tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
19.10.2010
Lương Văn Hồng
Lãng du trong các nền văn hóa (1)

 Lãng du từ trẻ đến già


 Ta thấy toàn mộng cùng là chiêm bao.


                                             LVH.


               Mở đầu


Internet đã toàn cầu hóa thông tin, làm cho mọi người ở bất cứ nơi nào trên trái đất cũng thấy tất cả, biết tất cả. Nhưng để đi đến hợp tác với nhau trong kinh tế, chính trị thì phải hiểu nhau, chấp nhận nhau. Muốn vậy thì cần có hiểu biết về những điểm khác nhau về văn hóa, điều đó có nghĩa là chúng ta phải tạo nên bầu không khí “chung sống giữa các nền văn hóa”(lời của Dominique Wolton, tác giả cuốn sách “Toàn cầu hóa văn hóa”, Đinh Thùy Anh, Ngô Hữu Long dịch,  NXB Thế giới, 2006) để con người của các nền văn hóa xích lại gần nhau. Ngày nay cả thế giới dùng chung kỹ thuật Internet, nhưng không có chung về văn hóa , xã hội, chình trị. Nếu chúng ta lắng nghe,. học hỏi lẫn nhau với tinh thần thiện chí: hợp tác cùng phát triển thì những trở ngại về văn hóa, xã hội, chính trị sẽ được giải tỏa. Nếu sử dụng trở ngại do khác nhau về văn hóa, xã hội, chính trị  làm công cụ thì có thể gây ra hiểu lầm, gây thù địch, thậm chí đổ vỡ, chiến tranh.


Internet là phương tiện truyền thông với vô vàn thông điệp  của thông tin đa chiều. Ta phải thanh lọc, lấy những gì phục vụ cho nhu cầu, cho sự phát triển và phồn vinh của đất nước. Nếu không  ta sẽ ngơ ngác,  rơi tõm vào biển thông tin và chết ngợp trong đó.


 


                             ***


 


Cuốn sách „Lãng du trong các nền văn hóa“ bạn đang cầm trong tay sẽ giúp ta ứng xử có văn hoá trong toàn cầu hoá văn hoá, trong văn hoá thời hội nhập. Sách chỉ  là „cưỡi ngựa xem hoa“ trong thời buổi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế, là Uỷ viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc.- trong thời buổi toàn cầu hóa kinh tế, theo sau nó là toàn cầu hóa văn hóa. Vì vậy việc biết những nét chính- những tinh hoa văn hoá trong nền văn hóa các nước cũng là điều cần thiết và bổ ích. Ta thấy các nền văn hoá đều có chung một điểm: sống phải có tình và có lý. Trong khi rõ nét ở văn hoá Việt Nam là nhân đạo, ở Ấn Độ là nhân bản, ở Trung Quốc là nhân văn, thì ở Nga là nhân ái. Phật giáo chỉ bám rễ và phát triển ở  Trung Quốc khi các nhà truyền giáo biết đề cao chữ HIẾU, nhưng ở Việt Nam chữ đó là chữ NGHĨA. Điều đó cho thấy,  cái gì có khả năng thích ứng thì mới hòa nhập được vào trong văn hoá bản địa. Việc hiểu biết văn hoá các nước  sẽ làm tăng sự thông cảm, giúp ta mở rộng tầm nhìn về những vấn đề dân tộc và quốc tế. Nếu bạn đọc muốn đi xa hơn, đi sâu hơn vào những điều mình thích thú thì  xin đọc những sách chuyên khảo.


Sách có thể chưa thỏa mãn được mong đợi của bạn đọc xa gần. Nếu bạn đọc chưa hài lòng mong bạn rộng lòng bao dung, tặc lưỡi: “Mới được đến thế!“


Chúc bạn đọc có những „à, ờ“ trong lúc đọc sách.


              


                           P. Tây Thạnh,  Q. Tân Phú, ngày 12 tháng 8 năm 2008


                                                   Lương Văn Hồng


      ANH                  


 


Tên nước:  Anh (Britain: Vùng đất của người Britain)


tên đầy đủ:  Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ailen (Irland):  Vương quốc Anh)


 Năm 55  trước Công nguyên, Ceasar vượt eo biển đến và gọi nơi đây  là Britainia   (vùng đất của người Britain)


Diện tích:  244.103 km2


Dân số   :   597200.000 người


Quốc khánh:  21.4  


Quốc kỳ:


Quốc kỳ này ra đời năm 1801, do 3 quốc kỳ  của England, Scotland, Ireland chồng lên nhau, chữ thập bắt chéo màu đỏ tượng trưng cho thần bảo hộ của Ireland là thánh Patrick, chữ thập bắt chéo màu trắng tượng trưng cho thần bảo hộ Scotland là Thánh Andrew. Quốc kỳ hình chữ nhật. Nền cờ màu lam sẫm, chính giữa nền cờ là chữ thập màu đỏ viền trắng  tượng trưng cho thần bảo hộ nước Anh là Thánh George


Quốc huy: 


Tấm lá chắn gồm: Ba con sư tử vàng tượng trưng cho nước Anh. Sư tử đỏ tượng trưng cho Scotland. cây đàn màu vàng tượng trưng cho Ireland. Bệ nâng lá chắn có sư tử, ngựa có một sừng. Dòng chữ khắc ở bệ:”Ác giả, ác báo”. Dải trang trí có dòng chữ:  Trời có Thương đế. Ta có quyền lợi.”. Quốc huy hiện nay do Nữ hoàng Victoria  chế địng khi lên ngôi năm 1873.


Quốc ca:    Thần linh phù hộ Nữ hoàng


1. Thượng đế phù hộ Nữ hoàng, chúc Người vạn thọ vô cương. Thần linh phù hộ Nữ hoàng luôn thắng lợi, mãi vinh quang, dân tin phục, lòng sướng vui, trị vì nước, vương vị bền. Thần linh phù hộ Nữ hoàng!


2. Tỏ thần uy, mở lưới trời, bảo vệ vương thất, tiêu diệt quân thù. Phá tan mọi âm mưu, diệt trừ gian đảng, quét sạch mầm loạn. Chúng ta hãy cùng ngưỡng vọng. Thần linh phù hộ Nữ hoàng.


3. Mong Thượng đế ban ân nhiều, chọn tinh phẩm, dốc túi quý, Nữ hoàng vạn tuế!  Mong Người bảo hộ pháp luật, để lòng dân cùng quy thuận, ca lên bài hát chân thành, thần linh phù hộ Nữ hoàng!


Thủ đô :   London


Ngôn ngữ chính thức:  Tiếng Anh, tiếng U-ên, tiếng Gae-lich


Tôn giáo:  Giáo hội Anh (Anh giáo), Thiên Chúa giáo La Mã, đạo Hồi,  đạo Do Thái, Hội giám lý…


Tiền tệ  :  Sterling  (BảngAnh)


 


 


      LÃNG DU TRONG TRIẾT HỌC ANH


                 


Francis Bacon   (1561-1626)   tự nhận nhiệm vụ cải cách triết học và khoa học thời ông. Ông cho rằng lối học từ chương dẫn đến việc người học  được đánh giá theo khả năng  trích dẫn các tác phẩm cổ. Như vậy học thức đã bị ngưng trệ . Lối học truyền thống này, theo Bacon là vô bổ, nó không có phương pháp thích đáng để khám phá xem thiên nhiên là gì và hoạt động ra sao.


 


                                             Phải quan sát, khám  phá


 


Bacon đả kích gay gắt các trường đại học, trong đó có Oxford, Cambrige, ông tố cáo:


-   Các nơi này là nô lệ của quá khứ.


Theo Bacon, các Thần tượng là những bóng ma sai lạc, là những méo mó của trí khôn. Ông chia ra làm 4 lọai thần tượng: Bộ lạc, Hang, Chợ, Sân khấu. Ở Bộ lạc người ta quá chú trọng tới ý kiến, mà không nhìn thẳng vào sự việc. Ở Hang người ta bị nhốt chặt trong môi trường. Ở Chợ người ta ăn nói theo khuôn định kiểu hàng tôm hàng cá để người bình dân có thể hiểu. Ở  Sân khấu người ta dựng cảnh theo giáo điều, theo kiểu cách không thực. Người ta phải sửa chữa tư duy sai lạc này bằng quan sát, thí nghiệm, bằng phương pháp quy nạp.


Triết lý của David Hume   (1711-1776)  là sự phê phán chủ nghĩa duy lý giáo điều của các nhà siêu hình học thế kỷ XVII. Ông là người kinh nghiệm chủ nghĩa. Theo ông, tư tưởng của chúng ta  chỉ là những “bản sao chép”  (hay biểu tượng) của những ấn tượng cảm tính. Tất cả mọi nhận thức  của  chúng ta đều  quy về những liên hệ giữa các ý niệm. Chủ nghĩa kinh nghiệm luận  theo hiện tượng của ông cộng với sự phê phán  thần học tự nhiên và chủ nghĩa duy lý đạo đức dẫn đến chủ nghĩa hoài nghi.


    


                           Cô đơn vô vọng


 


  David Hume từng làm thư ký cho tướng Saint- Clair, bí thư   Sứ quán Anh ở Paris, phó quốc vụ khanh ở London, nhưng trong đầu ông luôn nghĩ:


-   Hãy trở thành nhà triết học, nhưng phải đắm mình trong triết học và phải là con người.


   Khi “đắm mình trong triết học” ông  lại:


-  Khiếp sợ và lo âu vì nỗi cô đơn vô vọng mà hệ thống triết học đẩy tôi vào.


                           


 


LỜI BÌNH:  Bacon cho rằng lối học từ chương dẫn đến việc người học  được đánh giá theo khả năng  trích dẫn các tác phẩm cổ. Như vậy học thức đã bị ngưng trệ . Lối học truyền thống này, theo Bacon là vô bổ. Rồi ông thống kê những căn bệnh của học thức:


-  Những căn bệnh trầm trọng của học thức là học thức viển vông, học thức tranh cãi, học thức tinh vi. Người ta chỉ quan tâm tới ngôn ngữ, văn phong, “đuổi theo các từ ngữ hơn là nộidung”. Học thức tranh cãi còn tệ hại hơn, vì nó bắt đầu với những lập trường và quan điểm cố định  của các nhà tư duy trước, và lấy những quan điểm ấy làm tiền đề tranh luận. Trong học thức tinh vi, tác giả tự khẳng định mình biết nhiều hơn những gì họ có thể chứng minh. Ba căn bệnh này cần được chữa trị để lọai khỏi tâm trí những sai lầm mà chúng tạo ra. Bacon cho rằng, phải thay đổi khi lịch sử sang trang.


                                                                      ***


Ở châu Âu,  việc giao lưu văn hoá giữa các nước diễn ra nhanh, phần vì không có chuyện ngăn cấm, phần khác là các trí thức đều sử dụng thông thạo từ 3 tới 5 ngoại ngữ. Việc chịu ảnh hưởng của nhau thúc đẩy sự phát triển, tránh được việc lặp lại những gì đã phát kiến. Trường hợp Kant và Hume là một ví dụ.


David Hume là nhà triết học có ảnh hưởng tới nhà triết học Đức Imanuell Kant. Kant nói:


-   David Hume đã đánh thức tôi khỏi giấc mơ của chủ nghĩa giáo điều.  


Còn  David Hume cho rằng:


-  Toàn bộ sức mạnh sáng tạo của trí tuệ chỉ được quy về năng lực liên kết, chuyển dịch.


 


        LÃNG DU TRONG VĂN HỌC ANH


        Ngày nay nhắc tới nước Anh là người ta liên tưởng tới kịch của Shakespeare (1564-1616), vì kịch của Shakespeare  là đỉnh cao của nghệ thuật sân khấu thế giới. Kịch của ông ngày nay vẫn được diễn, quay thành phim, nó có ảnh hưởng lớn đến sân khấu hiện thực.


Cuộc đời sáng tác của ông chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất từ 1600 trở về trước (chủ yếu là hài kịch và kịch lịch sử), giai đoạn thứ hai từ 1600 tới 1608 (chủ yếu là bi kịch), giai đoạn thứ ba từ 1608 tới 1612 với không khí thần thọai nên thơ. Ngoài kịch Shakespeare còn viết 150 bài thơ sonnette là thơ tình và thơ tư duy.


Người viết sách này đã từng xem những vở kịch sau của Shakespeare trong thời gian học ngữ văn Đức ở ĐHTH Karl Marx  (1968-1974)  thành phố Leipzig (Đức): “Giấc mộng đêm hè”  (A  Midsummer Night’s Dream,  1595);  “Người  lái buôn thành Venice”  (The Merchant of Venice, 1596),  “Richard Đệ nhị”  (Richard II, 1595),  “Julius  Ceasar” (1599);  “Romeo và Juliet” (Romeo and Juliet, 1594);  “Hamlet” (1600); “Macbeth”  (1600);  “Vua Lear” (1605);  “Othello”  (1604);  “Đêm thứ mười hai” (Tweilfth Night, 1602).


Shakespeare là văn hào lớn cuối cùng  của tư tưởng nhân văn trong trào lưu văn nghệ phục hưng ở châu Âu từ giữa thế kỷ 14 tới đầu thế kỷ 17. Đề tài kịch của ông  lất từ cốt chuyện của Đan Mạch, Italia, Anh .v.v. nên đa dạng, phong phú, đả phá tư tưởng phong kiến, tôn giáo, phản ánh sự thống trị của đồng tiền trong giai đọan đầu của chủ nghĩa tư bản.


 


TỪ VUA  LEIR TRUYỆN CỔ DÂN GIAN ANH ĐẾN BI KỊCH VUA LEAR CỦA SHAKESPEARE 


Năm 1585, ở tuổi 21, Shakespeare rời quê hương Stratford đến kinh thành London với hai bàn tay trắng và lòng đam mê sân khấu. Cũng giống Molière, Shakespeare cũng là diễn viên (năm 1594 ông là diễn viên đoàn kịch của bá tước vùng Leicester), tác gia kịch bản kiêm đạo diễn. Để lấp khoảng trống  kiến thức của mình, ông có cuốn sách gối đầu giường là Biên niên sử nước Anh, Ailen, Scốtlen  (England, Irlang, Schottland). Bổ sung cho kiến thức văn hóa cổ  đại La Mã, ông đọc bộ sách nổi tiếng  Truyện danh nhân của Plutarque. Shakespeare học hỏi được rất nhiều ở bộ tự điển sống – học giả Italia Giovannie Florio đang sống lưu vong ở London. Bá tước Southampton đã bắc nhịp cầu  để  Shakespeare đến với xã hội thượng lưu quý tộc London. Vốn kiến thức về nước Pháp, văn hóa Pháp, Shakespeare có được nhờ việc kết giao với một thương gia Pháp đang sống ở London. Không những thế, Shakespeare còn lắng nghe học hỏi nghề ngfhiệp sân khấu ở nơi các diễn viên, ở công chúng xem kịch. Tất cả những điều nói trên là nguồn sữa tươi mát vô tận cho những cảm hứng sáng tạo  của kịch gia Shakespeare. Kịch của  Shakespeare  mang *hồn thời đại,  luôn đáp ứng được mong đợi của người xem.


Nguyên thủy  Vua Leir  (Lear) là truyện cổ dân gian Anh. Vua Leir có 3 con gái là Gonorilla,  Regan, cô út tên là Cordeilla. Theo truyền thống cổ xưa ở nước Anh (Pháp, Đức cũng vậy), khi vua cha già yếu thì chia đều giang sơn cho các con. Theo tục lệ đó nên giang sơn vua Leir chia làm 3 phần đều nhau cho 3 con gái. Trong truyện cổ dân gian Anh thì câu chuyện xoay quanh Thiện-Ác. Làm việc Thiện sẽ được thưởng công xứng đáng. Làm việc Ác sẽ bị trừng phạt. Vào năm 1135, Georffrey of Monmouth xuất bản   Historia regum  Brintanniae von Leir, đây là một biến thái ( Maerchenvariant của King-Leir - truyện dân gian Vua Leir). Để thử thách tình thương của 3 con gái với vua cha. Vua Leir đặt câu hỏi, Ai trong số 3 con yêu quý vua cha nhất?   Hai cô chị dùng mọi lời lẽ để tỏ lòng yêu quý cha. Cô út trả lời ngắn gọn:  Con quý cha như muối ăn. Nhà vua chia giang sơn làm hai và sống với hai con gái lớn. Vua nổi giận vì lời nói mộc mạc chân thành của cô con út (vì vua quen nịnh với những mỹ từ, lời nói mộc mạc chân thành chỉ dùng nơi sinh hoạt bình dân). Cô con út không được chia phần nên sống trong cảnh nghèo túng. Hai chị lấy chồng, truất hết mọi thứ. Vua Leir rơi vào cảnh cô đơn túng quẫn. Cô út lấy vua nước Pháp liền cùng chồng là Aganippus giúp vua cha lấy lại giang sơn. 3 năm sau, vua Leir băng hà . Vợ chồng cô út nối ngôi. Đây là kết thúc có hậu kiểu truyện cổ dân gian: họ vui sống bên nhau tới khi tóc bạc, răng long.


Vào cuối thể kỷ 16, văn nghệ sĩ Anh làm sống lại đề tài King Leir. J. Higgins viết  bi kịch The  Mirour  for Magistrates, containning the fallesof the first infomate Princes of this lande năm 1574. Dựa trên cốt truyện dân gian Vua Leir các nhà văn Anh khác như E. Spencer, cũng có sáng tác xoay quanh chủ đề này. Năm 1606,  Shakespere cũng dựa trên cốt truyện dân gian  King Leir   viết bi kịch  King Lear. Đây là một biến thái mang hồn thời đại    Shakespeare đang  sống của King Lear (King Lear-Maerchenvariant).


Các sử gia Anh  gọi thời kỳ Nữ hoàng Elisabeth I  là thời kỳ  Nước Anh vui vẻ  (The merry England). Nhờ hoạt động thương mại, nên London kinh đô nước Anh trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước Anh và của cả châu Âu với những biến động dữ dội (mâu thuẫn giai cấp gay gắt)  của thời kỳ quá độ  (Uebergangsphase) từ chế độ phong kiến sang tư bản chủ nghĩa. Tuy phát triển sau Italia, Pháp, Tây Ban Nha, nước Anh thế kỷ 16 đã nhanh chóng trở thành một  quốc gia tư bản điển hình:phân hóa xã hội, cách biệt giàu nghèo, đồng tiền chi phối nhân phẩm .v.v. Ánh sáng và bóng tối thể hiện rõ nét. Tình hình trên để lại dấu ấn trong văn học nghệ thuật Anh đương thời. Tính thần bí, tôn giáo trong văn học nghệ thuật nhường chỗ cho giáo dục luân lý, đạo đức. Kịch là thể loại thích hợp nhất lúc này, vì nó tác động trực diện tới công chúng. London chỉ có 2 vạn dân, nhưng có tới một chục rạt kịch. To là rạp Thiên Nga và Địa cầu. Rạp Địa Cầu của Shakespeare có tới 3.000 chỗ ngồi. Bi kịch Vua Lear là một trong bốn bi kịch lớn của Shakespeare  (Hamlet: trả thù, Othello: lòng ghen tuông,  Macbeth: nỗi tham vọng, vua Lear: sự phản trắc). Nó cho ta thấy phản trắc hoành hành: Vua Lear bị hai con gái đuổi ra khỏi lâu đài giữa đêm gió gào bão rít, sau khi chia hết gia tài cho người con này. Bá tước Gloucester chứa chấp nhà vua, bị đứa con ngoài giá thú mà ông thương yêu, tin cậy Edmund tố cáo tội chứa chấp vua Lear nên bị con rể vua Lear là   Cornwall chọc mù cả hai mắt và bị đuổi đi. Khi điên, ở trong túp lều rách nát giữa đồng với những kẻ áo manh –những  người bần cùng trong xã hội,   vua Lear tỉnh ngộ,  trở nên sáng suốt hơn, thấu hiểu nhân tình thế thái mà kêu gọi công bằng xã hội:


-    Ôi những kẻ áo manh,…  làm sao  các người  chống chọi nổi  với thời tiết phũ phàng cay nghiệt? ... Hỡi những kẻ sống xa hoa, hãy lấy đây làm thuốc đắng. Hãy dấn thân mà chung nếm khổ với kẻ nghèo hèn, hãy biết san sẻ  bớt những của thừa dùng cho trời khỏi mang điều bất công vô lý.


Cảnh những đứa con bất hiếu như Goneril, Regan, kẻ phản nghịch như Edmund bị trời chu đất diệt mang ý nghĩa giáo huấn về luân lý đạo đức, về tình trong đạo làm người. Nó như lời cảnh báo xã hội đương thời:  Trời có mắt, có tai. Phản trắc là con đường nhanh nhất để gia tăng của cải, uy quyền, nhưng cũng là con đường dẫn tới tự hủy diệt nhanh nhất. Trời không dung tha cái Ác, trừng phạt những kẻ phản trắc!


Shakespeare mượn cốt chuyện xưa, thêm nhân vật và tình tiết. Câu chuyện mang dáng dấp chuyện xưa lại mang hơi thở của thời nhà văn sống. Nên tuy là cốt chuyện xưa, nhưng vở bi kịch này lại mang hồn thời đại, bi là chính, nhưng có cả yếu tố hài: Ác áp đảo hoành hành mọi chỗ, mọi nơi, nhưng luật đời nhân quả vẫn còn đó. Trong bi kịch Vua Lear có hai tuyến nhân vật  tạo nên sự tương phản (Kontrast) giữa tốt và xấu, giữa Thiện  (Cordelia, Kent, Edgar)  và Ác (Goneril, Regan, Edmund, Cornwall), nhưng rồi Goneril giết Regan và tự sát. Edgar đánh bại Edmund. Cornwall bị đâm chết bởi người hầu trung thành với Gloucester. Nhưng thời Shakespeare , tuy Ác thất bại, nhưng Thiện cũng chưa phải là thắng, nên Shakespeare để Kent hỏi, khi vua Lear ôm xác con gái Cordelia trên sân khấu:


-   Đây có phải là một kết thúc đã được hứa hẹn hay không?  (Is this the promised end?)


Nhìn cảnh Cordeila bị treo cổ, vua Lear chết, Kent đi vào cõi vĩnh hằng, Edgar thốt lên:


-    Chúng ta phải gánh vác trách nhiệm của thời khắc đau buồn này. Hãy nói những gì ta nghĩ, chứ không phải những gì ta buộc phải nói. (The weight of this sad time we must obey, Speak what we feel, not what we ought to say).


 


 


 


LỜI BÌNH:  Khoảng thời gian 1580-1642 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ và đạt tới đỉnh cao nhất trong lịch sử sân khấu Anh. Trước Shakespeare nền kịch Anh có 2 xu hướng với những đại diện là John Lyly, với chủ đề cảnh thơ mộng, tình yêu éo le với kết thúc có hậu kiểu thần thoại, truyền thuyết (như vở hài kịch Campaspe của Lyly) và Christopher  Marlowe (1564-1593) với chủ đề hận thù (làm cho sân khấu đầy nước mắt và máu)  và khát vọng (kích động tham vọng chinh phục như Câu chuyện bi kịch của Tiến sĩ Faustus -  The tragical history of Dr. Faustus). Hai kịch tác gia này là tác gia lớn của kịch trường nước Anh trước Shakespeare. Shakespeare biết kế thừa gia sản hai khuynh hướng trên, vận dụng sáng tạo và thành công, tạo nên phong cách riêng – phong cách Shakespeare.


Shakespeare là văn hào lớn cuối cùng  của tư tưởng nhân văn trong trào lưu văn nghệ phục hưng ở châu Âu từ giữa thế kỷ 14 tới đầu thế kỷ 17. Đề tài kịch của ông  lất từ cốt chuyện của Đan Mạch, Italia, Anh .v.v. nên đa dạng, phong phú, đả phá tư tưởng phong kiến, tôn giáo, phản ánh sự thống trị của đồng tiền trong giai đọan đầu của chủ nghĩa tư bản.


Trong lịch sử của ngành kịch phương Tây có hai khuynh hướng:


1.xây dựng nhân vật như mẫu người phát ngôn  cho tinh thần, tư tưởng của thời đại. Khuynh hướng này được gọi là Schiller hóa.


2. cá thể hóa nhân vật triệt để như Hegel từng đòi hỏi (nhân vật phải là “một con người hoàn mỹ, có sinh khí”). Khuynh hướng này được gọi là Shakespeare hóa.


Mỗi nhân vật của Shakespeare là “một con người”, rất khác nhau trong suy nghĩ, trong tính cách, trong lối sống. Tất cả tạo thành “vạn tâm hồn” và thể hiện rõ nét tinh thần thời đại. Hoàn cảnh của nhân vật trong kịch Shakespeare  đã được điển hình hóa trên cơ sở chất liệu hiện thực. “Cùng báo thù cho cha, nhưng Hamlet rất khác với Lauste,  cùng có tình yêu mãnh liệt nhưng Juliet  đâu có giống  Orphelia, cùng tham quyền cố vị  nhưng Richard III tàn bạo, xảo quyệt, đầy nghị lực”


(còn tiếp)


Nguồn: Lãng du trong các nền văn hóa. Biên soạn: Lương Văn Hồng. NXB Văn học sắp xuất bản.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »