tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
21.10.2010
Lương Văn Hồng
Lãng du trong các nền văn hóa (3)

  ẤN ĐỘ 


Tên nước:  Cộng hòa Ấn Độ


Ấn Độ nguyên là quốc gia  Veda, do vương triều quốc gia Veda thành lập thời cổ đại. Người Ân Độ cổ đặt tên cho một con sông là Hindu (tiếng Ba Tư cổ gọi là Indu, tiếng Hy Lạp cổ gọi là Indi, người La Mã  gọi là Indus, người Anh gọi là India. Đất nước được gọi theo tên con sông  India (sông Ấn).


Thời Hán, người Trung Hoa gọi Ấn Độ là     Thân Độc,  Thiên Trúc.


Ấn Độ là một quốc gia thống nhất từ thế kỷ 4  trước Công nguyên. Cộng hòa Ấn Độ có chính thức thành lập ngày 26.1.1950


Khẩu hiệu:   Sự thật tự nó thắng


Diện tích:  3.287.365 km2


Dân số:    1 tỷ  89 triệu người


Quốc khánh  26.1


Quốc ca  Người là đấng thống trị tất cả lòng người.


     Nhạc và lời: Rabindranath  Tagore. Vũ Hải dịch


Người là đấng thống trị tất cả lòng người. Đấng ban vận nước, tên của người làm cho cả  nước phấn chấn:  Punjab, Sind, Gujrat,  Maratha, Aurisa, Bengal, Vitina, Himalya,  vang vang tiếng vọng. Sông Jumma, sông Hằng tấu nhạc, đáp lời, sóng nước Ấn Độ dương hát bài ca, ca ngợi Người, chúc mừng Người, tất cả mọi người đều mong chờ Người, cứu giúp Người là Đấng thống trị tất cả lòng người, là Đấng ban vận nước, thắng lợi, thắng lợi dưới tên Người. Hoan hô Jaya!  Hoan hô Jaya!  Hoan hô Jaya Jaya   Jaya  Jaya   Jaya! 


Quốc kỳ


hình chữ nhật với ba sọc màu cam, màu trắng , màu lục nằm ngang. Chính giữa nền vcờ màu trắng là  bánh xe Phật pháp màu lam với 24 nan hoa. Màu cam tượng trưng cho lòng dũng cảm, tinh thần hy sinh thân mình, màu cam cũng là màu pháp y của giáo đồ Phật giáo. Màu trắng tượng trưng cho thuần khiết và chân lý. Màu lục  biểu thị lòng tin. Bánh xe Phật pháp là bánh xe linh thiêng, bánh xe chân lý. Quốc kỳ này chính thức sử dụng ngày 26.1.1950 khi Ấn Độ tuyên bố là Cộng hòa Ấn Độ.


Quốc huy


là bốn con sư tử đứng châu lưng vào nhau quay về 4 phía, đứng trên bệ đài hình tròn. Sư tử tượng trưng cho lòng tin, uy nghiêm, dũng khí và sức mạnh. Quanh vòng tròn bệ đài là 4 con thú canh giữ  4 hướng: hướng tây là con bò, hướng đông là voi, hướng bắc là sư tử, hướng nam là ngựa. Xen giữa 4 con thú là bánh xe Phật pháp.


Thủ đô New Delhi


Ngôn ngữ chính thức:  Tiếng Anh, tiếng Hindi


Tôn giáo:  Đạo Hin-đu 80,5 %;   đạo Hồi;  đạo Thiên Chúa giáo ...


Đơn vị tiền tệ:  Rupee


 


LÃNG DU TRONG TÔN GIÁO ẤN ĐỘ


Ấn Độ là nước đa tôn giáo. 80,5% dân số theo Hindu giáo,  tín đồ Hồi giáo chiếm 13,4% dân số. Các nhóm tôn giáo khác gồm Thiên chúa giáo (2,3%), đạo Sikh (1,84%), Phật giáo (0,76%), Đạo Jai-na (0,40%), Do Thái giáo, Hỏa giáoBahá'í[5].


ẤN  GIÁO  (đạo Hindu)


   (tiếng Pháp:  Hindouisme;  tiếng Anh:  Hindouism)


4.000 năm trước Công nguyên  tín ngưỡng,  quan niệm về cuộc sống và đạo lý đã hình thành trong cuộc sống tinh thần của người Ấn Độ cổ đại. Điều đó có ghi trong Kinh Veda. Tín ngưỡng của người Ấn Độ cổ đại mang tính đa thần  (thần Trời, thần Đất, thần Lửa, thần Gío, thần Rắn, thần Bò, thần Khỉ  v.v…). Theo dòng thời gian cùng với những chuyển biến, thay đổi trong xã hội, những gì không còn thích hợp trong tín ngưỡng bị loại bỏ bớt đi. 3.000 năm trước Công nguyên xuất hiện ở Ấn Độ đạo Veda (Vedaisme). Đạo Veda suy tàn vào năm 1.500 trước Công nguyên. Thay thế vào đó là đạo Balamon (Brahmanisme) với Kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishat). Theo Kinh Áo Nghĩa Thư thì Brahman   là siêu nhiên tối linh là linh hồn vũ trụ. Ấn Độ giáo (Hindouism) hình thành trên cơ sở  giáo lý cơ bản của đạo Balamon, đạo Veda. Ngày nay, trên thế giới có 811 triệu tín đồ Ấn giáo. Tín đồ Ấn giáo chiếm 80,5% dân số Ấn Độ, 19% dân cư Srilanca, 18%dân cư Bangladet. Ấn giáo đứng hàng thứ ba trong các tôn giáo đông tín đồ.


Ấn giáo là tôn giáo không có người sáng lập (giáo chủ), là tôn giáo của dân tộc Ấn Độ, hình thành khoảng 1.500 tới 1.000 trước Công nguyên trên cơ sở hỗn dung tín ngưỡng của người Aryan (kẻ xâm lược) và của người bản địa  Dravidian (người Ấn Độ chính gốc, có nước da sậm, có khuynh hướng thần bí). Ấn giáo mang đặc trưng đa thần. Ba vị thần tối thượng của Ấn giáo là Thần bảo vệ Vishnu; thần hủy diệt và tái tạo Civa; Thần sáng tạo Brahman. Tín đồ Ấn giáo còn thờ các thần khác và có tục thờ cúng tổ tiên. Theo thuyết luân hồi của Ấn giáo, khi con người chết, linh hồn rời khỏi xác, sẽ hóa kiếp hoặc lên đẳng cấp cao hơn hay thấp hơn, thành người nhà Trời hay phải làm kiếp động vật , thực vật. Theo thuyết Nghiệp của Ấn giáo, số phận mình do chính hành vi của bản thân con người mình tạo nên. Ấn giáo khuyến khích làm phúc, làm việc thiện. Ấn giáo nói, con đường giải thoát cho mỗi người là thiền định Yoga.


Ấn giáo là tôn giáo đa thần, không có trung tâm lãnh đạo (như Vatican của Thiên chúa giáo)  nên ở thời hiện đại nảy ra sự phân ly thành nhiều giáo phái, học phái, như phái Vishnu ở miền Nam Ấn Độ:  ăn chay, khổ hạnh, xa rời tình dục; phái Siva ở vùng Tamil, Casmir: sùng bái sức mạnh thần bí tính lực; phái Ramakrina ở Calcuta kêu gọi tinh thần kháng „ác“ để đập tan sự kìm kẹp về tinh thần của phong kiến và thực dân.


Sự chuyển biến cùng thay đổi lớn trên thế giới cũng như ở Ấn Độ dẫn đến hình thành Ấn giáo mới (Néo-Hindouism): loại bỏ những chuẩn mực đã lỗi thời về quan hệ xã hội giữa các tầng lớp khác nhau.


 


PHẬT GIÁO


Người sáng lập ra đạo Phật – Buddhismus là thái tử Siddhartha (563-483) con vua  Suddhodana và hoàng hậu Maya. Năm hai mươi tuổi, thái tử bỏ cung vàng điện ngọc  để đi tìm đạo cứu đời. Năm ba mươi lăm tuổi, sau bốn mươi chín ngày nhập định  ở Buddh Gaya, Siddhartha đã nhận ra bản chất  của sự tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và tìm ra con đường giải thoát mọi khổ đau. Sau bốn mươi lăm năm  truyền bá đức tin của mình, sau khi mất, Siddhartha  được gọi là Buddha- người giác ngộ dưới gốc cây bồ đề (tiếng Việt ta thường gọi là  Phật Thích Ca Mâu Ni).


Đạo Phật là một triết lý không thừa nhận brahman (thượng đế) và atman (đẳng cấp). Đạo Phật cho rằng, mọi người bình đẳng, ai cũng có phật tính và có thể trở thành Phật. Vạn vật là vô thường, luôn luôn biến chuyển  theo luật nhân quả, sinh ra (thành sắc) và diệt đi (thành không), tuần hoàn không ngừng. Số phận (Nghiệp)  con người là do bản thân  con người tạo ra và tự mình chịu trách nhiệm.


Cốt lõi của đạo Phật là bốn chân lý lớn: 1. Cuộc sống là bể khổ;  2. Nguyên nhân của nó là lòng tham, sự tức giận, sự ngu si  (tham, sân, si/vô minh);   3. Diệt khổ là diệt những nguyên nhân ấy;  4.Con đường giải thoát là  tu luyện theo bát chính đạo (hiểu biết đúng đắn, chí hướng đúng đắn, thật thà- không nói sai trái, suy nghĩ-ứng xử đàng hoàng, sống lương thiện, tâm niệm đúng đắn, định tâm đúng đắn).


 


                          Tứ diệu đế


Giáo lý cơ bản của đạo Phật là bốn chân lý lớn (thường gọi là tứ diệu đế). Tương truyền, sau khi giác ngộ (chân lý), Siddhartha giáo hoá chúng sinh  bằng tứ diệu đế (1. khổ đế; 2.Tập khổ đế; 3.Diệt khổ đế; 4.Đạo đế) tại Lộc uyển:


-    Này các tỳ kheo , đây chính là Khổ thánh đế: sinh ra là khổ, bệnh là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ, thân ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại năm uẩn chấp thủ là khổ.


-    Này các tỳ kheo, đây chính là Tập khổ thánh đế. Chính là ái đưa đến hữu, tương ứng với hỷ và tham, tìm cầu hoan lạc chỗ này chỗ kia, chính là dục ái, sinh ái, vô sinh ái.


-  Này các tỳ kheo, đây chính là Diệt khổ thánh đế. Chính là sự diệt tận, vô dục, từ bỏ, xả li, giải thoát, tự tại đối với các ái.


-   Này các tỳ kheo, đây chính là Đạo diệt khổ thánh đế, đưa đến diệt Khổ, chính là con đường thánh tám ngành:  chính kiến;  chính tư duy;  chính ngữ ; chính nghiệp;  chính mệnh;  chính tinh tiến;  chính niệm;  chính định.


                        (bản dịch của Thích Minh Châu)


 


LỜI BÌNH:  Ấn Độ giáo  là tôn giáo cổ xưa nhưng còn tồn tại ngày nay trên thế giới. Đó là điều làm chúng ta ngạc nhiên. Ở Ấn Độ, các hoạt động tôn giáo theo nhiều đức tin khác nhau diễn ra trong đời sống xã hội với tinh thần tôn trọng mọi tín ngưỡng . Các giá trị gia đình truyền thống (gia đình là hạt nhân xã hội) Ấn Độ vẫn lưu giữ trong sinh hoạt gia đình, xã hội      Người Ấn Độ  luôn tìm cách giữ gìn những truyền thống của mình trong suốt thời kỳ lịch sử trong khi vẫn hấp thu các phong tục, truyền thống và tư tưởng từ phía cả những kẻ xâm lược và những người dân nhập cư. Văn hóa Ấn Độ  là kết quả của một truyền thống hợp nhất mọi yếu tố từ mọi phần của quốc gia.


Dù là người bình dân hay là nhà khoa học,  tín đồ Ấn giáo coi niềm tin tôn giáo là một giá trị lớn.,  niềm tin trong sáng này bắt rễ sâu xa trong chủ nghĩa nhân bản và chủ nghĩa vũ trụ phổ quát. Mặc dù tín đồ Phật giáo chỉ chiếm 0,76% dân số Ấn  Độ, nhưng   Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới. Đạo Phật có khoảng 300 triệu tín đồ. Hai giáo phái chính của đạo Phật là Hyajana  (Tiểu Thừa/Nam Tông) phát triển ở phía Nam (Srilanca, Myanma, Thái Lan, Lào, Camphuchea)  và Mahajana  (Đại thừa/Bắc Tông) phát triển ở phía Bắc  (Trung Quốc,  Mông Cổ, Nhật Bản, Việt Nam).


 Dân tộc Ấn Độ và dân tộc Trung Hoa là hai dân tộc có nền văn minh lâu đời, đồng thời là hai dân tộc giữ được mạch sống văn hóa từ khởi thủy tới ngày nay.


LÃNG DU TRONG VĂN HỌC ẤN ĐỘ


TỪ TRUYỀN THUYẾT ẤN ĐỘ SHAKUNTALA   ĐẾN KỊCH THƠ TÌNH YÊU SHAKUNTALA   CỦA THI HÀO ẤN ĐỘ KALIDASA  


Nhà thơ, nhà viết kịch bằng tiếng Sankrit , nhà văn hóa lớn Kãlidãsa  (Kãlidãsa tiếng Bengal có nghĩa:  Kẻ hầu cận của Nữ thần / Diener der Goettin)   được coi là một trong “chín viên ngọc quý” của triều đình *Vikramadya thuộc triều đại Gupta  (320-480, triều  đại lừng lẫy nhất trong lịch sử Ấn Độ.


SHAKUNTALA  là vở kịch nổi tiếng của nhà thơ Kalidasa và là vở kịch hay nhất trong lịch sử văn học Ấn Độ. Dựa theo truyền thuyết Shakuntala của văn học dân gian Ấn Độ kể về mối tình hồn nhiên trong sáng giữa nhà vua trẻ Dusyanta  (nghĩa: Mãnh hổ) và sơn nữ Shakuntala- một mối tình  rất thơ mộng,nhưng cũng đầy gian nan- một mối tình vượt ra ngoài lễ giáo phân biệt đẳng cấp khắt khe đương thời. Kalidasa cải biên, thêm chi tiết để phù hợp  với sân khấu Triều đình, muốn làm nổi bật đề tài tình yêu. Shakuntala là kịch  thơ 7 hồi, viết theo  những quy tắc chuẩn mực của kịch cổ điển cung đình Ấn Độ: tính triết lý và tôn giáo sâu sắc,  phân biệt rõ chính – tà, khí phách hào hùng để tăng lòng sùng kính với thần thánh và quốc vương,  phải nhân bản khi kết thúc (kết thúc có hậu), phải viết bằng tiếng Sankrit, phải kết hợp nhuần nhuyễn  các quy phạm sân khấu dân gian.


Hồi 1:   Vua trẻ Dusyanta cùng đoàn tùy tùng đi săn trong rừng, mải đuổi theo con hươu nên lạc vào vườn tu của đạo sĩ Kanva. Đạo sĩ không có nhà. Nhà vua  gặp con gái nuôi của đạo sĩ. Vẻ đẹp tươi tắn cùng „đôi mắt sáng long lanh đen láy“, nụ cười nở trên môi đỏ thắm của  sơn nữ hút hồn nhà vua trẻ.


Hồi 2:   Nhà vua bàn với anh hề Madavia, làm sao có thể nán lại trong khu vườn để tỏ tình với sơn nữ. Đúng lúc đó thì nhà vua nhận được lệnh của Đức Thái hậu phải về triều làm lễ cầu phúc. Nhà vua cử anh hề thay mặt mình trong lễ cầu phúc.


Hồi 3:  Bị tiếng sét ái tình, nên sau khi gặp nhà vua trẻ, sơn nữ ốm tương tư.Các bạn gái đồng trang lứa bố trí cho cặp tình nhân sống bên nhau, kết hôn theo tục Gandarava  (trai gái kết hôn bỏ qua quyền của cha mẹ). Đang lúc hạnh phúc tràn trề thì bỗng nhà vua nghe tiếng thiên thần nhắn nhà vua mau trở về đi dẹp loạn.


Hồi 4:   Để làm tin nhà vua tặng sơn nữ chiếc nhẫn khắc tên Dusyanta. Trong những ngày trông ngóng nhà vua thì có lần đạo sĩ Durava ghé vào vườn tu xin nghỉ lại. Đang lúc


 


lo buồn nên Shakuntala không cúi chào đạo sĩ. Bực mình, đạo sĩ niệm thần chú rằng người yêu của Shakuntala sẽ lú lẫn, quên hết lời thề khi trước. Các bạn gái xin đạo sĩ lượng thứ, giảm tội cho Shakuntala. Đạo sĩ bằng lòng giảm, người yêu sẽ sực nhớ lời thề khi xưa khi nhìn thấy chiếc nhẫn. Lúc này Shakuntala đang mang thai nên các bạn gái giữ kín câu nguyền của đạo sĩ  Durava. Khi cha nuôi Kanva về nhà thì nghe tiếng thiên thần báo, Thiên  đình thuận  cho Shakuntala kết duyên với vua Dusyanta và sẽ sinh một hoàng tử. Cha nuôi – đạo sĩ Kanva phái sơn nữ Gotami cùng một số bạn gái đưa Sakountala tới hoàng cung. Buổi chia tay đầy quyến luyến giữa cỏ hoa muông thú.


Hồi 5:  Shakuntala vào hoàng cung. Nhà vua không nhớ  nên không nhận ra sơn nữ khi xưa. Khi các bạn gái nhắc tới cái nhẫn, thì mới biết đã đánh rơi ở sông Hằng. Nhà vua nổi giận, nhưng vì tục lệ nên Shakuntala phải ở lại. Nàng sống trong cô đơn tuyệt vọng, cầu xin thiên thần cho mình về với Đất mẹ. Một đám mây kéo tới cuốn nàng đi.


Hồi 6:   Một ngư dân  khi mổ bụng cá,  thấy chiếc nhẫn trong bụng con cá và đem nộp cho nhà vua. Nhìn thấy chiếc nhẫn của mình, Dusyanta sực nhớ tới chuyện xưa, nhớ tới sơn nữ Shakuntala.


Hồi 7: Dẹp loạn ma quỷ  thắng lợi, Dusyanta được gặp Kasyapa và Aditi, nhận thưởng công trạng. Dusyanta gặp lại nàng Shakuntala vợ mình cùng đứa con tuấn tú có khả năng thuần được mãnh thú. Họ trở về hoàng thành trong lễ đón tưng bừng của dân chúng. Hoàng tử Bharata (nghĩa: được trìu mến) lên thay vua cha trị vì thiên hạ.


Trong kịch Shakuntala, Kalidasa thêm tình tiết tặng nhẫn, lời nguyền của đạo sĩ Daruva, tình tiết rơi nhẫn ở sông Hằng, Shakuntala trở về với Đất mẹ. Một ngư dân mổ bụng cá thấy chiếc nhẫn, đem nộp nhà vua, tình tiết dẹp loạn và nhận thưởng cũng là tình tiết Kalidasa thêm vào trong kịch, ở trong truyền thuyết không có chi tiết này. Trong truyền thuyết chỉ là một lệnh do thiên thần gửi tới nhà vua. Nhà vua tỉnh ngộ, đoàn tụ cùng vợ con. Kịch thơ Shakuntala  của Kalidasa mang tinh thần Hindu giáo, kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tính sử thi của anh hùng ca và tính trữ tình, thấm đượm tính nhân bản, với khát khao tình yêu trong sáng và chung thủy.


Trong kịch  Shakuntala , nhà thơ vận dụng và phát triển tính hình ảnh và tính uyển chuyển của thơ ca Sankrit, của văn học dân gian để ca ngợi tình yêu lứa đôi, tình yêu thiên nhiên, tình yêu đất nước.


 Kịch cổ Ấn  Độ thường đề cập đến những mối tình hồn nhiên, trong sáng đầy ma lực như những tiếng sét ái tình mà người Ấn Độ cho là thiêng liêng cao quý. Shakuntala là tuyệt tác của văn học  Ấn Độ, là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ văn nghệ sĩ  Ấn Độ. Người ta  ngâm thơ, ca múa bằng thơ của kịch, dựng phim theo kịch .


William John dịch kịch Shakuntala sang tiếng Anh năm  1789. Năm 1791, kịch được Georg Forster dịch từ tiếng Anh sang tiếng Đức. Nhà văn Nga Caramdin dịch kịch Shakuntala sang tiếng Nga năm 1792. Kịch thơ Shakuntala được dịch sang tiếng Việt  năm 1962 và được Đoàn chèo Trung ương Việt Nam đưa lên sân khấu năm 1982.


Shakuntala là một trong những kiệt tác của văn học thế giới. Nhà văn Nga Caramdin, người đại diện cho chủ nghĩa tình cảm Nga nói:


Đối với tôi, Kalidasa cũng vĩ đại như Homer (của Hy Lạp).


Kịch thơ Shakuntala đã gây ấn tượng mạnh nơi các nhà văn Đức, đại văn hào Đức Johann Wolfgang Goethe ca ngợi:


-    Nếu muốn có một tiếng ôm ấp được cả hoa mùa xuân và quả mùa thu/  Một tiếng làm đắm say, nuôi dưỡng và thỏa mãn được tâm hồn/ Nếu muốn có một tiếng bao gồm được cả trời đất/ Thì tôi gọi Shakuntala/  Tiếng đó nói lên tất cả!


 


Rabindranath Tagore  (1861-1941)  là nhà văn hóa lớn Ấn Độ. Ông xuất thân trong gia đình quý tộc Ba La Môn có nhiều người là nhân tài của đất nước Ấn Độ. Cha là Debendranath Tagore, một triết gia đồng thời là nhà cải cách xã hội. Tagore nổi tiếng thông minh từ thưở nhỏ:  8 tuổi đã làm thơ,  11 tuổi dịch kịch Macbeth của William Shakespeare ra tiếng Bengal.


Tagore yêu nước, yêu hòa bình, có lòng nhân đạo sâu sắc. Ông coi trọng truyền thống văn hóa Ấn Độ, biết kết hợp văn hóa Đông và Tây: 1901 mở Trường Santiniketan cho con em nông dân học. 1921 mở Trường đại học Visva – Bharati để cho thanh niên thế giới đến tìm hiểu văn hóa Ấn Độ.


Tagore để lại 52 tập thơ,  42 vở kịch, 12 bộ tiểu thuyết.


Những tập thơ nổi tiếng là  Người làm vườn (1914);   Tặng phẩm của người yêu (1914);   Trăng non (thơ trẻ em , 1915. Nổi tiếng nhất là tập  Thơ dâng (1912);  Tập Thơ dâng được coi là kỳ công thứ hai của văn học Ấn Độ (sau kịch thơ Shakuntala của Kalidasa). Những tác phẩm tiêu biểu khác của Tagore là  kịch Lễ máu (1890); kịch Phòng bưu điện  (1913);  tiểu thuyết Đắm thuyền (1906);  tiểu thuyết Gora  (1910).


Rabinarath Tagore là nhà thơ lãng mạn trữ tình, một “ngôi sao sáng của Ấn Độ thời Phục hưng. Ông kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống yêu nước và nhân bản của Ấn Độ với tinh hoa văn hóa phương Tây làm giàu thêm tinh hoa  văn hoá Ấn Độ. Monhandas Karamchand “Mahatma” (tâm hồn vĩ đại)Gandhi (1869-1948) – lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ, gọi Tagore là “người thầy vĩ đại, người lính gác vĩ đại của Ấn Độ. Thi sĩ Rabindranath Tagore  nhận giải thưởng Nobel văn học năm 1913.


 


THƠ DÂNG (Gitanjali)


Thơ dâng là tuyển tập chọn trong số những bài thơ của  Tagore sáng tác năm 1900 viết bằng tiếng Bengal, rồi chính nhà thơ dịch 103 bài thơ của mình ra văn xuôi tiếng Anh. Đó là những bài thơ nhỏ không đề. Thi sĩ muốn dâng cho cuộc đời nguyện vọng và lý tưởng cao đẹp của mình. Ông khinh bỉ hèn nhát, ghét tàn bạo. Ông cho rằng, người ta cần rèn luyện sức mạnh tinh thần, trau dồi tính cao thượng, trong sáng để phụng sự Cuộc đời và Con người. Tập thơ phản ánh nỗi buồn do tàn phá, chia ly trên đất nước Ấn Độ, đồng thời cho thấy nguồn cảm hứng bất tận bởi ánh sáng, niềm vui, tình yêu và khát vọng. Theo Tagore,  Thượng đế không phải là đấng cao siêu, huyền bí. Thượng đế hiện thân là cuộc sống lao động:


 Thượng đế ở xa kia,


Nơi thợ cày nai lưng


Cày đất cằn sỏi cứng


Thượng đế ở cạnh người làm đường


Đang đập đá


Thượng đế cùng với họ vất vả


Dãi nắng, dầm mưa


Áo quần lấm bụi…


              Cao Huy Đỉnh dịch


Nỗi đau của thi sĩ Tagore cũng là nỗi đau chung của đất nước Ấn Độ. Ánh sáng, tình yêu, niềm tin và khát vọng trong tập thơ là dòng sữa tươi mát nuôi dưỡng những tâm hồn


Ấn Độ. Thơ dâng là kiệt tác của văn học Ấn Độ, đồng thời là đóng góp của Ấn Độ trên văn đàn thế giới.


 


LỜI BÌNH:   Ấn Độ là quốc gia Nam Á,chiếm hầu hết tiểu lục địa Ân Độ, là nước đông dân thứ nhì thế giới. Về mặt tiếng nói thì Ấn Độ là nước đứng thứ nhất thế giới. Trên đất nước này, người ta nói với nhau bằng 1.652 thứ tiếng. Nhưng chỉ có 2 ngôn ngữ chính thức dùng trong hành chính là tiếng Hindi, tiếng Anh. Khái niệm “Người Ấn Độ” mang tính quy tụ, để chỉ một tập hợp đa sắc tộc sống trên lãnh thổ Ấn Độ. Ấn Độ  rất phong phú về động thực vật. Sống trong cảnh cư dân đông đúc, đất nước giàu tài nguyên, đầy ắp các loại hoa  với đủ các loài  thú dữ nên người Ấn Độ rất quen với những cách nhìn khác nhau, với những ý kiến khác nhau. Cuộc sống ấy dạy cho họ tính kiềm chế và chịu đựng, cái  nhìn  việc đời  rất nhân bản:  bình đẳng và tôn trọng nhau, hòa đồng trong cuộc sống. Tác phẩm Sakountala của Kalidasa và tập Thơ dâng  của Tagore là những minh chứng sinh động cho tinh thần Ấn Độ. Ấn Độ bị bao bọc bởi biển và núi nên nó có vẻ như một nước đóng kín. Chỉ có một con đường mà dân di cư cũng như các đội quân xâm lược dùng để vào Ấn Độ là con đường mòn qua khe núi Hindu Kush vào Afghanistan, sau đó vào Punjab của Ấn Độ. Nhiều bộ lạc và dân tộc khác nhau đã đến Ấn Độ và mang theo tập tục, tín ngưỡng, văn hóa riêng của mình. Người bản địa “*kiên nhẫn, tiếp nhận một cách trân trọng, thậm chí còn hoan nghênh tính đa dạng của các tập tục và tín ngưỡng” (của người mới di cư tới). Đây là nét rất đặc trưng  Ấn Độ. Ấn Độ như  khu rừng nhiệt đới. Với sức sung mãn của rừng nhiệt đới nó tiếp nhận tất cả, làm cho tất cả yếu tố ngoại lai thích nghi dần, tiếp thu các tư tưởng, tập quán, cuối cùng là suy ngẫm về chúng theo cách của người Ấn Độ. Lăng Taj Mahal là một ví dụ. Tính hung dữ, ham tàn phá trong con người Mông Cổ của hoàng đế  Cát Kiệt Hãn (Shah Jahan) đã biến thành tình yêu đằm thắm, thủy chung son sắt, bằng việc xây lăng Taj Mahal lộng lẫy cho người vợ quá cố của mình. Lăng Taj Mahal là biểu tượng sức mạnh tình thương yêu của hoàng đế Cát Kiệt Hãn, đồng thời cũng là một kỳ quan thế giới- một biểu tượng tình yêu. Lăng Taj Mahal như một hoa viên lớn:  trước lăng là hồ nước trong xanh. Sóng nước lăn tăn bởi gió làm ta liên tưởng tới nỗi niềm u hoài thương nhớ người vợ thông minh, hiền hòa của hoàng đế Cát Kiệt Hãn, tới nước mắt của vị hoàng đế này. Cảnh tượng này làm xúc động lòng du khách bốn phương. Đại thi hào Ấn Độ  Tagore gọi lăng Taj Mahal là giọt nước mắt trên gò má thời gian.


Trong khi người Ấn Độ an vui tự tại đón nhận những cái đến với mình thì người Trung Hoa dùng khuôn vàng thước ngọc của Nho học, Lão giáo để suy xét, rồi Trung Hoa hóa cái từ bên ngoài vào.


 


* Lời của Jawaharlal Nehru, nhà hoạt động chính trị và xã hội nổi tiếng của Ấn Độ.


(còn tiếp)


Nguồn: Lãng du trong các nền văn hóa. Biên soạn: Lương Văn Hồng. NXB Văn học sắp xuất bản.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »