tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
22.07.2010
Tư liệu
Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình

Chu Ân Lai bính âm: Zhōu Ēnlái; Wade-Giles: Chou En-lai) (5 tháng 3 năm 1898 – 8 tháng 1 năm 1976), là một lãnh đạo xuất chúng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, từng giữ chức Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa từ 1949 cho tới khi ông qua đời tháng 1 năm 1976, và Bộ trưởng ngoại giao từ năm 1949 tới năm 1958. Chu Ân Lai đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh giành quyền lực của Đảng Cộng sản, và sau này trong việc xây dựng nền kinh tế Trung Quốc cũng như tái cơ cấu xã hội Trung Quốc. Trên bình diện quốc tế, Chu Ân Lai là một nhà ngoại giao tài năng, là người ủng hộ sự sống chung hoà bình và từng tham gia vào Hội nghị Geneva năm 1954. Nhờ phẩm chất đạo đức của mình, ông rất được lòng dân chúng, và cái chết của Chu Ân Lai khiến sự ủng hộ của dân chúng tăng mạnh trở thành yếu tố then chốt trong cuộc chuyển giao quyền lực ở Trung Quốc từ Mao Trạch Đông sang Đặng Tiểu Bình.


Tuổi trẻ


Chu Ân Lai sinh tại huyện Sơn Dương, phủ Hoài An (nay là huyện Hoài An), tỉnh Giang Tô, Trung Quốc nhưng quê gốc ở huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Gia đình ông, dù thuộc tầng lớp trí thức, nhưng không phong lưu. Ông nội ông là một quan chức cấp thấp trong triều với mức lương ít ỏi. Cha ông liên tục trượt trong các kỳ thi, và trong suốt cuộc đời ông chỉ làm những chân thư ký cấp thấp.


Chu Ân Lai là con trai lớn nhất và cháu đích tôn của họ Chu. Khi chưa tới một tuổi, ông được người em út của cha nhận làm con nuôi, ông này khi ấy đang mỏi mòn vì bệnh lao. Cha ông hy vọng rằng việc nhận con nuôi sẽ giúp người em trai không chết trẻ, nhưng đây là một vấn đề nghiêm trọng đối với một gia đình theo truyền thống Khổng giáo.


Bà Trần, mẹ nuôi của ông, bắt đầu dạy chữ Hán cho ông khi ông mới chập chững. Khi lên bốn tuổi ông đã có thể đọc và viết hàng trăm chữ.


Năm 1907, mẹ đẻ của ông chết vì bệnh lao, và vào mùa hè năm 1908 bà Trần cũng qua đời. Chu Ân Lai mồ côi khi mới lên mười, vì thế mọi người thu xếp để ông rời Hoài An tới thành phố Thẩm Dương ở Mãn Châu sống với người cậu, Yikang. Khi mười hai tuổi, Chu Ân Lai theo học trường Đông Quan, nơi có cách “giáo dục mới,” như toán học và khoa học tự nhiên, cũng như lịch sử Trung Quốc, địa lý và văn học. Các học sinh cũng được tiếp cận với những bản dịch các cuốn sách phương Tây, nơi Chu Ân Lai học được về tự do, dân chủ và các cuộc cách mạng Mỹ, Pháp.


Năm 1913, lúc mười lăm tuổi, Chu Ân Lai tốt nghiệp trường Đông Quan và vào tháng 9 năm ấy ông ghi tên theo học trường Nam Khai tại Thiên Tân. Trong bốn năm tiếp theo ông là một sinh viên siêng năng của ngôi trường truyền giáo Mỹ này. Trong cả thời gian học tập của ông Trung Quốc luôn ở trong tình trạng hỗn loạn. Năm 1911 cuộc Cách mạng Tân Hợi của Tôn Dật Tiên lật đổ nhà Thanh thành lập nước Trung Hoa Dân Quốc. Cuộc Đại chiến thế giới bùng nổ tại Châu Âu khiến sức ép từ những kẻ xâm lược Châu Âu có giảm bớt, nhưng mang lại cho Nhật Bản cơ hội mở rộng tầm ảnh hưởng của mình. Chu Ân Lai thấy rằng Trung Quốc đang bị phá hoại bởi những cuộc can thiệp từ bên ngoài. Ông tham gia các cuộc phản kháng và biểu tình cho đất nước.


Tiếp đó Chu Ân Lai theo học đại học tại Tokyo. Mục tiêu của ông là trở thành một giáo viên để có thể gây ảnh hưởng tới giới trẻ Trung Quốc. Nhưng ông thấy mình không thể tập trung. Ông không thể học và tiếng Nhật của ông cũng kém, khiến ông không theo kịp bài giảng. Tại Nam Khai ông đã viết và phát biểu chống lại sức ép quân sự và chính trị của Nhật tại Trung Quốc và tình trạng rối loạn không thể tránh khỏi trong nước. Ông hô hào các bạn học hành động để cứu vãn Trung Quốc. Câu trả lời của họ là học tập, để trở thành các nhà khoa học và chuyên gia. Trung Quốc cần giới trí thức, cần các bác sĩ có trình độ, kỹ sư và các giáo viên. “Nhưng tại sao?” ông hỏi. “Nếu Trung Quốc đang biến mất, thì học để làm gì?”. Quyết định rời Nhật Bản Chu Ân Lai cũng một phần bị ảnh hưởng bởi quyết định rời Nhật Bản một người bạn học trong trường Nam Khai thời điểm đó, Đồng Quan Hiền (chữ Hoa giản thể: 童冠贤,chữ Hoa phồn thể: 童冠賢).


Đầu tháng 5 năm 1919, thất vọng và không thể hoàn thành công việc học tập, ông rời Nhật Bản. Chu Ân Lai tới Thiên Tân ngày 9 tháng 5, vừa kịp để tham dự Phong trào mùng 4 tháng 5 năm 1919.


Các hoạt động cách mạng


Chu Ân Lai lần đầu tiên nổi tiếng là một nhà hoạt động trên phạm vi quốc gia trong Phong trào mùng 4 tháng 5 (Ngũ Tứ). Ông đã ghi tên theo học khoa văn trường Đại học Nam Khai, khiến ông có cơ hội tới thăm các khoa trong trường, nhưng ông không bao giờ tới lớp học. Ông trở thành một trong những người tổ chức Hiệp hội Sinh viên Thiên Tân, với mục tiêu công khai là “đấu tranh chống các lãnh chúa và chống chủ nghĩa đế quốc, và cứu Trung Hoa khỏi diệt chủng." Chu Ân Lai trở thành chủ bút tờ báo của hiệp hội sinh viên, tờ Sinh viên Thiên Tân. Tháng 9, ông thành lập Hội cứu tế (Awareness Society) với mười hai nam giới và tám phụ nữ. Đặng Dĩnh Siêu, cô gái mười lăm tuổi, vợ của Chu Ân Lai sau này, cũng là một thành viên sáng lập. (Nhưng mãi tới ngày 8 tháng 8 năm 1925 họ mới lập gia đình). Chu Ân Lai đóng vai trò then chốt trong việc sáp nhập giữa Hiệp hội Sinh viên Thiên Tân toàn nam giới và Hội Phụ nữ Yêu nước toàn nữ giới.


Tháng 1 năm 1920, cảnh sát bố ráp xưởng in và bắt giữ nhiều thành viên Hội cứu tế. Chu Ân Lai dẫn đầu một nhóm sinh viên phản đối các vụ bắt giữ, và chính ông cũng bị bắt với 28 người khác. Sau phiên toà vào tháng 7, họ chỉ bị kết án một tội nhỏ và được thả. Quốc tế Cộng sản III đã muốn thu nhập Chu Ân Lai vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng dù đang nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ông vẫn chưa tham gia. Thay vì đi sang Mátxcơva học tập, ông chọn sang Pháp với tư cách một nhà tổ chức sinh viên. Đặng Dĩnh Siêu ở lại chịu trách nhiệm điều hành Hội cứu tế khi ông vắng mặt.


Học tập tại Pháp và những năm tháng ở Châu Âu


Ngày 7 tháng 11 năm 1920, Chu Ân Lai và 196 sinh viên Trung Quốc khác đi thuyền từ Thượng Hải tới Marseilles, Pháp. Tại Marseilles họ được một thành viên Uỷ ban Giáo dục Trung-Pháp tiếp đón và lên tàu hoả tới Paris. Hầu như ngay khi tới nơi, Chu Ân Lai đã rơi vào một cuộc tranh luận giữa các sinh viên và các cơ quan giáo dục đang điều hành chương trình “làm việc và học tập”. Theo đó, các sinh viên sẽ được cho vào làm việc bán thời gian tại các nhà máy và theo học bán thời gian. Tuy nhiên, vì sự tham nhũng và mua chuộc trong Uỷ ban Giáo dục, các sinh viên không được trả tiền. Vì thế, họ đơn giản chỉ là những lao động rẻ tiền cho các ông chủ nhà máy Pháp và đổi lại nhận được rất ít sự giáo dục. Chu Ân Lai đã viết những bài báo gửi về Trung Quốc lên án uỷ ban và các quan chức chính phủ tham nhũng.


Chu Ân Lai tới Anh Quốc vào tháng 1; ông xin và được chấp nhận làm sinh viên tại Đại học Edinburgh. Nhưng mãi tới tháng 10 chương trình học mới bắt đầu, vì thế ông quay lại Pháp, đến ở với Liu Tsingyang và Zhang Shenfu, những người đã thành lập một chi bộ Cộng sản. Chu Ân Lai gia nhập nhóm và được giao phó nhiệm vụ chính trị và tổ chức. Có một số tranh cãi về thời điểm Chu Ân Lai gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Để giữ bí mật các thành viên không mang theo thẻ đảng. Chính Chu Ân Lai đã viết "mùa thu, 1922" trong một lần thẩm tra của Đại hội Đảng lần thứ 7 năm 1945.


Có khoảng 2.000 sinh viên Trung Quốc tại Pháp, khoảng 200 tại Bỉ và Anh và khoảng 300 tới 400 tại Đức. Trong bốn năm tiếp sau, Chu Ân Lai là người phụ trách tuyển mộ, tổ chức và phối hợp các hoạt động của Liên đoàn Thanh niên Xã hội chủ nghĩa. Ông đi lại liên tục giữa Bỉ, Đức và Pháp, hộ tống các thành viên của Đảng qua Berlin đi tàu tới Mátxcơva, học cách tổ chức cách mạng.


Ban đầu, Đảng Cộng sản Trung Quốc, được Trần Độc Tú thành lập tháng 7 năm 1921, từ chối đề xuất của Quốc tế Cộng sản III rằng họ sẽ thành lập một “mặt trận thống nhất” với Quốc Dân Đảng mới ra đời của Tôn Dật Tiên, nhưng vào năm 1923 Đảng Cộng sản đã thay đổi chính sách. Chu Ân Lai khi ấy chịu trách nhiệm phối hợp hoạt động giữa hai phong trào khác biệt chính trị này ở Châu Âu. Rõ ràng ông đã làm việc rất hiệu quả nên được ra lệnh quay trở lại Trung Quốc nhận nhiệm vụ thống nhất mặt trận ở cứ điểm mạnh của Quốc Dân Đảng tại Quảng Châu. Ông tới Hồng Kông tháng 7 năm 1924.


Mặt trận thống nhất thứ nhất


Tháng 1 năm 1924, Tôn Dật Tiên đã chính thức tuyên bố liên minh giữa Quốc Dân Đảng và những người Cộng sản, và một kế hoạch viễn chinh quân sự nhằm thống nhất Trung Quốc và tiêu diệt các lãnh chúa. Viện Hàn lâm Quân sự Whampoa được thành lập vào tháng 3 nhằm đào tạo các vị sĩ quan cho quân đội để đối đầu với các lãnh chúa. Tàu chiến Nga cung cấp vũ khí tại các cảng ở Quảng Châu. Các cố vấn của Quốc tế Cộng sản II từ Mátxcơva cũng có mặt. Tháng 10, một thời gian ngắn sau khi quay trở về từ Châu Âu, Chu Ân Lai được chỉ định làm phó giám đốc ban chính trị Trường Quân sự Hoàng Phố tại Quảng Châu.


Chu Ân Lai nhanh chóng nhận ra Quốc Dân Đảng đang lo mưu đồ cho riêng mình. Phe hữu mạnh trong Quốc Dân Đảng phản đối kịch liệt liên minh với Cộng sản. Chu Ân Lai tin rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc, để tồn tại phải có một đội quân của riêng mình. "Quốc Dân Đảng là một liên minh của những lãnh chúa hay phản bội" ông đã nói với người bạn là Nhiếp Vinh Trăn, mới tới từ Mátxcơva và được chỉ định làm phó giám đốc Học viện. Cùng nhau họ đã tổ chức một nhóm các sĩ quan nòng cốt là các thành viên Đảng Cộng sản và theo các nguyên tắc của Marx. Trong một thời gian họ không gặp cản trở nào, thậm chí từ phía cả Tưởng Giới Thạch, giám đốc Trường Hoàng Phố.


Tôn Dật Tiên mất ngày 12 tháng 3 năm 1925. Ngay khi ông mất, rắc rối nảy sinh tại Quảng Châu. Một lãnh chúa tên là Trần Quýnh Minh, Tổng trưởng nội chính kiêm Tổng trưởng lục quân, tổng tư lệnh và tỉnh trưởng Việt quân tìm cách chiếm giữ thành phố và tỉnh này. Cuộc Đông Chinh, do Chu Ân Lai lãnh đạo, được tổ chức như một chiến dịch quân sự chống lại Trần. Với những sĩ quan nòng cốt của Đảng Cộng sản họ đã thắng lợi lớn. Chu Ân Lai được thăng chức lãnh đạo phòng thiết quân luật của Trường Hoàng Phố. Ông nhanh chóng dẹp tan một âm mưu lật đổ của một vị lãnh chúa khác trong thành phố. Trần Quýnh Minh một lần nữa tổ chức hành quân vào tháng 10 năm 1925. Một lần nữa Chu Ân Lai lại đánh bại ông ta và lần này chiếm được thành phố Sán Đầu quan trọng trên bờ biển phía nam Trung Quốc. Chu Ân Lai được chỉ định làm uỷ viên đặc biệt của Sán Đầu và vùng xung quanh. Ông bắt đầu xây dựng một nhánh đảng tại Sán Đầu và giữ bí mật tên tuổi những người tham gia.


Ngày 8 tháng 8 năm 1925, ông và Đặng Dĩnh Siêu tổ chức lễ cưới sau một thời gian yêu nhau dài tới năm năm. Họ chưa có con nhưng nhận đỡ đầu nhiều trẻ em mồ côi thuộc đội "cảm tử cách mạng"; một người trong số đó sau này trở thành vị thủ tướng nổi tiếng Lý Bằng.


Sau cái chết của Tôn Dật Tiên, Quốc Dân Đảng nằm dưới sự quản lý của một chế độ tam đầu chế gồm Tưởng Giới Thạch, Liêu Trọng Khải và Uông Tinh Vệ, nhưng vào tháng 8 năm 1925 thành viên cánh tả, Liêu Trọng Khải, bị ám sát. Tưởng Giới Thạch lợi dụng vụ này để tuyên bố thiết quân luật và củng cố quyền kiểm soát của phe cánh hữu. Ngày 18 tháng 3 năm 1926, trong khi Mikhail Borodin, vị cố vấn Quốc tế Cộng sản III người Nga của Mặt trận Thống nhất, đang ở Thượng Hải, Tưởng Giới Thạch đạo diễn một vụ việc mới để cướp quyền của những người Cộng sản. Vị chỉ huy và các thuỷ thủ một thuyền chiến của Quốc Dân Đảng bị bắt tại cảng Hoàng Phố, Xem Vụ việc tàu chiến Trung Sơn. Tiếp sau là những cuộc bố ráp vào Trụ sở Quân đoàn số 1 và Trường Quân sự Hoàng Phố. Tổng cộng 65 đảng viên Cộng sản bị bắt giữ, gồm cả Nhiếp Vinh Trăn. Tình trạng khẩn cấp quốc gia được ban hành và lệnh giới nghiêm được áp dụng. Chu Ân Lai vừa mới quay trở về từ Shantou và cũng bị giữ 48 giờ. Khi được thả ông đối đầu với Tưởng Giới Thạch và buộc tội ông ta phá hoại Mặt trận Thống nhất nhưng Tưởng cho rằng ông ta chỉ tiêu diệt một âm mưu của những người Cộng sản. Khi Borodin từ Thượng Hải quay về ông tin vào lời lẽ của Tưởng Giới Thạch và khiển trách Chu Ân Lai. Theo yêu cầu của Tưởng, Borodin đưa ra một danh sách các thành viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng là các thành viên Quốc Dân Đảng. Những thành viên thoát khỏi danh sách này là những người mới được Chu Ân Lai tuyển mộ. Tưởng Giới Thạch cách chức tất cả các sĩ quan Đảng Cộng sản khỏi Quân đoàn thứ nhất. Uông Tinh Vệ, bị coi là có cảm tình với những người cộng sản, được thuyết phục ra đi theo một “chuyến nghiên cứu” tại Châu Âu. Chu Ân Lai bị tước mọi trách nhiệm liên quan tới Mặt trận Thống nhất, trao lại quyền điều hành tuyệt đối cho Tưởng Giới Thạch.


Từ Thượng Hải tới Diên An


Sau khi cuộc Bắc phạt bắt đầu, ông trở thành người tuyên truyền tầng lớp lao động. Năm 1926, ông tổ chức một cuộc tổng đình công tại Thượng Hải, mở ngỏ thành phố cho Quốc Dân Đảng. Khi liên minh Quốc-Cộng tan vỡ, Chu Ân Lai phải bỏ trốn trước cuộc khủng bố trắng. Cuối cùng ông tới vùng căn cứ Giang Tây và dần chuyển từ hệ tư tưởng chính thống đô thị sang nhánh Mao ủng hộ cách mạng nông thôn bên trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, và trở thành một thành viên nổi bật của Đảng. Sự chuyển biến này đã hoàn thành ngay từ đầu cuộc Vạn lý Trường chinh, khi vào tháng 1 năm 1935 Chu Ân Lai hoàn toàn ủng hộ Mao trong cuộc đấu tranh với nhóm 28 người bolshevik.


Những năm tại Diên An, Chu Ân Lai là người tích cực ủng hộ một mặt trận thống nhất chống Nhật Bản. Vì thế ông đóng vai trò quan trọng trong sự biến Tây An, giúp Tưởng Giới Thạch được thả, và đàm phán Mặt trận Thống nhất Quốc-Cộng thứ hai, và đưa ra câu nói nổi tiếng "Người Trung Quốc không nên đánh nhau với người Trung Quốc mà với một kẻ thù chung: quân xâm lược". Trong Chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945) Chu Ân Lai đóng vai trò đại sứ trong chính phủ thời chiến của Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh và tham gia vào những cuộc đàm phán thất bại sau Thế chiến II.


Nắm quyền thủ tướng


Năm 1949, với sự thành lập nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Chu Ân Lai lên nắm quyền Thủ tướng và Bộ trưởng ngoại giao. Tháng 6 năm 1953, ông đưa ra năm tuyên bố hoà bình. Ông dẫn đầu phái đoàn Cộng sản Trung Quốc tham gia Hội nghị Geneva và Hội nghị Bandung (1955). Ông đã thoát nạn sau một âm mưu ám sát của phe Quốc Dân Đảng dưới quyền Tưởng Giới Thạch trên đường trở về từ Bandung. Một quả mìn MK7 đã được giấu trên chiếc máy bay thuê Kashmir Princess chở ông. Chu Ân Lai đã đổi máy bay nhưng tất cả 16 người trong đội đều thiệt mạng. Với thái độ ôn hoà và ảnh hưởng trong khối các nước không liên kết thời Chiến tranh Lạnh, chính sách ngoại giao của ông nhằm tăng cường quan hệ với các quốc gia trong vùng như Ấn Độ, Myanma và các nước Đông Nam Á, cũng như các quốc gia Châu Phi. Năm 1958, chức Bộ trưởng ngoại giao được trao lại cho Trần Nghị, Chu Ân Lai tiếp tục giữ chức vụ Thủ tướng cho tới khi ông qua đời năm 1976.


Trọng tâm trong nước của ông sau khi trở thành Thủ tướng là nền kinh tế Trung Quốc, đang ở tình trạng lạc hậu sau nhiều thập kỷ chiến tranh. Ông đặt mục tiêu tăng trưởng sản xuất nông nghiệp thông qua việc tái phân phối ruộng đất. Phát triển công nghiệp cũng là một ưu tiên của ông. Ngoài ra ông còn đưa ra những sáng kiến cải cách môi trường đầu tiên ở Trung Quốc. Trong chính phủ, Mao là người vạch chính sách còn Chu Ân Lai là người thực thi.


Năm 1958, Mao Trạch Đông bắt đầu chương trình Đại nhảy vọt, với mục tiêu tăng mức sản xuất công nghiệp và nông nghiệp của Trung Quốc lên những tầm không tưởng. Là nhà quản lý thực tế và được lòng dân, Chu Ân Lai vẫn giữ được chức vụ của mình trong thời gian này. Cách mạng Văn hoá (1966-1976) ảnh hưởng lớn tới ông. Ở những giai đoạn cuối cuộc cách mạng này năm 1975, ông đã đưa ra "bốn hiện đại hoá" để sửa chữa những sai lầm do nó gây ra.


Nổi tiếng là một nhà ngoại giao có tài, Chu Ân Lai chịu trách nhiệm chính trong việc tái lập các mối quan hệ với phương Tây hồi đầu thập niên 1970. Ông đã chào mừng Tổng thống Richard Nixon tới Trung Quốc tháng 2 năm 1972, và ký kết Thông cáo Thượng Hải.


Sau khi biết mình bị ung thư, ông bắt đầu chuyển giao nhiều trách nhiệm của mình cho Đặng Tiểu Bình. Trong những giai đoạn cuối cuộc Cách mạng Văn hoá, Chu Ân Lai chính là mục tiêu mới của các chiến dịch chính trị của Bè lũ bốn tên của Chủ tịch Mao năm 1975 với khẩu hiệu "chỉ trích Tống Giang, đánh giá Thuỷ hử", ám chỉ tới một tác phẩm văn học Trung Quốc, coi Chu Ân Lai là một hình mẫu kẻ thất bại chính trị. Ngoài ra chiến dịch Chỉ trích Lâm, Chỉ trích Khổng (Phê Lâm phê Khổng vận động) cũng nhắm mục tiêu vào Thủ tướng Chu Ân Lai bởi ông bị coi là một trong những đối thủ chính trị của Bè lũ bốn tên.


Cái chết và các phản ứng


Năm 1974 Chu Ân Lai phải vào viện vì ung thư bàng quang, nhưng vẫn tiếp tục điều hành công việc từ bên trong bệnh viện, còn Đặng Tiểu Bình là Phó thủ tướng thứ nhất chịu trách nhiệm hầu hết các vấn đề quan trọng của Hội đồng Nhà nước. Chu Ân Lai mất buổi sáng ngày 8 tháng 1 năm 1976, 8 tháng trước Mao Trạch Đông. Trong cuốn sách của mình, Mao: Câu chuyện chưa biết, Jung Chang (Trương Nhung) và Jon Halliday xác nhận rằng Mao cố tình không cho Chu Ân Lai chữa bệnh ung thư bởi ông không muốn Chu Ân Lai sống lâu hơn mình.[1] Nhiều quốc gia trong Phong trào không liên kết đã gửi lời chia buồn trước cái chết của Chu Ân Lai một nhà ngoại giao và nhà thương thuyết nổi tiếng trên trường quốc tế, nhiều nước coi cái chết của ông là một mất mát to lớn. Thi thể ông được hoả thiêu và tro được rải từ máy bay xuống các ngọn đồi và thung lũng, theo đúng nguyện vọng của ông.


Bên trong Trung Quốc, nhóm Bè lũ bốn tên (Giang Thanh và đồng bọn) coi cái chết của Chu là một thuận lợi lớn cho mưu đồ chính trị của họ, bởi vật cản lớn duy nhất còn lại trước ngôi báu quyền lực tuyệt đối ở Trung Quốc của họ đã mất. Sau đám tang Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình đã có bài ca ngợi chính thức, nhưng sau này ông đã bị buộc rời bỏ chính trị sau cái chết của Mao.


Vì Chu Ân Lai quá nổi tiếng trong dân chúng, nhiều đám tang tự phát đã được tổ chức trên khắp Trung Quốc. Bè lũ bốn tên coi những sự kiện này là nguy hiểm, bởi họ sợ nhân dân sẽ sử dụng cơ hội này bày tỏ sự căm ghét với họ. Trong Sự kiện Thiên An Môn tháng 4 năm 1976, Bè lũ bốn tên đã tìm cách đàn áp lễ tang dành cho "Vị Thủ tướng kính yêu", dẫn tới những cuộc náo loạn. Những bài thơ phản đối Bè lũ bốn tên được gắn lên một số vòng hoa, và các vòng hoa sau đó được đặt tại Tượng đài các Anh hùng Nhân dân. Tuy nhiên, những hành động đó càng làm nhân dân tức giận. Hàng nghìn công nhân-binh sĩ có vũ trang đã đàn áp tàn bạo cuộc phản kháng của nhân dân trên Quảng trường Thiên An Môn, và hàng trăm người bị bắt. Bè lũ bốn tên lên án Đặng Tiểu Bình liên quan tới phong trào và cách bỏ mọi chức vụ chính thức của ông.


Từ khi mất, một căn phòng tưởng niệm đã được dành riêng cho ông và người vợ yêu dấu tại Thiên Tân, được đặt tên là Phòng tưởng niệm Chu Ân Lai và vợ Thiên Tân (天津周恩來鄧穎超紀念館), và một bức tượng đã được dựng lên ở Thành phố Nam Kinh, nơi ông từng làm việc với Quốc Dân Đảng trong thập niên 1940. Một con tem quốc gia cũng được phát hành kỷ niệm một năm ngày mất của ông năm 1977, và một lần nữa năm 1998 kỷ niệm ngày sinh lần thứ 100 của ông.


Di sản


Chu Ân Lai thường được coi là một nhà thương thuyết có tài, một bậc thầy về thực hiện chính sách, một nhà cách mạng toàn tâm, một chính khách thực tế với sự kiên nhẫn vô biên và sự chú trọng đặc biệt tới các chi tiết công việc. Ông cũng nổi tiếng về lao động không mệt mỏi và đạo đức. Ông được coi là vị chính khách cuối cùng của chủ nghĩa Khổng giáo truyền thống. Phong cách chính trị của Chu Ân Lai cần được xem xét theo triết lý chính trị và nhân cách của ông. Ở mức độ lớn hơn, Chu Ân Lai là một nhân vật kết hợp giữa chính khách cộng sản và nền giáo dục Trung Hoa truyền thống: từng có tư tưởng bảo thủ và cực đoan, thực dụng và có ý thức hệ, đồng thời có niềm tin vào trật tự và sự hoà hợp cũng như một lòng tin vào sự phản kháng và cách mạng.


Dù là người có lòng tin tưởng nhiệt thành vào các lý tưởng Cộng sản, lý tưởng cơ bản của nhà nước Trung Hoa hiện đại, Chu Ân Lai thường được nhiều người cho là có ảnh hưởng ôn hoà trên một số tư tưởng thái quá của chế độ Mao, dù ông không có quyền lực cần thiết để có thể đưa lại những thay đổi trong chính sách. Có những ý kiến cho rằng ông đã sử dụng quyền lực của mình để bảo vệ một số địa điểm tôn giáo và hoàng gia cổ Trung Quốc khỏi những cuộc cướp phá của bọn Hồng Vệ Binh của Mao cũng như nhiều tướng lĩnh và lãnh đạo hàng đầu chính phủ khỏi các cuộc thanh trừng.


Dù trong những năm gần đây việc chỉ trích cách lãnh đạo Trung Quốc cũng như các quyết định của họ đã thường xuất hiện hơn ở Trung Quốc, rất ít người Trung Quốc cũng như cộng đồng Trung Quốc ở nước ngoài chỉ trích ông. Nhiều thanh niên Trung Quốc coi ông là thần tượng chính trị của họ và một số học giả thậm chí còn coi ảnh hưởng của ông tới thanh niên Trung Quốc lớn hơn Mao.


Cước chú


^ Chang, Jung; Halliday, Jon. 2005. Mao: The Unknown Story. New York: Knopf. 579-580.


Đọc thêm


Eldest Son (Con trai cả) của Hàn Tố Âm, một bản tiểu sử tổng thể.


Có một cuốn sách mới xuất bản năm 2003 tại Hồng Kông, Zhou Enlai's Later Years (Những năm cuối của Chu Ân Lai) của Gao Wenqian cũng đáng chú ý. Chưa có bản dịch tiếng Anh.


Một tiểu sử của Chu Ân Lai dự định ra mắt tháng 11 năm 2007, tác giả Gao Wenqian. Public Affairs chịu trách nhiệm xuất bản cuốn sách này.


Xem thêm: Lịch sử Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa


Wikipedia


 


Chu Ân Lai đã bảo vệ 8 cán bộ trong thời kỳ Cách mạng Văn hoá như thế nào?
Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Thủ tướng Chu Ân Lai là người có công lao rất lớn trong việc bảo vệ các cán bộ cao cấp của Trung Quốc khỏi sự bức hại của “Bè lũ bốn tên”. Trong số đó phải kể đến 8 cán bộ cao cấp được ông bảo vệ bằng cách chuyển đến "lao động" tại Nhà máy ôtô số 27 ở Bắc Kinh. Những cán bộ này sau khi Cách mạng văn hóa kết thúc đã quay trở lại công tác và nắm giữ những chức vụ cao cấp trong Đảng và chính quyền trung ương Trung Quốc...


Tháng 9/1968, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phái một nhóm nhân viên tin cậy đến Nhà máy ôtô số 27 (Bắc Kinh) để thực thi một nhiệm vụ đặc biệt. Đầu năm 1969, nhóm này nhận được chỉ thị từ trung ương về việc sắp xếp cho một vài cán bộ bị chèn ép, bức hại trong Cách mạng văn hóa, không thể công tác bình thường về làm việc tại Nhà máy ôtô số 27. Mệnh lệnh này được ban hành theo kiến nghị của Thủ tướng Chu Ân Lai.


Bắt đầu từ sau khi "phái tạo phản" ở Thượng Hải giành được quyền lực trong Đảng và chính quyền ở thành phố Thượng Hải, cuộc đấu tranh giành quyền lực đã lan ra khắp Trung Quốc. Rất nhiều lãnh đạo Đảng và chính quyền ở các tỉnh, thành phố, khu vực không chỉ ngày đêm bị những phần tử thuộc "phái tạo phản" phê bình mà an toàn tính mạng của họ cũng bị đe dọa nghiêm trọng. 


Lấy lý do triệu tập kỳ họp bất thường, trung ương Đảng Trung Quốc đã đưa một số cán bộ chủ chốt về Bắc Kinh và sắp xếp phân tán họ ở một vài nơi khác nhau. Tuy nhiên không biết nhờ đâu mà “phái tạo phản” đã có được thông tin nên chỉ trong một đêm, một số cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh được giấu ở một căn nhà thuộc phố Nam Trường (Bắc Kinh) đã bị bắt đi. Những người khác được bố trí ở các nhà khách của Văn phòng thường trực Trung ương Đảng và Bộ Tổ chức trung ương cũng bị chung số phận.


Sau khi sự việc xảy ra, Chu Ân Lai một mặt ra lệnh cho lực lượng cảnh vệ thành phố Bắc Kinh phải nhanh chóng tìm kiếm những người đã bị bắt mang đi, mặt khác ông lập tức báo cáo tình hình với Mao Trạch Đông đồng thời nghiên cứu tìm ra biện pháp nghiêm ngặt hơn để bảo vệ những cán bộ cao cấp chưa bị “phái tạo phản” bắt giữ.


Được sự đồng ý của Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đã đưa một số cán bộ cao cấp đến Nhà máy ôtô số 27, Nhà máy ôtô Nam Khẩu và Nhà máy in Tân Hoa với danh nghĩa "đưa đi lao động" để bảo vệ họ. Những đơn vị trên đều thuộc quyền quản lý của lực lượng cảnh vệ trung ương. Đây là lực lượng trung thành tuyệt đối với Mao Trạch Đông. Trước khi chuyển những cán bộ này đến nơi, Chu Ân Lai đã ra lệnh cho đơn vị tiếp nhận họ phải hoàn thành tốt các công tác chuẩn bị bao gồm:


Thứ nhất: Phải tuyệt đối bảo đảm bí mật và bảo vệ tuyệt đối những cán bộ đó không bị bắt đi hay bị làm phiền trong thời gian  họ ở nhà máy.


Thứ hai: Thu xếp cuộc sống cho những cán bộ được bảo vệ bao gồm chỗ ăn ở, chăm sóc y tế, phương tiện đi lại.


Thứ ba: Căn cứ điều kiện sức khỏe của từng người để sắp xếp những công việc nhẹ nhàng phù hợp thuận lợi cho việc tiếp cận với quần chúng, công nhân hay hoạt động một số công tác đoàn thể.


Thứ tư: Trong trường hợp họ có yêu cầu hay gặp khó khăn gì hoặc muốn liên lạc với trung ương phải ngay lập tức gửi lên trung ương.


Những yêu cầu chuẩn bị trên được đích thân Chu Ân Lai kiểm tra và theo dõi rất chặt chẽ. Chu Ân Lai đã từng phát biểu rằng: "Truyền thống lịch sử cách mạng là thuộc về một lớp người, bảo vệ cán bộ về một ý nghĩa nào đó cũng chính là bảo vệ truyền thống cách mạng và lịch sử cách mạng".


Bắt đầu từ năm 1969, với danh nghĩa trung ương, Chu Ân Lai đã thu xếp để 8 cán bộ cao cấp được bảo vệ tại Nhà máy ôtô số 27 (Bắc Kinh). Những cán bộ được bảo vệ lúc đó bao gồm:


Từ Hướng Tiền - Nguyên soái nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Phó chủ tịch Quân ủy trung ương.


Thượng tướng Trương Tông Tốn - Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm Cục trưởng Cục Huấn luyện Bộ tổng tham mưu Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc.


Trung tướng Vương Ân Mậu - Bí thư thứ nhất Quân ủy Khu tự trị Ngô Duy Nhĩ, Tư lệnh Quân khu, Bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân khu Tân Cương.


Giang Hoa - Bí thư Ban bí thư Cục Hoa Đông thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Chính hiệp tỉnh Chiết Giang, Chính ủy Quân khu Nam Kinh.


Giang Vị Thanh - Bí thư Ban bí thư Cục Hoa Đông thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Chính hiệp tỉnh Giang Tô, Chính ủy Quân khu Nam Kinh.


Trương Bình Hoa - Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Chính hiệp tỉnh Hồ Nam, Ủy viên thường vụ Cục Trung Nam thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Ban bí thư Cục Trung Nam, Phó bộ trưởng Bộ Tuyên truyền.


Hoàng Âu Đông - Tỉnh trưởng tỉnh Liêu Ninh, Bí thư Ban bí thư Cục Hoa Đông thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc


Chu Đức Hải - Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, Phó tỉnh trưởng Tỉnh Cát Lâm, Chính ủy Quân khu Diên Biên.


Những cán bộ cao cấp được bảo vệ tại Nhà máy ôtô số 27 khi đó có người đã 68 tuổi và trẻ nhất cũng đã 56 tuổi. Họ đều được xem là tài sản quý giá và là những lãnh đạo trụ cột của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Căn cứ tinh thần chỉ thị của Thủ tướng Chu Ân Lai, tất cả nhân viên thuộc Nhà máy ôtô số 27 phải đảm bảo bí mật những thông tin về sự có mặt của những cán bộ cao cấp trên, tuyệt đối không được tiết lộ ra ngoài. 8 cán bộ cao cấp trên được bố trí ở trong khu nhà tiện nghi nhất của nhà máy, vốn được xây dựng dành cho các chuyên gia Liên Xô. Khu vực này được tăng cường thêm một phòng trực ban để bảo vệ hoặc liên lạc với trung ương trong trường hợp cần thiết.


Thời gian đầu, ban ngày đều có cảnh vệ bên cạnh những cán bộ trên khi họ làm việc tại nhà máy và ban đêm thì có lực lượng tuần tra xung quanh nơi ở. Trong trường hợp cần chăm sóc y tế sẽ có bác sĩ của nhà máy đến tận nơi để khám bệnh hoặc chuyển trực tiếp đến Bệnh viện 301 (bệnh viện chuyên dành cho các lãnh đạo trung ương) để chữa trị.


Sau khi được chuyển đến Nhà máy ôtô số 27, trong số các cán bộ cao cấp có Nguyên soái Từ Hướng Tiền do tuổi đã cao và sức khỏe yếu nên ông tự sắp xếp công việc, còn những người khác đều tham gia công việc sản xuất của Nhà máy ôtô số 27 như những công nhân bình thường. Ban đầu họ được giao công việc nhổ đinh khỏi những tấm ván gỗ sau đó theo yêu cầu họ được chuyển sang một công việc mang tính kỹ thuật hơn là xưởng gia công.


Công việc của nhóm cán bộ cao cấp là mài giũa các chi tiết của xe ôtô. Chỉ trong một thời gian ngắn họ đã học và sử dụng thành thạo các máy móc và kết quả công việc không kém gì so với những công nhân thực thụ. Trong số đó phải kể đến Trung tướng Vương Ân Mậu, vốn xuất thân là một công nhân quốc phòng nên ông nhanh chóng học và sử dụng thành thạo những máy móc hiện đại nhất của nhà máy lúc đó.


Mỗi ngày các cán bộ cao cấp đều làm việc đủ 8 tiếng đồng hồ như các công nhân bình thường. Ngoài công việc hàng ngày ở nhà máy, họ còn rất hòa đồng và chủ động tiếp cận trò chuyện học hỏi các công nhân. Và theo yêu cầu của công nhân, những cán bộ cao cấp thường kể lại các câu chuyện về cuộc Vạn lý trường chinh, chiến tranh kháng Nhật và chiến tranh giải phóng. Ngoài ra họ còn góp ý cho các cán bộ của nhà máy về các biện pháp quản lý sản xuất, tiết kiệm nguyên liệu...


Ngày 17/10/1969, Lâm Bưu đưa ra "Thông báo khẩn cấp về việc tăng cường chuẩn bị đề phòng địch tấn công bất ngờ", theo đó những cán bộ cao cấp đang phải "lao động" như Từ Hướng Tiền, Giang Hoa, Giang Vị Thanh, Chu Đức Hải... sau khi nhận được thông báo phải rời khỏi nơi đang "lao động" nhưng không ai được biết họ sẽ bị đưa đến đâu. Nguyên soái Từ Hướng Tiền là người đầu tiên rời khỏi Nhà máy ôtô số 27 và cuối cùng là Trương Tông Tốn, Vương Ân Mậu đều rời đi vào năm 1972. Sau khi Cách mạng văn hóa kết thúc, những cán bộ cao cấp trên đều được phục hồi công tác:


Nguyên soái Từ Hướng Tiền được bổ nhiệm chức vụ Phó thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1978-1980), Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương (1983-1988).


Trương Tông Tốn: Ủy viên Ủy ban Quốc phòng, Ủy viên Ủy ban Chính hiệp toàn quốc, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.


Vương Ân Mậu: Phó chủ tịch Ủy ban Chính hiệp toàn quốc.


Trương Bình Hoa: Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền (1977-1978), Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.


Giang Vị Thanh: Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Chính hiệp toàn quốc.


Hoàng Âu Đông: Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.


Chu Đức Hải: Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Chính hiệp toàn quốc.


Tháng 1/1975, Giang Hoa được bổ nhiệm làm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và năm 1980, ông được giao phụ trách việc xét xử tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu, Giang Thanh...


Ngoài 8 người trên, trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai còn chỉ đạo, bố trí cho hơn 10 cán bộ cao cấp, học giả và nhân sĩ có uy tín khác được bảo vệ an toàn tại Nhà máy ôtô số 27 (Bắc Kinh).


Antg.cand.com.vn


 


Đặng Tiểu Bình


bính âm: Dèng Xiǎopíng; 22 tháng 8, 1904 - 19 tháng 2, 1997) có tên khai sinh là Đặng Tiên Thánh, khi đi học mới đổi là Đặng Hi Hiền (邓希贤), là một lãnh tụ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tên gọi Đặng Tiểu Bình được ông dùng từ năm 1927, sau khi Tưởng Giới Thạch đàn áp phong trào cách mạng Cộng sản tại Thượng Hải.


Tuy rằng ông chưa bao giờ có chức vụ nguyên thủ quốc gia hay đứng đầu chính phủ nhưng ông là người đã cầm quyền trên thực tế tại Trung Quốc trong suốt những năm cuối thập niên 1970 đến đầu thập niên 1990. Chức vụ cao nhất của ông trong Đảng Cộng sản là Tổng Bí thư (sau Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Đảng) thời kì còn Mao Trạch Đông, còn chức vụ cao nhất trong chính phủ là Phó Thủ tướng, nhưng ông từng nắm giữ chức vụ quan trọng là Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Ông đã cải cách đất nước Trung Quốc theo hướng "chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc", có công thu hồi Hồng Kông và Ma Cao với chính sách "một nước hai chế độ". Trung Quốc hiện nay phát triển là nhờ theo đường lối của ông.


 Tiểu sử


Thời niên thiếu


Ông sinh tại thôn Bài Phường, xã Hiệp Hưng, huyện Quảng An, phía đông tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, và là con trai ông Đặng Thiệu Xương (tự Văn Minh) và bà Đàm Thị, vợ thứ hai. Bà vợ đầu không có con, bà thứ hai (Đàm Thị) sinh được một gái đầu và 3 trai: Đặng Tiên Liệt, Đặng Tiểu Bình, Đặng Khẩn, Đặng Thục Bình. Bà thứ ba sinh được một trai, bà thứ tư (Hạ Bá Căn) sinh được 2 trai, 3 gái. Mẹ đẻ Đặng Tiểu Bình mất sớm, nên sau này ông đã mời kế mẫu Hạ Bá Căn từ quê lên thủ đô sống chung cùng gia đình ông.


Sau khi vào học trung học tại huyện nhà, cha Đặng Tiểu Bình đã xin cho Đặng Tiểu Bình theo học Trường dự bị cần công kiệm học Trùng Khánh để chuẩn bị xuất dương sang Pháp. Ngày 7 tháng 9 năm 1920, sau khi được Tổng lãnh sự Pháp tại Trùng Khánh trực tiếp sát hạch, Hi Hiền cùng 79 bạn khác lên tàu thủy đi Marseille. Ông đã học ở Pháp, giống như những nhà cách mạng có tiếng khác của Châu Á như Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai. Tại đây ông đã đi theo học thuyết Marx-Lenin, gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản năm 1922 và Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1924.


Sang Nga


Năm 1926, Đặng Tiểu Bình rời Paris sang Nga học Trường Đại học Phương Đông mang tên Tôn Trung Sơn. Ông cùng học với Tưởng Kinh Quốc.


Ông về nước đúng lúc đang diễn ra chiến tranh Bắc phạt. Ông làm ủy viên chính trị trong quân đoàn của Phùng Ngọc Tường, tham gia Bắc phạt. Sau khi bị Phùng Ngọc Tường cho giải ngũ, ông đi Tây An rồi Hán Khẩu, tiếp tục hoạt động cách mạng.


Năm 1938, lúc ông chỉ huy kháng Nhật ở Thái Hàng Sơn thì cha ông bị thổ phỉ chặt đầu.


Những năm tiếp theo


Sau giải phóng, ông làm Bí thư thứ nhất Cục Tây Nam Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch Quân ủy Tây Nam, Chính ủy Quân khu Tây Nam (đóng trụ sở tại Trùng Khánh), kiêm thành viên Chính phủ Nhân dân Trung ương.


Tháng 7 năm 1952, ông được cử làm Phó Tổng lí (Phó Thủ tướng) Chính vụ viện (sau đổi là Quốc vụ viện), kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-kinh tế. Năm 1955, ông cùng Lâm Bưu được bầu làm ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1956, ông vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị, làm Tổng Bí thư nhưng chỉ là nhân vật đứng cuối cùng (thứ 6) trong Ban Thường vụ, sau Mao Trạch Đông (Chủ tịch Đảng), Lưu Thiếu Kì, Chu Ân Lai, Chu Đức và Trần Vân (đều là Phó Chủ tịch Đảng).


Năm 1966, trong Cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình bị phê phán nặng nề là "tên số hai trong Đảng đi theo chủ nghĩa tư bản", rồi bị cách tuột hết mọi chức vụ. Từ năm 1969 đến năm 1972, hai vợ chồng ông bị đưa về Giang Tây, con cái đều bị đưa đi cải tạo ở các tỉnh khác.


Ngày 20 tháng 3 năm 1973, ông rời Giang Tây, quay trở lại Trung Nam Hải (Bắc Kinh), sau khi được phục hồi công tác. Ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, rồi Phó Chủ tịch Đảng. Về mặt chính quyền, ông trở lại cương vị Phó Thủ tướng, rồi Phó Thủ tướng thứ nhất. Khi Chu Ân Lai lâm bệnh nặng, ông chủ trì công việc của Quốc vụ viện.


Năm 1976, sau khi Chu Ân Lai mất, thế lực chống đối viện cớ ông có tư tưởng phản cách mạng và tác động đến Mao Trạch Đông, vì vậy ông lại bị Mao Trạch Đông cách hết các chức vụ, chỉ còn danh hiệu đảng viên và hộ khẩu Bắc Kinh.


Sau khi nhóm người được gọi là "bè lũ bốn tên" bị lật đổ, Đặng Tiểu Bình được khôi phục tất cả các chức vụ: Phó Chủ tịch Đảng, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân giải phóng. Từ đây, ông bắt đầu đưa Trung Quốc bước vào kỉ nguyên cải cách mở cửa.


Sau khi trở lại chính trường, năm 1978 Đặng Tiểu Bình tung ra chương trình ‘Bốn hiện đại hóa’ và lại để cho dân dán ‘Đại tự báo’ nhưng lần này là để tố cáo những đau khổ do Cách mạng Văn hóa gây ra.


Sự kiện Thiên An Môn


Vào năm 1989, Sự kiện Thiên An Môn diễn ra, đây là cuộc biểu tình đòi dân chủ của các sinh viên Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh thảm sát những sinh viên tham gia biểu tình. Vụ thảm sát Thiên An Môn mãi là câu chuyện đi kèm cuộc đời Đặng Tiểu Bình.


Sau cuộc thảm sát Thiên An Môn, Đặng Tiểu Bình lui khỏi chính trường nhưng vẫn đóng một vai trò quan trọng ở Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình qua đời năm 1997.


Gia đình


Người vợ thứ 3 của ông là Trác Lâm, có 5 con.


Những người con


Đặng Lâm (trưởng nữ)


Đặng Phác Phương (con thứ nhưng là trưởng nam)


Đặng Nam (nữ)


Đặng Dung (nữ)


Đặng Chất Phương (nam).


Những câu nói


Câu nói có tầm ảnh hưởng nhất của ông là: Chỉ có thực tiễn mới kiểm nghiệm được chân lí.


Câu nói của Đặng Tiểu Bình được nhiều người biết đến là: Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng miễn là nó bắt được chuột.


Tháng 12 năm 1978 trong chuyến thăm mấy nước Đông Nam Á, chỉ vài tháng trước cuộc chiến với Việt Nam, ông nói một câu khó quên được Trung Quốc truyền hình trực tiếp: Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học.


Tham khảo


^ Cuộc sống của những người thân trong gia đình Đặng Tiểu Bình


^ Mèo trắng hay đen, miễn là bắt được chuột


^ “Nhớ lại đêm 17 tháng 2 năm 1979”. BBC tiếng Việt.


 


Tứ nhân bang hay còn được gọi là "bè lũ bốn tên" theo các phương tiện truyền thông của Việt Nam, là cụm từ để chỉ một nhóm lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bị nhà cầm quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho là cấu kết với nhau lộng quyền và để sát hại những Đảng viên không theo phe cánh từ Đại hội X của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng sau đó bị bắt và xét xử năm 1976, sau khi Mao Trạch Đông mất. "Bè lũ bốn tên" là những thành viên hoạt động tích cực nhất Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc. Nhóm Tứ Nhân Bang gồm: Giang Thanh (vợ thứ tư của Mao Trạch Đông), Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn (Tiếng Hoa: 江青、张春桥、姚文元 và 王洪文). Việc bắt giữ và xét xử Tứ nhân bang được xem như đánh dấu sự kết thúc của Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc. Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Mao Trạch Đông đã thông qua cuộc cách mạng này để loại dần Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và Bành Chân. Mao đã đưa Giang Thanh (thành viên đoàn văn nghệ) lên làm người dương cao ngọn cờ văn hóa. Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn là các lãnh đạo ở Thượng Hải. Lãnh đạo quân đội Lâm Bưu cũng tham gia nhóm này nhưng bị tai nạn máy bay rơi năm 1971.


Sau cái chết của Lâm Bưu, Cách mạng văn hóa mất một ngọn cờ đầu. Lãnh đạo quân đội mới ra lệnh thiết lập lại trật tự do mối nguy hiểm đang đe dọa dọc biên giới Trung-Xô (thời kỳ Trung Quốc và Liên Xô mâu thuẫn sâu sắc). Thủ tướng Chu Ân Lai chấp nhận Cách mạng Văn hóa nhưng không ủng hộ đã giành lại quyền hành và đưa Đặng Tiểu Bình (bị tống giam) trở lại lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1973. Lưu Thiếu Kỳ (Chủ tịch nước) qua đời trong tù năm 1969.


Lúc Mao Trạch Đông đang hấp hối, một cuộc đấu tranh quyền lực nảy sinh giữa Tứ nhân bang và liên minh của Đặng Tiểu Bình, Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh. Khi Chu Ân Lai mất năm 1976, Hoa Quốc Phong được chính thức bổ nhiệm chức Thủ tướng Quốc vụ viện. Năm 1981, Tứ nhân bang bị đưa ra xét xử trước tòa với tội danh chống Đảng. Sau khi mãn hạn tù, Giang Thanh qua đời, Vương Hồng Văn mất năm 1992, Trương Xuân Kiều mất năm 2005 và Diêu Văn Nguyên mất tháng 12/2005.


Giang Thanh (chữ Hán: 江青; bính âm: Jiang Qing; nghệ danh là Lam Bình; 1914–1991) là người vợ thứ tư của Mao Trạch Đông, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa. Bà cũng được nhắc đến như là Mao phu nhân và là một người của Tứ nhân bang trong Cách mạng Văn hóa.


Tiểu sử


Giang Thanh sinh tháng 3 năm 1914 tại Chư Thành, Sơn Đông, Trung Quốc. Có tên khai sinh là Lý Thục Mông nhưng còn được biết đến bằng hai tên là Lý Tiến và Lý Vân Hạc, bà là con trong gia đình một thợ mộc. Sau khi theo học tại Đại học Thanh Đảo, bà hoạt động như một diễn viên sân khấu và điện ảnh tại Thượng Hải với nghệ danh Lam Bình. Năm 1933, Giang Thanh gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đến năm 1939, bà gặp Mao Trạch Đông ở Diên An, hai người sau đó đã kết hôn. Sau năm 1949, Giang Thanh làm việc tại Bộ Văn hóa của Trung Quốc.


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »