tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
16.09.2010
Tư liệu
Thăng Long giai thoại

1: Bí ẩn động Thông Thiền 


Trên đất Thăng Long - Hà Nội, nếu chùa Khai Nguyên và đình Quán La có lịch sử khá rõ ràng, thì cho đến nay, động Thông Thiền vẫn còn là bí ẩn đối với các nhà sử học, khảo cổ học.


Tảo xã là vùng đất nằm ở phía tây thành Thăng Long được khai phá từ thời Trần, qua nhiều lần thay đổi nay thuộc phường Xuân La, quận Tây Hồ. Xuân La có hai di tích nằm sát bên nhau là chùa Khai Nguyên và đình Quán La.


Đình Quán La và chùa Khai Nguyên được xây trên một khu đất cao được gọi là thất tinh (7 quả núi). Đình và chùa có cảnh quan đẹp và theo sử sách thì đứng ở đây có thể nhìn thấy sông Thiên Phù (sông này còn có tên khác là Già La), nên xưa kia cụm di tích này còn có tên gọi là quán Già La.


Trước cửa đình và cổng chùa hiện vẫn còn cây đa cổ thụ và một cây thị có thể khẳng định đó là cây thị lâu năm và to nhất Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, do thân cây đa bị rỗng nên có cán bộ hoạt động bí mật đã ở đây đến mấy tháng. Ngày 23.11.1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Xuân La, Người vào thăm đình rồi đến trước cây đa cổ thụ căn dặn bà con: "Cây đa cổ thụ cũng như ngôi đình này là di tích lịch sử, kiến trúc có giá trị cao, phụ lão và toàn dân phải giữ gìn và bảo vệ cho thật tốt". Năm 1959, khi Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên Kim Nhật Thành thăm nước ta, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mời ông Kim Nhật Thành đến thăm đình và ông cũng được cụ từ trông đình cho biết dưới đình có một cái động. Đúng 7 năm sau, cũng vào ngày 23.11.1965, Bác Hồ lại về thăm nhân dân trong xã và lại ghé thăm đình Quán La.


Đình thờ thần hoàng làng là Duệ Trang cùng hai người em bà, gọi là hai Chầu Bà - những người đã có công khai phá đất đai ở vùng Tảo và dạy dân cày cấy. Cho đến nay chưa tìm thấy tài liệu nào nói đến thời gian xây đình, nhưng so sánh với chính sử và dã sử thì đình Quán La có từ rất sớm, vào khoảng đầu đời Trần. Đình hiện còn lưu giữ được 18 sắc phong do các triều đại phong kiến phong cho thành hoàng làng xã Quán La xưa. Trong đó có các sắc phong có giá trị như sắc phong năm 1653 đời vua Lê Thần Tông, sắc Cảnh trị bát tiên đời vua Lê Huyền Tông, sắc Dương đức tam niên đời vua Lê Gia Tông (1674)... Các sắc phong tặng bà là "Đại vương thượng đẳng thần", “Duệ Trang trung dũng uy mục", “Liệt nữ tôn thần"...


Thiên khai long trạch sơn hà tráng
Địa tiếp long thành thảo mộc hương
(Trời mở ra thịnh vượng núi sông hùng vĩ
Đình ở bên thành Thăng Long cây cỏ hương thơm)
             (Đôi câu đối trong đình Quán La)


Ly kỳ động dưới đình


Phía dưới đình Quán La có một cái động (hoặc hang) gọi là động Thông Thiền. Cửa động nằm sau hậu cung đình nhưng hiện tại đã bị đất và gạch ngói vỡ lấp gần kín miệng. Bên trong động được xây khum khum hình múi bưởi bằng gạch có chạm trổ hình hoa khế và tứ linh (long, ly, quy, phượng). Chiều ngang động đủ cho một người lớn chỉ cần hơi khom lưng một chút là có thể vào sâu bên trong. Đi sâu chừng hai chục thước có hai nhánh rẽ. Dân làng từ nhiều đời nay vẫn truyền nhau là vào mùa mưa, thả quả bưởi ở cửa hang thì thấy quả bưởi ở hồ Tây, nghĩa là động kéo dài ra tận hồ Tây (hồ Tây ngày trước cách làng chỉ vài trăm mét, không xa như bây giờ - NV).


Khoảng năm 1943, Viện Viễn Đông Bác Cổ cho người xuống khảo sát hang nhưng chỉ vào được gần ba chục mét phải quay ra vì thiếu ô-xy và đèn mang theo không đủ ánh sáng để rọi đường. Năm 1964, một đơn vị của quân đội đóng quân ở đình, để chiếc máy phát điện gần cửa hang. Đơn vị này đóng quân ở đây cho đến năm 1970 thì chuyển đi nơi khác. Trong những năm này, khi nước sông Hồng lên cao, dân làng gánh gồng con trẻ đến đây tránh lũ. Những đứa trẻ nghịch ngợm nhất cũng chỉ dám chui vào chừng vài chục mét là phải quay ra. Lại có thông tin, đầu năm 80 thế kỷ trước, một nhóm các nhà khảo cổ cũng có ý định vào động nhưng việc không thành. Hiện tại, đất và gạch ngói vỡ đã bịt gần kín cửa động.


Có nhiều giả thiết khác nhau về động này. Theo cụ Hoàng Đạo Thúy, một nhà nghiên cứu văn hóa Hà Nội đáng kính thì động do vua Lý Thần Tôn xây. Tuy nhiên cụ Hoàng Đạo Thúy cũng không nói rõ là vua Lý Thần Tôn xây động Thông Thiền để làm gì. Có nhà nghiên cứu khác tiếp ý cụ Thúy đã lý giải Lý Thần Tôn xây động vì các vua triều Lý đều mộ đạo Phật và đạo Phật trở thành quốc đạo nên việc xây động mang ý nghĩa tâm linh: "Thông Thiền nghĩa là âm dương hòa hợp thì việc triều chính sẽ hanh thông". Song các nhà khảo cổ học dựa vào việc hang có ngách lại cho rằng đây là ngôi mộ có niên đại từ đời Hán, ngách dùng để đồ thờ cúng. Hơn nữa vùng đất này vào năm 930 là nơi mà Lý Khắc Chính và Lý Tiến của triều đình Nam Hán khi chiếm nước ta đã đóng quân ở đây nên lý giải của các nhà khảo cổ có vẻ logic.


Bên cạnh đó, căn cứ vào niên đại của các loại gạch dùng để trùng tu đình và sửa hang, các nhà nghiên cứu sử đưa ra một giả thiết khác: Thông Thiền được làm từ đời Trần để ém quân đánh giặc Nguyên Mông. Đến khi Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh (đầu thế kỷ XV) đã dùng hang này làm nơi cất giấu lương thực...


Cho dù các sách sử của nước ta bị quân đô hộ phương Bắc đốt hết sau mỗi lần chiếm Thăng Long, song nhiều di tích, địa danh nơi đây vẫn được các nhà nghiên cứu “giải mã” sau thời gian dài thu thập tư liệu, chỉ riêng động Thông Thiền dưới móng đình Quán La vẫn còn là bí ẩn chưa được làm sáng tỏ.


2: Vết đạn đại bác ở Bắc Môn 


Đi qua phố Phan Đình Phùng, đoạn trước cửa nhà thờ Cửa Bắc là cửa Bắc Môn. Bên trái cửa là vết đạn đại bác sâu chừng hai chục phân và chu vi vết lõm chừng một mét. Đó là vết đạn do quân của Henri Rivière bắn ngày 25.4.1882 trong lần tấn công thành Hà Nội lần thứ 2.


Ngay từ khi xâm chiếm Việt Nam, thực dân Pháp đã nhận ra tầm quan trọng của Hà Nội trong việc thiết lập bộ máy cai trị Việt Nam và cả bán đảo Đông Dương. Để kiếm cớ đưa quân ra Bắc, thực dân Pháp đã bí mật dùng Jean Dupuis, một tên lái súng có tham vọng chiếm sông Hồng để ngược sông Hồng sang Vân Nam (Trung Quốc). Dupuis đến Hà Nội ngày 22.12.1872 với một lực lượng quân sự hùng hậu. Mặc dù triều đình Huế không cho phép nhưng hắn vẫn ngang nhiên đưa hàng ngược sông lên biên giới. Sau chuyến buôn trót lọt, hắn càng hung hăng hơn.


Hoàng Diệu người làng Xuân Đài, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông sinh ngày 10.2.1829 trong một gia đình Nho học. 20 tuổi ông đỗ Cử nhân cùng với anh ruột là Hoàng Kim Giám. Năm 25 tuổi, trong khoa thi Hội năm 1853 ông đỗ Phó bảng. Ông được bổ làm quan ở nhiều tỉnh miền Trung và Bắc. Tự Đức ban khen: "Chăm lo cho dân Bắc Hà, ngoài Hoàng Diệu ra không ai hơn". Suốt đời làm quan, ông nổi tiếng là người thanh liêm thẳng thắn, hết lòng vì dân, vì nước.


Hắn cho quân lên bờ xé các bố cáo của Nguyễn Tri Phương, khi ông mới nhận chức Tổng đốc Hà Nội. Giữa lúc quan hệ đôi bên căng thẳng thì thực dân Pháp phái Francis Garnier đưa quân ra Bắc với danh nghĩa theo yêu cầu của triều đình Huế giải quyết vụ Dupuis. Sau khi có viện binh từ Sài Gòn ra, Garnier tuyên bố trắng trợn mở đường sông Hồng cho thương mại, thiết lập thuế quan mới rồi gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bắt phải giải giáp quân đội, rút hết đại bác trên mặt thành. Không đợi trả lời, sáng sớm ngày 20.11.1873, Garnier ra lệnh nổ súng đánh thành Hà Nội.


Dù không chuẩn bị kỹ càng và bị tấn công bất ngờ nhưng quân và dân Hà Nội chiến đấu rất anh dũng. Nguyễn Tri Phương trực tiếp đến cửa thành phía nam chỉ huy quân sĩ. Cuộc chiến diễn ra ác liệt trên mặt thành và Nguyễn Tri Phương bị thương nặng ở bụng. Ông bị giặc Pháp bắt, chúng mua chuộc nhưng ông xé băng, nhịn ăn để chết. Hà thành thất thủ, nhưng việc Garnier bị đền tội tại Cầu Giấy ngày 21.12.1873 đã làm nức lòng quân dân Hà Nội và góp phần buộc Pháp phải trao trả thành cho triều đình Huế.


Khi tình hình Bắc kỳ căng thẳng, vua Tự Đức giao cho Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà Ninh. Năm 1882, lấy cớ triều đình Huế vi phạm Hiệp ước 1874, Pháp bắt đầu tăng quân đồn trú ở Bắc kỳ. Tháng 3.1882, Henri Rivière được lệnh kéo quân từ Sài Gòn ra đóng tại Đồn Thủy. Hoàng Diệu chưa có lệnh của triều đình nên chỉ chuẩn bị mà không dám đối phó. Trước đó, ông dự đoán thế nào Pháp cũng kiếm cớ quay lại nên đã cho tu bổ thành, chuẩn bị vũ khí, tăng quân. Hoàng Diệu cũng bố trí một lực lượng ở ngoại thành để hỗ trợ khi thành bị tấn công và cả kế hoạch phòng thủ chung song triều đình không chấp nhận.


Quân Pháp ngày càng đông, Hoàng Diệu yêu cầu các địa phương tâu lên triều đình xin thêm viện binh nhưng tới tận lúc Pháp sắp nổ súng, Tự Đức vẫn chỉ muốn thương thuyết. Quân Pháp hoành hành phá rối và hăm dọa trên các đường phố. Bên cạnh Hoàng Diệu lúc bấy giờ có Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, Đề đốc Lê Trinh, Bố chánh Phan Văn Tuyển, Án sát Tôn Thất Bá và Lãnh binh Lê Trực đã cùng nhau uống rượu hòa máu tỏ quyết tâm sống chết với thành.


Rạng ngày 25.4.1882, Henri Rivière sai phiên dịch viên đưa tối hậu thư vào thành buộc trong 3 giờ phải hạ khí giới và giao thành, Hoàng Diệu cùng các tướng lĩnh phải nộp mình. Chưa hết thời gian, quân Pháp đã nổ súng. Từ 8 giờ sáng, tàu chiến trên sông Hồng thi nhau nhả đạn mở đường cho bộ binh xông lên. Tôn Thất Bá xin ra ngoài để đàm phán nhưng ra khỏi thành, Bá đầu hàng và khai hết vị trí có quân phòng ngự.


Rồi Bá lại dâng sớ lên Tự Đức đổ tội cho Hoàng Diệu, mặt khác Bá xin Henri Rivière làm Tổng đốc Hà Ninh. Một trận kịch chiến xảy ra từ sáng đến trưa. Ngay từ lúc cuộc chiến bắt đầu, người dân đã mang theo khí giới đến cửa thành xin cùng tham gia chống quân Pháp. Dân xung quanh, các đình, chùa đều đánh trống gõ mõ để hỗ trợ cho tinh thần quan quân trong thành. Hàng nghìn dân binh mang gậy gộc, giáo mác do Võ Nguyễn Đồng người làng Bích Câu (nay là phố Bích Câu) chỉ huy, kéo đến đình Quảng Văn (nay là vườn hoa Cửa Nam) tập hợp rồi xông vào thành. Chưa vào tới nơi thì kho thuốc súng nổ, lửa bốc cháy ngùn ngụt. Đám cháy càng lan rộng, hàng ngũ chiến đấu càng hoang mang, quân giặc thừa cơ bắc thang trèo vào, phá cổng thành phía tây rồi ồ ạt kéo vào.


Do quân Pháp quá mạnh và tướng kẻ bỏ trốn, kẻ phản bội nên quân giữ thành dần tan rã. Hoàng Diệu về dinh, nai nịt gọn gàng, mặc chiếc áo the thâm, chít khăn nhiễu xanh lên đầu, dải dây lưng nhiễu hồng thắt ra áo ngoài, tay cầm thanh kiếm tuốt trần, lên mình voi xông vào Hoàng cung. Đến sân rồng, Hoàng Diệu lạy năm lạy, vừa lạy vừa khóc rồi quay ra. Đến Võ Miếu, xuống voi, ông đuổi đám quân về rồi bảo rằng: "Ai muốn về Huế thì về, ai muốn đánh thì theo thứ quân lên Sơn Tây". Nói xong đi vào Võ Miếu đóng cửa lại lấy chiếc khăn đang bịt trên đầu treo mình lên cành cây tuẫn tiết. Lúc đó là giờ Ngọ, ngày 25.4.1882.


Chiếm được thành, Pháp cho quân đồn trú tại đây. Sau đó chúng cho phá điện, lầu, phủ mà nhà Nguyễn trước đó đã xây để xây kho quân sự, trại lính và chỗ cho hậu cần. Về cơ bản Bắc thành chỉ còn là cái tên trong sử sách. Một điều thâm hiểm là khi xây doanh trại, chúng phá hết nhưng để lại Bắc Môn như để cảnh cáo những ai có ý định chống Pháp.


 


3: Chùa Báo


Trên mảnh đất nay là Bưu điện Hà Nội từng tồn tại một công trình kiến trúc Phật giáo nguy nga mà giờ đây chỉ còn lại hình bóng trên các bưu thiếp cổ.


Thời Lê Trung hưng, chúa Trịnh Doanh cho xây lầu bên bờ đông của hồ Lục Thủy (hồ Gươm) để làm nơi duyệt quân, vì trên mái có 5 con rồng cuốn nên được gọi là lầu Ngũ long. Khi xây lầu, nhà chúa cho đắp con đường để cưỡi voi từ Phủ chúa sang (phủ nằm trong khoảng khu vực phố Tràng Thi - đầu phố Bà Triệu và Quang Trung hiện nay) nên hồ bị ngăn làm hai. Phía bắc gọi là Tả vọng, phía dưới gọi là Hữu vọng, hay còn được gọi là hồ Thủy quân vì hồ làm nơi luyện tập cho binh sĩ.


Đền vàng cửa ngọc


Năm 1786, khi Tây Sơn ra Bắc lần thứ nhất, Lê Chiêu Thống còn cho họp tướng lĩnh ở lầu này. Sau khi Phủ chúa bị Lê Chiêu Thống phóng hỏa đốt năm 1787 thì lầu Ngũ long cũng bị phá. Dân đến đây làm nhà, lập thôn Cựu Lâu. Khoảng năm 1842, Tổng đốc Hà Ninh là Nguyễn Đăng Giai đã quyên tiền dân xây dựng chùa ở khu vực này. Chùa có tên là Báo Ân. Vì hồ trong chùa rất nhiều sen nên dân còn gọi là chùa Liên Trì và cũng còn có tên khác là Quan Thượng, tên của viên quan lập chùa. Chùa có 180 gian, kiến trúc phức tạp và cầu kỳ.


Mùng 8 Tết 1876, Trương Vĩnh Ký với tư cách là nhà báo có ghé thăm chùa đã ghi lại trong nhật ký Một chuyến đi Bắc Kỳ. Trương Vĩnh Ký mô tả, bước qua cửa chùa có tháp cao hai bên, trong chùa có hồ được xây bằng gạch và đá, đường lát gạch chạy vòng quanh hồ. Trương Vĩnh Ký cũng mô tả trong chùa có nhiều cầu và xung quanh là hành lang có mái che. Những tấm ảnh chụp của sĩ quan quân y Pháp là Hocquard năm 1884 cho thấy chùa bề thế và có nhiều nhà ngang, dãy dọc.


Trong một bức họa đăng trên Hà Nội báo (Ha Noi Journal) năm 1890 của Voignier vẽ cảnh phía đông hồ cho thấy còn cổng tam quan và tháp Hòa Phong nằm gần mép hồ. Tháp hiện vẫn còn. Tháp cao 3 tầng, tầng 1 có 4 cửa nên còn gọi là tứ môn tháp, một kiến trúc thường thấy trong các công trình của Phật giáo. Tầng một có 4 cửa vòm, tầng 2 có hình bát quái, dưới bát quái trên 4 vòm là tên từng cửa: Báo Ân môn, Báo Nghĩa môn, Báo Đức môn và Báo Phúc môn. Tầng 3, trên mặt đông-tây có ghi tên tháp là Hòa Phong nhưng 2 mặt bắc-nam lại ghi Báo Thiên tháp. Báo Thiên tháp do triều Lý xây năm 1057 (nay là khu vực Nhà thờ lớn). Tháp cao 12 tầng (khoảng 80 mét), bị sét đánh năm 1322, năm 1426, tướng giặc Minh là Vương Thông sai phá tháp lấy đồng đúc đạn. Có thể các nhà chủ trương xây chùa Báo Ân ghi chữ Báo Thiên tháp là nhớ về một công trình vĩ đại của đời trước đã bị phá?


Tháp Hòa Phong là nơi hội tụ tinh thần của 3 tôn giáo: Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo (tam giáo đồng nguyên) vốn tồn tại ở các triều đại phong kiến trước đó. Chùa được dân ca tụng:


Gần xa nô nức tưng bừng


Vào chùa Quan Thượng xem bằng động tiên


Lầu chuông gác, trống hai bên


Trông ra chợ mới Tràng Tiền kinh đô


Khen ai khéo họa dư đồ


Sau lưng Đồn Thủy, trước hồ Hoàn Gươm


Phong quang cảnh trí trăm đường


Trong xây chín giếng ngoài tường lục lăng


Rõ mười cử động tưng bừng


Đền vàng cửa ngọc chất từng như nêm.


Bài thơ này ra đời khi thực dân Pháp đã được triều Nguyễn cho đóng quân ở Đồn Thủy (khu vực Bệnh viện 108 hiện nay) và cũng cho thấy chùa còn nguyên vẹn.


Đốt nhà dân, cướp phá chùa


Năm 1883, Pháp chiếm được Hà Nội và lấy chùa làm cơ quan hậu cần. Thấy trong chùa có nhiều hình tượng của điện diêm cung dưới địa ngục nên lính Pháp gọi là "pagode des supplices" (chùa khổ hình). Hồi ký của một viên quan viết rằng cha ông ta là Thống sứ Bắc Kỳ có lấy một pho tượng Kim Cương lớn ở chùa Báo Ân đem về bày ở phòng khách gia đình ở Paris. Trong thời gian đóng ở chùa, đám binh lính đã cậy phá gạch đá, đập vỡ các tượng lớn và lấy cắp các tượng nhỏ làm kỷ niệm.


Tháng 11.1885, công việc đổ đất, cạp hồ Gươm và lấp các chỗ trũng bắt đầu. Trong một bức thư gửi cho một người bạn, Toàn quyền De Lanessan viết để kịp khánh thành con đường vòng quanh hồ đúng vào dịp Tết năm 1892, ông ta ngầm ra lệnh đốt các nhà lá quanh hồ. Đêm 22.1.1891, 300 nóc nhà ở Cầu Gỗ, Hàng Bè, Hàng Mắm, Hàng Thùng, Hàng Vôi đã cháy trụi. Đêm ngày 28.1.1891, vụ cháy thứ hai tiêu hủy cả thôn Cự Lâu. Chùa Báo Ân chỉ là mảnh đất hoang tàn. Nguyễn Khuyến trở lại Hà Nội, trước cảnh hoang tàn quanh hồ và các tòa nhà do thực dân Pháp xây dựng ở phía đông, ông đã viết bài Cảm đề:


Ba chục năm trở lại hồ


Bây giờ cảnh sắc khác ngày xưa


Nhà tranh đâu cả toàn lầu gác


Súng lạ đì đòm tịt trúc tơ


Chim chóc đi về lầm lối cũ


Cốc cò chiều tối ngủ sương mưa


Đáng thương văn vật trăm năm ấy


Còn lại bên hồ một đá trơ.


4: Từ “hỏa đài” tới Bưu điện Hà Nội 


Hơn một trăm năm trước, những con tem, bức điện báo đầu tiên gửi đi từ Bưu điện Hà Nội không dành cho người Việt. Và khi người Việt đầu tiên kiện vụ "xâm phạm bí mật thư tín", tòa án cũng không đứng về phía nguyên đơn...


Bưu điện Hà Nội được thực dân Pháp thành lập từ năm 1884, ngay sau khi triều Nguyễn ký hiệp ước đầu hàng, chấp nhận chế độ bảo hộ. Vị trí của Bưu điện Hà Nội là nền chùa Báo Ân cũ. Bốn dãy nhà hai tầng được dựng lên, phía bắc tiếp giáp với phố Lê Thạch, mặt chính là phố Đinh Tiên Hoàng, phía nam là phố Đinh Lễ, còn phần hậu của bưu điện là Bắc Bộ phủ. Công trình có kiến trúc đơn giản, cầu thang gỗ, phía trên lợp ngói ardoise màu đen.


Trước khi thực dân Pháp đưa điện tín, điện báo và thư từ vào Việt Nam để phục vụ cho việc cai trị của họ thì các triều đại phong kiến trước đó đã sử dụng cờ, đèn, kèn, trống, ngựa, thuyền, chim câu… để làm phương tiện truyền thông tin. Hình ảnh người cầm cờ tín hiệu trên mũi thuyền cong khắc trên trống đồng có thể là dấu hiệu của việc truyền tin bằng cờ hiệu. Quanh thành Cổ Loa vẫn còn di tích các "hỏa đài", đây cũng là những di chỉ thể hiện cách thông tin thời xưa. Theo truyền thuyết, trên đỉnh núi Bài Thơ (tên cũ gọi là "núi Truyền đăng" hay "núi Rọi đèn" ở Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) có phiến đá lớn dùng làm chỗ đốt lửa báo hiệu khi có biến ở biên thùy. Với cách này, các đồn binh thấy lửa cháy trên núi sẽ chuyển tiếp thông tin về triều đình để vua, quan kịp thời ứng phó.


Thế kỷ 17, thời Trịnh - Nguyễn phân tranh vẫn sử dụng cách đốt lửa. Nguyễn Hữu Dật, một tướng giỏi nhà Nguyễn, cũng xin lập "lạp đài" ở các cửa biển Quảng Bình để báo tin cho nhanh. Nhiều triều đại phong kiến còn lập trạm trên tuyến đường bộ, đường thủy làm nơi chuyển tiếp chiếu chỉ, lệnh dụ… tới khắp nơi. Trạm sử dụng ngựa, thuyền và các phương tiện khác để đảm bảo những yêu cầu về thời gian và an toàn trong suốt hành trình của phu trạm. Người của trạm, từ đội, lính hay phu vận trang phục như lính chiến triều đình. Ngựa được tuyển chọn kỹ càng và luôn sẵn sàng lên đường; khi phu trạm trước đến là người, ngựa phi ngay đến trạm tiếp theo. Thời kỳ đầu triều Nguyễn, tên trạm được xác định bằng cách ghép tên tỉnh với tên thôn nơi đặt trạm. Dưới triều vua Minh Mạng (1820 - 1841), trên địa bàn Hà Nội có hai trạm: Hà Trung ở thôn Yên Trung, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi thành Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương (nay là phố Hà Trung, quận Hoàn Kiếm); Hà Mai, nằm ngay trên đường Trương Định ngày nay. Khi thực dân Pháp xây dựng hệ thống bưu điện, các trạm bị hủy bỏ.


Con tem đắt hơn 1 cân gạo


Trong năm 1884, người Pháp chỉ mới lập ra Bưu cục Hà Nội cùng với các bưu cục Nam Định, Bắc Ninh, Hưng Yên, Sơn Tây và Ninh Bình để phục vụ thông tin liên lạc cho bộ máy cai trị. Hoạt động của bưu cục chủ yếu là nghiệp vụ bưu chính, chuyển thư từ và công văn. Trước đó năm 1883, Toàn quyền Đông Dương đã cho phát hành con tem đầu tiên ở Việt Nam; tem có hình chim phượng hoàng, biểu tượng của Hoàng đế Napoléon đệ tam.  Việc sử dụng tem khi ấy rất hạn hẹp, chỉ trong công sở, giới quan chức và số ít người giàu có. Cước rất cao, một con tem trong nước là 4 xu, giá một tiếng điện báo là 6 xu, trong khi một cân gạo giá 3 xu. Năm 1886, thực dân Pháp cho phát hành con tem đầu tiên dùng cho Nam kỳ và đến năm 1889 thì phát hành tem dùng chung cho ba nước Đông Dương. Cuối năm 1884, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương còn cho xây đường dây hữu tuyến Hà Nội - Sài Gòn dài gần 4.000 km và hoàn thành vào năm 1888. Cũng trong thời kỳ này, họ xây dựng đường dây Hà Nội - Hải Phòng. Năm 1888, thông tin điện báo được thiết lập giữa Hà Nội với Sài Gòn, Vinh, Huế và Đà Nẵng. Năm 1889, Bưu điện Hà Nội có đầy đủ các hình thức hoạt động: bưu chính, điện báo, điện thoại.


 Làm việc trong các bộ phận của Bưu điện Hà Nội chủ yếu là người Pháp hoặc người ở các nước thuộc địa do họ tuyển. Nhân viên người Việt hầu hết là người vào "làng Tây", cai hoặc lính đã giải ngũ. Tất cả những người Việt làm trong ngành phải tuyên thệ trước tòa sơ thẩm. Lời tuyên thệ của mỗi người được ghi vào biên bản tòa án và lưu trong hồ sơ cá nhân. Nội dung như sau: "Tuyệt đối giữ bí mật những điều đọc được ở bức điện công hay tư, một công văn hay một bức thư. Nghe được cuộc điện thoại không nói cho ai biết dù là đồng nghiệp. Nếu vi phạm bí mật sẽ bị phạt tù". Lương của nhân viên người Việt chỉ bằng một phần mười, thậm chí một phần hai mươi so với nhân viên người Pháp. Thời kỳ đầu, bưu tá của Bưu điện Hà Nội sử dụng xe người kéo đi phát thư. Bưu điện đã chọn những người kéo xe tay trẻ khỏe vì nhiều khi gia đình nhận thư xa trung tâm. Họ được trả công tùy theo độ dài của quãng đường. Những năm 1920, khi xe đạp được nhập vào Việt Nam thì mỗi bưu tá được giao một chiếc xe có gióng ngang làm chỗ để treo xà cột bằng da.


Năm 1917, Bưu điện Hà Nội bắt đầu tổ chức bưu chính nông thôn. Tuy nhiên, đối tượng nhận vẫn chỉ là cấp chính quyền xã hay huyện. Năm 1922, người Pháp tiến hành xây dựng đài phát vô tuyến tại Ngã Tư Vọng (nay là khu tập thể 128C phố Đại La) và tại số 4 Phạm Ngũ Lão (nay là Trung tâm Khí tượng - Thủy văn quốc gia) để liên lạc với Paris. Ngoài ra, đài này còn thông báo giá vàng, tỷ giá giữa đồng franc và đồng bạc Đông Dương. Năm 1930, một người Việt Nam tên là Trần Văn Sáng đã kiện Bưu điện Hà Nội, lý do là khi nhận được thư của người thân từ Sài Gòn gửi ra, anh này thấy thư bị bóc đã cương quyết không ký vào sổ của viên bưu tá. Vụ kiện không mang lại phần thắng cho anh vì tòa án đứng về phía bưu điện.


Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7.5.1954 đã buộc Chính phủ Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán tại Genève với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rút toàn bộ quân khỏi Đông Dương. Ngay sau khi tiếp quản thủ đô vào sáng 10.10.1954, công việc bàn giao Bưu điện Hà Nội được tiến hành theo thỏa thuận trước đó. Mặc dù đã thống nhất phải để lại nguyên trạng Bưu điện Hà Nội, nhưng một số thiết bị tại đây đã bị phá hủy, một số khác bị người Pháp mang đi và trên thực tế chỉ còn một tổng đài điện thoại 1.500 số với gần 600 thuê bao.


5: Người phụ nữ 28 năm chỉnh giờ đồng hồ 


  Công trình xây dựng “Nhà bưu điện mới” do Trung Quốc viện trợ được đặt tên là 7138. Theo cách viết của người Trung Quốc, 7138 nghĩa là công trình bắt đầu từ ngày 8.3.1971. Nhà giao dịch hai tầng mặt phố Đinh Tiên Hoàng bị đập bỏ, thay vào đó là tòa nhà 5 tầng và trên nóc đặt một chiếc đồng hồ. Năm 1976, tòa nhà dài 51 mét, trát đá rửa cơ bản hoàn thành. Bên trong không có đường nét uốn lượn. Bên ngoài nặng nề và thô vụng. Các kiến trúc sư lắc đầu vì công trình này phá vỡ sự mềm mại nhẹ nhàng của không gian phía đông hồ Gươm với nhiều công trình có kiến trúc nhẹ nhõm, sang trọng.


Chăm sóc “biểu tượng Hà Nội”


Trước khi chiếc đồng hồ trên nóc nhà bưu điện trung tâm xuất hiện thì Hà Nội có khá nhiều đồng hồ nằm rải rác ở các phố. Song đáng kể nhất là chiếc đồng hồ ở tháp chuông Nhà thờ lớn và nhà chính của ga Hà Nội. Cả hai chiếc chạy rất chính xác. Nhưng ngày 26.12.1972, Mỹ rải thảm bom bằng B52 đã phá tan chiếc ở ga Hà Nội.


Sau khi lắp xong chiếc đồng hồ trên nóc nhà trung tâm, các chuyên gia Trung Quốc thấy Lê Thị Yến còn trẻ lại nhanh nhẹn nên đề nghị bưu điện để Yến trông coi chiếc đồng hồ. Giám đốc Bưu điện Hà Nội là ông Nguyễn Minh Chí đồng ý. Đồng hồ được sản xuất tại Trung Quốc và theo các chuyên gia, mẫu này chỉ sản xuất có 2 chiếc. Bốn mặt giống hệt nhau quay về bốn hướng: đông, tây, nam, bắc. Mặt đồng hồ hình vuông, mỗi chiều 4,5 mét. Phía dưới có 16 chiếc loa chĩa về 4 hướng. Lễ khánh thành chiếc đồng hồ diễn ra vào đúng 11 giờ trưa ngày 2.9.1978. Bản nhạc Ca ngợi Hồ Chủ tịch với nhịp điệu chậm vang xa làm nhiều người Hà Nội trong cả một khu vực rộng lớn xúc động. Phó đoàn chuyên gia Trung Quốc tham gia xây dựng Bưu điện, ông Vương Ngọc Dung trước khi rút khỏi Việt Nam đưa cho Lê Thị Yến sơ đồ của chiếc đồng hồ rồi bảo vẽ lại. Yến thức trắng một đêm và hôm sau mang đến trước sự ngạc nhiên và thán phục của chuyên gia. Rồi đoàn chuyên gia mang theo sơ đồ chính chiếc đồng hồ về nước sau khi bàn giao một ngày.


Từ hôm ấy người phụ nữ rắn rỏi sinh ở ra ở Thái Bình đảm trách đời sống chiếc đồng hồ này. Hằng ngày, Yến có trách nhiệm chỉnh giờ sao cho chiếc đồng hồ chạy chính xác. Nhưng do không có thiết bị máy móc nên không biết thế nào là chính xác, bởi vậy thỉnh thoảng, Yến lại đạp xe đạp đến Nhà thờ lớn, lấy giờ chiếc đồng hồ đeo tay theo giờ của đồng hồ trên tháp nhà thờ mang về so sánh. Rồi tháng đôi lần, Yến đạp xe cách bưu điện mấy cây số để kiểm tra tiếng chuông và nhạc có vang xa không. Rồi lúc nào cũng lo tra dầu mỡ, chỉnh thanh đồng cho tiếng chuông trong hơn…


Bà Yến hiểu chiếc đồng hồ không chỉ để xem giờ mà nó đã trở thành "biểu tượng của Hà Nội". Nhà bà ở ngách 15, ngõ Thổ Quan, phố Khâm Thiên. Cái ngách sâu hoắm chật hẹp, nhà cửa san sát và cũng thường xuyên tắc nghẽn, cách bưu điện mấy cây số, nhưng dù là nghỉ lễ hay nghỉ chủ nhật, nếu không nghe tiếng nhạc, tiếng chuông là vội vã phóng ngay đến cơ quan để xem sự thể ra sao. Trong suốt 28 năm trông coi chiếc đồng hồ thì 20 năm liên tục bà Yến phải leo lên, leo xuống cầu thang cao chót vót vì thang máy không sử dụng được.


Còn đâu tiếng chuông, tiếng nhạc...


Không chỉ chăm chút, lo lắng cho chiếc đồng hồ "mẹ" mà bà Yến cùng anh chị em tổ viên còn phải lo 7 chiếc đồng hồ con mà chiếc đồng hồ mẹ có trách nhiệm truyền tín hiệu đến, lắp ở những địa điểm khác nhau trong thành phố. Gần là Bách hóa Tổng hợp, xa thì tận dưới Mơ và ngã tư Sở. Khi nhà khách Chính phủ xây dựng thêm đơn nguyên cao 5 tầng thì mặt đông của chiếc đồng hồ bị che lấp và người đi trên đường Lý Thái Tổ không thể xem được giờ, nhiều ngày liền bà đã khóc thầm. Thiệt thòi cho người dân đã đành, song đáng nói là làm mất giá trị của chiếc đồng hồ.


 Chồng bà Yến cũng làm cùng cơ quan và theo quy định của thời bao cấp, vợ chồng được phân phối nhà tập thể. Song gần đến ngày phân chia, chồng bà lại "được" điều đi Huế lắp tổng đài. Xong việc quay trở ra thì việc phân chia đã đâu vào đấy, "vợ chồng đồng chí Yến chờ đợt sau nhé". Tuy nhiên, bà cũng không phàn nàn vì "nhà mình tuy không rộng nhưng còn có chỗ riêng tư, nhiều anh chị em vẫn phải ở chung với bố mẹ, chật chội lắm". Năm 2006, trước khi nghỉ hưu, bưu điện cho bà Yến đi du lịch Trung Quốc. Ngồi trên xe buýt, bà cũng ngó nghiêng, đến thành phố nào cũng nhờ phiên dịch hỏi đồng hồ công cộng to nhất đặt ở chỗ nào. Nếu có, bà tìm mọi cách đến bằng được xem nó có phải là anh em với chiếc đồng hồ mà bà đã gắn bó cả đời không. Trước khi về hưu bà vẫn tự hỏi, Việt Nam và Trung Quốc đã nối lại quan hệ từ năm 1992 nhưng sao không thấy ai trong tổ chuyên gia quay lại thăm chiếc đồng hồ do họ lắp đặt xem nó sống chết thế nào.


Bây giờ chiếc đồng hồ vẫn chạy tốt. Dù có đeo đồng hồ trên tay nhưng ai cũng ngước lên xem giờ rồi so với đồng hồ họ đang đeo nếu đi qua hồ Gươm. Còn bà Yến, hễ có ngày nào rảnh rỗi hay có việc phải ra đường, bà vẫn phóng lên bờ Hồ, chỉ có điều bà không vui như ngày xưa, bởi bây giờ người đông, xe máy ô tô chạy ầm ầm, đâu còn nghe thấy tiếng chuông, tiếng nhạc...


6: Truyền kỳ hồ Gươm 


“Khen ai khéo họa dư đồ Trước sông Nhị Thủy sau hồ Hoàn Gươm”


Thăng Long qua các triều Lý, Trần, Lê có rất nhiều hồ như: Thanh Giám, Thái Cực, Tú Uyên, Kim Âu, Chu Tước, Huy Văn... Nhưng lớn nhất là hồ Lục Thủy (tức hồ Gươm ngày nay).


Lục Thủy là dấu tích của đầm bị cát bồi lấp kéo dài xuống tận phố Hàng Chuối hiện nay. Phía bắc Lục Thủy tiếp giáp với hồ Thái Cực bị ngăn bởi thôn Minh Hương (nay là phố Cầu Gỗ). Phía tây ăn tới tận Nhà thờ Lớn hiện nay. Khi chúa Trịnh cho xây phủ chúa và lầu Ngũ Long thì Lục Thủy bị ngăn làm hai, phía bắc gọi là Tả Vọng, còn phía dưới gọi là Hữu Vọng. Con đường đi từ phủ Chúa sang lầu Ngũ Long là phố Hàng Khay hiện nay.


Nguyễn Văn Siêu đã từng bật lên cảm xúc trước vẻ đẹp của hồ Gươm:


Nhất trản trung phù địa


Trường lưu đảo tải thiên


Ngư châu xuân tống khách


Hồi trạo túc hoa thiên


Dịch nghĩa:


Một chén giữa lòng đất nổi


Nước dài chở lật trời


Thuyền câu ngày xuân đưa khách


Quay chèo về ngủ bên hoa


Không gian thơ mộng lãng mạn của hồ Gươm làm cho Trịnh Giang, vốn là vị chúa thích ăn chơi, đã cho xây Tả Vọng đình trên Gò Rùa làm nơi hóng mát về mùa hè. Khi triều Nguyễn lên nắm quyền thì Tả Vọng đình đã đổ nát. Theo truyền thuyết, Gò Rùa là đất "vạn đại công khanh", nhà nào để được hài cốt vào đó thì con cháu muôn đời làm quan. Chính vì thế, ông Nguyễn Hữu Kim (thường gọi là Bá Kim, 1832 - 1901), khi đó là hào mục của thôn Cựu Lâu (nay là khu vực phố Hàng Khay, Hai Bà Trưng và đầu phố Bà Triệu) đã "lo lót" Kinh lược sứ và cả viên quan Pháp chỉ huy đội quân đóng ở Đồn Thủy để xây tháp làm "hậu chẩm" cho chùa Báo Ân. Tháp Rùa được xây vào khoảng năm 1877.


Năm 1952, chính quyền thành phố tổ chức hội chợ bắt đầu từ Thủy Tạ kéo đến nhà Khai Trí Tiến Đức giới thiệu và bán nhiều loại hàng hóa. Người ta còn  bắc cả cầu  phao ra tháp Rùa để khách có thể ra chơi và chụp ảnh lưu niệm. Năm 1992, sau 115 năm tồn tại, tháp Rùa được UBND TP Hà Nội cho trùng tu.


Dân gian truyền rằng, khi bắt đầu xây móng, ông Bá Kim chờ đêm khuya mới cho người nhà mang hài cốt của cha mẹ đựng trong quách chôn giữa gò. Nhưng hôm sau thì chỉ còn quách mà không còn cốt. Dù không còn cốt song việc xây tháp không thể dừng nên ông Bá Kim buộc phải xây tiếp. Khi Tổng đốc Hoàng Diệu tự vẫn trước lúc quân Pháp chiếm thành Hà Nội ngày 25.4.1883 thì chính ông Bá Kim cùng với  những người yêu nước đã lén lấy xác Hoàng Diệu mang đi chôn gần miếu Trung Liệt (sau gò Đống Đa hiện nay), rồi sau đó lại di ra Dinh Đốc học (Nhà máy xe đạp Thống Nhất sau này). Tháp Rùa có 3 tầng và không phải là công trình kiến trúc đặc sắc nhưng làm cho hồ Gươm đỡ trống trải và bớt đơn điệu. Sau khi Pháp chiếm Hà Nội năm 1883, Công sứ Bắc Kỳ là Bonnal đã cho quy hoạch lại khu vực hồ Gươm. Hồ bị lấp bớt và diện tích hồ chỉ còn lại 12 ha như hiện nay.


Năm 1883, con đường quanh hồ chưa hình thành nên để bớt nguy hiểm, phóng viên của tờ Le Temps và hãng thông tấn Havas ở bên này hồ trong một ngôi chùa nhỏ, còn phóng viên của Le Figaro ở bờ bên kia; để thăm nhau họ đi thuyền qua hồ. Cũng trong năm 1883, Cao ủy Harman khai trương đua thuyền trên hồ Gươm bằng chiếc thuyền độc mộc có mái che với 10 người chèo. Khách sạn Grand Hotel (nay là khu vực siêu thị Intimex) - khách sạn sang trọng đầu tiên ở Hà Nội, được khánh thành vào năm 1886 với 50 phòng ngủ và bàn billard, đã mua 2 chiếc ca nô để chở khách ngắm cảnh trên hồ khi hoàng hôn buông xuống. Hồ Gươm thời kỳ này còn có hoạt động đua thuyền gỗ và thuyền thúng dành cho người Việt. Điểm xuất phát là đền Ngọc Sơn, sau đó đua một vòng quanh hồ. Vì hồ đẹp nên thu hút rất nhiều người Hà Nội đến đây hóng gió, ăn kem và nhiều chuyện không hay diễn ra nên thi sĩ Tản Đà có câu:


Bờ Hồ những gió cùng trăng


Những trăng cùng gió lăng nhăng sự đời


Vào những năm 1930, các cô gái thất tình hay ra hồ Gươm tự vẫn. Trước những chuyện tình éo le, năm 1938, một nhà văn đã dựa theo phóng sự trên báo viết về chuyện tình của cô Phượng với kết cục bằng cái chết ở hồ Hoàn Kiếm để viết thành vở Mồ cô Phượng. Vở kịch này thu hút khá đông khán giả bình dân.


Khoảng năm 1951, mật thám Pháp bắt được một người treo cờ đỏ sao vàng trên đỉnh tháp Rùa, chính quyền đem ra xử, luật sư Vũ Văn Hiền nhận bào chữa giúp không lấy tiền công. Luật sư Hiền học luật ở Pháp, ông là một trong mấy chục trí thức lớn cùng thời với Hoàng Xuân Hãn, bác sĩ Trần Văn Lai, Phạm Khắc Quảng, luật sư Nguyễn Mạnh Hà... ở Hà Nội trong nhiều năm liền, mỗi tháng bí mật góp 500 đồng Đông Dương, thuốc kháng sinh và các báo xuất bản ở Pháp để chính phủ kháng chiến biết tình hình thế giới. Khi người treo cờ bị tòa kết án  tù chung thân, ông Hiền cãi: “Cờ đỏ sao vàng được Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua, Quốc hội là do dân bầu, mặt khác cho đến năm 1951 vẫn chưa có quyết định nào xóa bỏ cờ đỏ sao vàng nên việc treo cờ là không sai. Thưa quý tòa, cờ ba sọc được coi là cờ quốc gia nhưng nó không được Quốc hội nào thông qua, sao lại bảo treo cờ đỏ sao vàng là có tội ?” Tòa bí nhưng vẫn cố: “Treo cờ đỏ sao vàng khiến dân chúng tập trung quanh hồ Gươm gây mất an ninh trật tự nên tòa  phạt”. Luật sư Hiền lại cãi: “Dân chúng đâu có mất trật tự, họ đứng quanh hồ Gươm vỗ tay mừng lá cờ được Quốc hội thông qua lâu lắm mới xuất hiện lại chứ đâu có làm gì mà tòa bảo làm mất an ninh trật tự?”. Trước những lý lẽ đầy thuyết phục nói trên, tòa đành phải tha bổng người treo cờ.


 


8: Xẩm chợ Đồng Xuân 


Xẩm xuất hiện ở Hà Nội vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và đầu tiên người ta được thấy những người khiếm thị ê a trước cửa chợ Đồng Xuân.


Hà Nội như động tiên sa
Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần
Vui nhất có chợ Đồng Xuân
Mùa nào thức nấy, xa gần xem mua
Cổng chợ có chị hàng dừa
Hàng cau, hàng quýt, hàng dưa, hàng hồng...
Ai ơi đứng lại mà trông
Hàng vóc, hàng nhiễu thong dong rườm rà...


"Xẩm chợ Đồng Xuân" liệt kê gần như tất cả các mặt hàng bán trong chợ, không khí bán mua nhộn nhịp khiến người nghe thích thú.


Giữa năm 1889, chính quyền thành phố cho lấp đoạn sông Tô Lịch từ cửa sông Nhị Hà (sông Hồng) trở vào đến chân tường thành cổ, tạo nên một bãi đất rộng hàng chục héc-ta để mở mang phố phường và lập chợ vì hai chợ Bạch Mã, Cầu Đông trở nên chật chội. Chợ Đồng Xuân ban đầu họp trên bãi đất trống mới lấp xung quanh có căng dây để tiện thu thuế và không cản trở người đi lại. Năm 1890, công việc xây chợ có mái che bắt đầu. Trúng thầu cung cấp phần khung sắt là nhà thầu Poinsard Veyret (Pháp), còn thi công là một nhà thầu khác. Khung thép cao 19 mét và rộng 25 mét được đúc cầu kỳ làm cho chợ trở thành độc nhất vô nhị ở Việt Nam. Tổng diện tích chợ khoảng 6.500 mét vuông, tuy nhiên xung quanh chợ vẫn trống hoác và đến năm 1912, người ta mới cho xây tường xung quanh.


Lúc đầu chợ Đồng Xuân chỉ họp theo lối chợ phiên, hai ngày một phiên, nhưng về sau do nhu cầu phát triển kinh tế thương mại, chợ họp theo ngày từ sáng đến tối. Khi cầu Long Biên hoàn thành vào năm 1902 thì chợ Đồng Xuân trở thành tụ điểm buôn bán sầm uất không chỉ nổi tiếng nhất Hà Nội mà còn nổi tiếng cả Bắc kỳ, thu hút được sự chú ý của giới thương nhân nước ngoài, nhất là các nước Pháp, Tây Ban Nha, Ấn Độ... thường xuyên qua lại buôn bán. Cùng với hàng hóa do các vùng lân cận và nhiều tỉnh mang đến thì hàng hóa nhập khẩu cũng phong phú. Không chỉ hàng tiêu dùng mà cả cam, táo và nho tươi được các thương gia nhập từ Hồng Kông, San Francisco (Mỹ) về. Đồng Xuân cũng là nơi đặt văn phòng thương mại của người Pháp, Hoa, Ấn, Việt. Do nguồn hàng đa chủng loại nên Đồng Xuân không chỉ là chợ bán lẻ mà còn là đầu mối phân phối cho các tỉnh ở hầu hết Bắc kỳ. Từ năm 1937 đến 1939, trước cửa chính của chợ có một quầy bán công khai sách báo của Đảng Cộng sản Đông Dương do Phạm Văn Hải trông coi.


Nhà nghèo, mới hơn 10 tuổi, cậu bé Kông Tu Nghiệp người làng Phú Thượng (nay thuộc quận Tây Hồ) đã phải đến chợ Đồng Xuân dọn hàng thuê cho một chủ sạp bán thực phẩm. Thấy cậu bé dễ thương nên vợ chồng một người Pháp hay đến đây mua thực phẩm nhận về làm con nuôi. Bà người Pháp này - rất giỏi nấu nướng các món ăn châu Âu và am hiểu ẩm thực Hà Nội - đã dạy cho Nghiệp cách nấu các món ăn. Lớn lên, Nghiệp xin ra ở riêng và mở quán ăn ở phố Hàng Gai, sau đó chuyển xuống phố Hàng Trống và trở nên nổi tiếng khi mở nhà hàng Phú Gia (136 Hàng Trống).


Đồng Xuân không chỉ là nơi xuất xứ của phở bò - vốn trước đó là bún sáo trâu, sáo bò bán cho phu phen ngoài bến sông vào ăn, mà còn là một trong những nơi đầu tiên bán bún thang. Khoảng năm 1915, cụ Lê Thị Tho khi đó 20 tuổi đã mở quán bán bún thang ở chợ và quán nổi tiếng khắp Hà thành đến mức dân Tây "biết ăn rau muống, nằm võng ngâm Kiều" thường xuyên tìm đến chợ thưởng thức. Sau đó cụ Tho truyền nghề lại cho con gái là bà Đàm Thị Ẩm. Bà Ẩm nấu theo cách của mẹ truyền lại nên duy trì được sự nổi tiếng cho đến khi nghỉ bán hàng.


Vì cổng chợ ngày càng có nhiều nhóm hát xẩm nên một số nhóm đã tỏa đi các nơi trong thành phố. Khi đường tàu điện phát triển đến Hà Đông thì có nhóm “cắm rễ” ở bến tàu bờ Hồ (nay là bãi trông giữ ô tô phố Đinh Tiên Hoàng). Tuy nhiên nhiều nhóm vẫn bám trụ ở chợ Đồng Xuân và các khu vực xung quanh. Do người hát hầu hết đều bị khiếm thị nên họ lấy thơ lục bát có nội dung buồn hay éo le như: Lỡ bước sang ngang (Nguyễn Bính), Anh Khóa hoặc các bài ca dao nói về thân phận người nghèo, do đó dễ gây rung động cho người nghe. Sau một ngày mưu sinh vất vả, chiều xuống, vợ chồng con cái những gia đình hát xẩm tay chiếu tay nhị dắt díu nhau về bãi An Dương (nay thuộc quận Ba Đình). Những năm 1930, khu vực nói trên có tới mấy chục nhóm nên mới có tên là "xóm xẩm".


Ngày 2.9.1945, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời và việc đầu tiên mà nước cộng hòa non trẻ này tiến hành là "diệt giặc đói và giặc dốt", đồng thời người ta vận động người hát xẩm, dù không biết chữ, tham gia tuyên truyền bình dân học vụ. Xẩm Tiễu trừ giặc dốt ra đời trong thời kỳ này đã lôi cuốn người mù chữ tham gia các lớp học. Sau Hiệp định Genève lập lại hòa bình ở Đông Dương, các nhóm hát xẩm được mời tham gia sáng tác và đến các vùng duyên hải miền Bắc hát tuyên truyền chống dụ dỗ di cư vào Nam của địch. Có rất nhiều bài xẩm thời kỳ này nhưng cảm động hơn cả phải kể đến bài Ở quê có tổ có tiên. Nhà văn Thanh Tịnh được giao phụ trách nhóm gồm 23 anh chị em xẩm Hà Nội đến hát ở vùng Bùi Chu, Phát Diệm.


Ngày 19.12.1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Hà Nội bước vào cuộc chiến đấu chống quân Pháp xâm lược. Ngày 14.2.1946, một trận chiến ác liệt đã diễn ra ở chợ Đồng Xuân và trong cuộc chiến không cân sức ấy có cả những thiếu niên đã anh dũng hy sinh. Ngày 14.7.1994, trận hỏa hoạn đầu tiên từ khi có chợ xảy ra, do các họng nước dành cho cứu hỏa khu vực này khô khốc nên xe cứu hỏa phải chạy xuống hồ Gươm lấy nước. Chợ bị thiêu rụi hoàn toàn với tổng thiệt hại là 150 tỉ đồng (tương đương 14 triệu USD). Tháng 10.1995, UBND TP Hà Nội cho xây lại chợ như hiện nay.


Nguyễn Ngọc Tiến


thanhnien.com.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »