương còn chưa cao, chưa xây dựng được hình ảnh, thương hiệu du lịch Hạ Long hiện đại, văn minh và lịch sự. Vẫn còn hiện tượng người ăn xin đeo bám khách du lịch, ảnh hưởng tới môi trường du lịch của di sản[50]. Việc giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong mỗi người dân; sự hạn chế các khu lưu trú nghỉ dưỡng trên các đảo; nỗ lực kiểm soát theo tiêu chuẩn du lịch sinh thái và quy định bảo tồn di sản đối với cả mặt nước vùng đệm của di sản[50], đang là những vấn đề lớn đặt ra nhiều thách thức với chính quyền địa phương.
Công tác bảo tồn
Trong những động thái nhằm ngăn chặn sự tác động tiêu cực của con người đến thiên nhiên vùng vịnh Hạ Long, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã cấm các loại xuồng máy cao tốc phục vụ du khách trong khu vực Vịnh để bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học trong vùng Vịnh. Ngoài ra, tỉnh Quảng Ninh cũng thực hiện di dời các hộ dân sinh sống trên các vạn chài vào đất liền để bảo vệ môi trường nước của vịnh Hạ Long[52]; đồng thời cấm bốc dỡ than đá trong khu vực di sản để chống ô nhiễm bụi than và bùn than cho Vịnh theo khuyến cáo của UNESCO[53]. Tại Vịnh, một số người dân đã có ý thức tự nguyện giữ gìn cảnh quan, thông qua việc lập tổ hợp tác tự nguyện thu gom và xử lý rác thải[54].
Sự tương đồng về cảnh quan, địa chất địa mạo, đa dạng sinh học, cũng như những giá trị văn hóa, khảo cổ của toàn vùng, bao gồm không chỉ vịnh Hạ Long mà còn cả quần đảo Cát Bà và vùng biển đảo vịnh Bái Tử Long khiến những nghiên cứu khoa học địa chất, khảo cổ, văn hóa, và những hoạt động du lịch, khai thác hải sản v.v. không còn bó hẹp trong phạm vi vùng Vịnh. Đã có những ý kiến cho rằng cần xem xét việc mở rộng ngoại biên của khu vực bảo tồn, không chỉ giới hạn trong diện tích nhỏ hẹp của vùng vịnh Hạ Long hiện nay mà còn bao quát cả vùng biển đảo có những yếu tố đồng dạng, kéo dài từ Quần đảo Cát Bà lên sát biên giới Việt Trung[51]. Với chiều dài khoảng 300km và chiều rộng khoảng 60km, toàn bộ khu vực này có thể được nhìn nhận và bảo tồn như một vùng sinh thái đặc biệt về biển của Việt Nam[51].
Vịnh Hạ Long trong thi ca
Cách đây hơn 5 thế kỷ, Nguyễn Trãi đi ngang qua khu vực này và lần đầu tiên ca ngợi vịnh Hạ Long là kỳ quan, khi viết trong bài "Lộ nhập Vân Đồn"[9]:
Lộ nhập Vân Đồn san phục san
Thiên khôi địa khiết phó kỳ quan
(Đường tới Vân Đồn lắm núi sao!
Kỳ quan đất dựng giữa trời cao)
Vua Lê Thánh Tông đề trên vách đá Núi Bài Thơ năm 1468:
Cự lãng nông nông kiểu bách xuyên
Quần sơn cờ cổ bích liên thiên
Trăm dòng sông chảy mênh mông quanh núi
Quần đảo rải rác như bàn cờ, biển liền trời sắc xanh biếc.
Năm 1729, chúa Trịnh Cương cũng có những vần thơ ứng tác trước vẻ đẹp của Hạ Long[55]:
Minh bộ vô nhai hối tổng xuyên
Sơn liên tiêu thủy, thủy man thiên
Bể lớn mênh mông họp cả con con sông lại,
Núi lấp loáng bóng nước, nước lênh láng lưng trời.
Trong số thơ chữ Nho của Hồ Xuân Hương có bài "Độ Hoa Phong" vịnh cảnh Hạ Long:
Độ Hoa Phong
Phiến phàm vô cấp độ Hoa Pong
Tiêu bích đan nhai xuất thủy trung
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển
Sơn hình tà kháo thủy môn thông
Ngư long tạp xử thu yên bạc
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy Tinh cung
dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn
Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong
Đá dựng bờ son dựng giữa dòng
Dáng nước lần theo chân núi chuyển
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông
Cá rồng lẫn nấp nơi thu nhạt
Âu, lộ cùng bay bóng xế hồng
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc
Đâu nào là cái Thủy Tinh cung?
Hình ảnh Hạ Long cũng xuất hiện trong thơ của những nhà thơ hiện đại, như Xuân Diệu[56]:
Đây bản thảo tạo vật còn nặn dở...
Đá thuở trước khổng lồ chơi ném thử.
Không chỉ cảnh đẹp của Hạ Long là đề tài cho thi ca, thiên nhiên nơi đây còn ban cho con người một nguồn tài nguyên phong phú. Huy Cận viết trong bài Đoàn thuyền đánh cá:[57]:
Cá nhụ, cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở sao lùa nước Hạ Long?
Móng Cái
(xưa gọi là Múng Cỏi) là thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, nằm trên sông Ka Long, cách thành phố Hạ Long 178 km. Móng Cái có diện tích 51.827,8 ha, dân số 108.016 người và 17 đơn vị hành chính trực thuộc. Trong vùng nội thị có đảo Vĩnh Thực (rộng 3500 ha) đã thuộc thành phố, phía nam là đảo Trần từ năm 1996 đã bị cắt về huyện đảo Cô Tô.
Địa lý
Đông và Đông Nam Móng Cái giáp huyện Cô Tô và vịnh Bắc Bộ; Tây và Tây Bắc giáp huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh; Bắc và Đông Bắc giáp thành phố Đông Hưng - huyện Phòng Thành - tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc.
Diện tích và dân số
Thành phố Móng Cái rộng 518,278 km2 và có 108.016 nhân khẩu (tháng 12/2001).
Hành chính
Thành phố Móng Cái có 17 đơn vị hành chính, bao gồm:
8 phường:
Hòa Lạc
Trần Phú
Ka Long
Ninh Dương
Trà Cổ
Hải Yên
Hải Hòa
Bình Ngọc
và 9 xã:
Bắc Sơn
Hải Tiến
Hải Đông
Hải Xuân
Hải Sơn
Quảng Nghĩa
Vạn Ninh
Vĩnh Thực
Vĩnh Trung
Lịch sử
Đầu thế kỷ 19, là tổng Vạn Ninh, tổng Bát Tràng và một phần tổng Hà Môn thuộc châu Vạn Ninh, phủ Hải Đông, trấn An Quảng, từng là thủ phủ của "Xứ Nùng tự trị". Ngày trước Móng Cái còn bao gồm cả 2/3 diện tích của huyện Phòng Thành Cảng- Quảng Tây- Trung Quốc, nhưng sau hiệp ước Pháp-Thanh 1887 thì diện tích Móng Cái còn như ngày nay, đã bị mất đi khu Bạch Long- Giang Bình, xã Đông Hưng, xã Thượng Tư và một số đảo khác.
Móng Cái là tỉnh lỵ của tỉnh Hải Ninh cũ từ năm 1906.
Thị xã Móng Cái được tái lập ngày 1/2/1955 và trở thành tỉnh lị tỉnh Hải Ninh sau khi bị giải thể trong kháng chiến chống Pháp. Sau đó thị xã Móng Cái bị hạ cấp xuống thành thị trấn Móng Cái, huyện lỵ của huyện Hải Ninh.
Từ ngày 16/1/1979 đến ngày 28-5-1991 thị trấn Móng Cái đổi tên là thị trấn Hải Ninh.
Sau chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979, thị trấn Móng Cái bị tàn phá nặng nề, nhiều cơ sở kinh tế, văn hoá bị phá huỷ, đặc biệt là khu phố cổ dọc theo bờ sông Ka Long không còn nữa. Nhiều cư dân gốc Hoa cũng bị trục xuất ra khỏi thị xã khiến kinh tế địa phương trở nên trì trệ.
Từ năm 1991, sau khi quan hệ hai nước Việt - Trung trở lại bình thường thì sự trao đổi buôn bán qua cửa khẩu Bắc Luân ngày càng tăng lên.
Ngày 20 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 52/1998/NĐ-CP, thành lập lại thị xã Móng Cái trên cơ sở huyện Hải Ninh cũ trực thuộc tỉnh. Hiện nay thị xã Móng Cái được xây dựng lại khang trang hiện đại trở thành một trung tâm thương mại lớn ở phía bắc.
Thành phố Móng Cái được thành lập ngày 25 tháng 9 năm 2008 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của Thị xã Móng Cái cũ.
Địa điểm du lịch
Chùa Linh Khánh
Bãi biển Trà Cổ
Đài Thiên văn Phù Liễn
Đài Thiên văn Phù Liễn xây dựng năm 1902 theo kiến trúc của Pháp thế kỷ 19. Đài được xây dựng sớm nhất Đông Dương với tên gọi là Tổng cục Thiên văn xứ Đông Pháp, đã đi vào lịch sử thế giới. Năm 1957 mang tên Đài vật lý địa cầu Phù Liễn, năm 1979 đổi tên Đài khí tượng thuỷ văn Phù Liễn. Hiện nay là Đài khí tượng thủy văn khu vực Đông Bắc. Nhân dân vẫn quen gọi là Đài Thiên văn Phù Liễn. Đài có Đài Thiên văn Phù Liễn được người Pháp xây dựng trên đỉnh núi Đẩu Sơn, cao 116m so với mặt nước biển. Tên núi Đẩu Sơn gắn với truyền thuyết: Ngọn núi cao nhất này được thiên tinh ứng chiếu, nên vào ban đêm thường phát ra những ánh hào quang như ánh sao Bắc Đẩu. Đặc biệt vùng đất này xưa nay thường sản sinh ra nhiều anh tài, tướng lĩnh cho đất nước. Dưới chân núi có đền thờ vợ chồng Phò mã Cao Toàn - Chiêu Hoa Công chúa và Chiêu Chinh Công chúa đời nhà Trần. Đài Thiên văn là một trong những biểu tượng, là niềm tự hào của người Kiến An.
Với tròn 1 thế kỷ tồn tại, Đài Thiên văn không chỉ là cơ sở nghiên cứu khoa học mà còn là điểm du lịch hấp dẫn. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt bao quát toàn bộ Kiến An và thành phố Hải Phòng. Vào những ngày đẹp trời, có thể thấy rõ cả Đồ Sơn, Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Thái Bình, Nam Định... Đường lên Đài Thiên văn bắt đầu từ Cổng Rồng dưới chân núi. Nếu không muốn đi bằng ô tô, xe máy, du khách có thể đi bộ, leo núi ngắm cảnh rừng thông, núi non, trời mây trong khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp.
Năm 1902, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer1 theo đề nghị của viên giám đốc nông nghiệp và thương mại M. Kapuyt đã quyết định xây dựng Sở Khí tượng và đài quan trắc trung tâm Đông Dương. Giám đốc đài thiên văn Zikawei (Thượng Hải) là P. Froseur được giao trách nhiệm và chọn địa điểm xây dựng đài trung tâm tại đỉnh núi Phù Liễn ở độ cao 116 mét so với mặt biển, ngay tại quận Kiến An, cách trung tâm Hải Phòng tám cây số về phía Tây Nam. Toàn bộ công trình là một quần thể kiến trúc hiện đại, được chia thành khu làm việc trung tâm và khu biệt thự cho sinh hoạt. Trên mặt bằng rộng hai hecta tại đỉnh núi, trung tâm đài gồm hai tòa nhà lớn. Tòa chính là một tòa nhà xây bằng đá xanh dày 60 phân, mặt tiền có ba tầng quay về hướng Đông với những khuôn cửa cong chạm khắc hoa văn trang nhã, trong nhà có trụ hình khối cân xứng, sàn rộng lát đá men màu hồng ngọc hình lục lăng. Phần giữa gồm hai tầng, cấu trúc thành một hội trường trang trọng thông với hai đường hành lang nối với các phòng đặt máy khí tượng. Phần hậu là một tháp cao sáu tầng có cầu thang xoáy. Trên đỉnh tháp đặt kính kinh vĩ dùng để hiệu chỉnh giờ cho địa phương. Tòa nhà nhỏ hơn ở phía Bắc gồm hai tầng, tám phòng để làm việc và nghiên cứu khoa học. Công trình nền móng cho cả khu đồng thời cũng là một hệ thống bể ngầm chứa nước đồ sộ chia thành nhiều ngăn sâu tới sáu hay tám mét, đủ trữ nước mưa phục vụ cho toàn đài trên đỉnh núi làm việc và sinh hoạt quanh năm. Vườn khí tượng đặt sau tháp sáu tầng, đất bằng phẳng rộng 20 mét, dài 30 mét trồng cỏ thấp, hai bên là lối đi lát bê tông. Xung quanh toàn khu vực trung tâm có tường hoa bao bọc. Bên cạnh các công trình kiến trúc đồ sộ trên đỉnh núi, hàng trăm cây lưu niên như phượng vĩ, đa, sấu, bàng, bồ hòn, vải… đã được ươm trồng tạo nên cảnh thiên nhiên hài hoà, bốn mùa xanh tốt. Tới nay, cây cối trở thành đại thụ và nơi đây cũng là cơ quan chuyên nghiên cứu khí hậu sinh học trong suốt gần một thế kỷ nay.
Ngoài kiến trúc Tây phương, đài thiên văn còn có công trình xây cất theo kiểu dáng phương Đông cổ kính. Đó là cổng Rồng (từ quận lỵ lên núi) và cổng Phượng để đi vào đài trung tâm với kiến trúc các tầng mái cong cách điệu, được trang trí hoa văn cổ và mặt nguyệt với đôi rồng hướng lên mặt trăng kiểu “lưỡng long chầu nguyệt”. Du khách qua đây có cảm giác được bước vào một cảnh sắc thiên nhiên thanh lịch, tách biệt với cát bụi trần gian...
Tới năm 1905, toàn bộ quần thể kiến trúc đồ sộ và tinh tế tại núi Phù Liễn đã hoàn thành, chứng minh tài năng lao động của bàn tay người thợ Kiến An - Hải Phòng trong những năm đầu của thế kỷ XX.
Ngay từ những ngày mới thành lập, Đài Phù Liễn hàng ngày đã tổ chức thu và phát tin bằng điện tín và vô tuyến điện tới các trạm khí tượng tại Việt Nam, Lào, Campuchia và các đài quốc tế trong vùng Đông Nam Á - Thái Bình Dương để lập bản đồ dự báo thời tiết, bão, gió mùa Đông Bắc phục vụ tàu thủy đi lại trên biển Đông, đồng thời tích luỹ số liệu nghiên cứu khí hậu nhằm góp phần mở mang đồn điền, trồng cây nhiệt đới.
Đài Phù Liễn thời đó được tự hào sánh ngang với đài khí tượng của Mỹ đặt tại Manila (Philippines), đài khí tượng của Anh tại Hồng Kông, đài Thượng Hải (Trung Quốc), đài Tokyo (Nhật Bản). Nhờ có các loại máy móc hiện đại nhất thời thập niên 1930, Đài Phù Liễn đã xây dựng được các ngành dự báo thời tiết, nghiên cứu khí hậu nông nghiệp, động đất, quản lý giờ. Các bản tin thời tiết phục vụ hàng hải hàng ngày được phát bằng vô tuyến điện, điện thoại, thông báo ở cảng, ở các phòng bưu điện ven biển và phát trên các cột tín hiệu biển. Khi có bão, các bản tin được phát liên tục nhiều lần trong ngày.
Từ sau ngày 13 tháng 5 năm 1955, Hải Phòng giải phóng, Nhà nước ta đã chú trọng khôi phục và phát triển hoạt động của Đài Phù Liễn, khôi phục và xây dựng lại một phần các công trình kiến trúc bị tiêu thổ trong chiến tranh, trang bị nhiều chủng loại máy móc mới.
Ngày 1 tháng 8 năm 1957, Đài chính thức mang tên Đài Vật lý địa cầu Phù Liễn. Từ năm 1963, Đài lập lại công tác dự báo thời tiết khu vực, rồi đến năm 1970 được lắp kính thiên văn quang học cỡ lớn và hiện đại nhất Đông Dương. Năm 1978, nhà vòm thiên văn được xây dựng, sau đó lập thêm chín trạm khí tượng, khí hậu trực thuộc, trong đó xa nhất là trạm Bạch Long Vĩ.
Tôi (NHC) nhớ năm 1999, một nhóm cán bộ cách mạng lão thành của Liên tỉnh ủy Hải Kiến và Tỉnh ủy Kiến An do anh Lê Quốc Thân dẫn đầu đã về thăm lại Đài Phủ Liễn. Đến lúc thăm nơi trước đây có cột tháp cao, nay chỉ còn trơ nền móng, tôi nói với anh Thân rằng chính anh đã phê duyệt phá cái tháp đó. Anh Thân bảo: “Lúc ấy mà có kiến thức như bây giờ thì dại gì phá, làm mất đi một phần di tích lịch sử của ngành khoa học khí tượng, thiên văn nước nhà”. Hiện nay, Đài Phủ Liễn vẫn là cơ sở quan trọng của ngành khí tượng và còn là một trong những điểm đến sáng giá của du lịch Hải Phòng. Hy vọng trong tương lai nó còn tiếp tục được đầu tư quy mô hơn, đẹp hơn. (Rút từ Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 2010).
|