LÃNG DU TRONG VĂN HỌC ĐỨC
Nói đến Truyện cổ tích là người Đức nhắc ngay tới anh em Grimm(Jacob Grimm (1785-1863) và Wilhelm Grimm (1786-1859).
Bố của anh em Grimm là Luật sư. Thưở nhỏ hai anh em học chung một Trường, ngủ chung một giường, lớn lên cùng học Luật, hầu như suốt đời hai anh em gắn bó với nhau, ở bên cạnh nhau, không muốn rời nhau một bước. Năm 1802 Jaob học Luật ở Marburg, năm sau-1803- Wilhelm học Luật ở Kassel. Sau khi tốt nghiệp đại học, hai anh em lặng lẽ về các thôn làng ở Main, Kinzig, Kassel thuộc vùng Hessen nghe những người dân bình dị kể truyện dân gian và ghi chép lại. Năm 1812 tập I được xuất bản , tập II ra mắt bạn đọc năm 1814. Anh em Grimm đặt tên bộ sách là Truyện cổ tích kể cho trẻ em và trong gia đình . Ở trang đầu cuốn sách đề:” Tặng bà Elisabet von Arnim và cháu nhỏ Johannes Pheraimun” . Thực ra lúc đầu anh em Grimm cùng với Brentano sưu tầm nghiên cứu anh hùng ca Nibelungen và truyền thuyết Dieterich. Brentano sưu tầm truyện cổ dân gian và có ý định cho xuất bản năm 1809, nhưng kế họach ấy ông bỏ. Brentano chuyển sang sáng tác truyện theo lối kể của chuyện cổ tích. Ngược lại hai anh em Grimm từ chỗ sưu tầm Truyện cổ tích chỉ là nguồn vui trong lúc nhàn rỗi lại trở thành công việc nghiêm túc đi cùng với hai anh em trong suốt cuộc đời. Trong Lời nói đầu, anh em Grimm giải thích việc đặt tên sách:
“ Những câu chuyện tưởng tượng được kể cho trẻ nhỏ nghe để thức tỉnh trong tâm hồn ngây thơ trong trắng của các em những suy nghĩ và động lực của con tim, và để cho những cái đó phát triển trong tâm hồn các em. Chất thơ mộc mạc gần gũi làm cho chúng ta thấy đời vui , sự thật trong truyện có thể răn người đời.”
Gorres - bạn thân của anh em Grimm- viết thư cho Wilhelm Grimm kể về thú vui của trẻ con khi đọc tập sách và kết luận: “ Có thể nói tập sách có chỗ đứng xứng đáng của nó và để lại dấu ấn mạnh mẽ trong đời sống đám trẻ con.” Tác dụng của bộ sách lớn hơn nhiều so với sự tưởng tượng của anh em Grimm, nó có tiếng vang rất lớn trong đời sống xã hội, nó hướng mọi người trở về với sức mạnh vốn tiềm tàng trong nhân dân và bắt nguồn từ nhân dân, nó kích động được ý thức dân tộc và là nguồn động viên nhân dân trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh xâm lược của Napoleon. Từ khi xuất bản lần thứ nhất năm 1812 tới khi xuất bản lần thứ bảy năm 1857 - lần xuất bản cuối cùng khi anh em Grimm còn sống- bộ sách được bổ sung, sửa chữa nhiều lần. Từ những câu chuyện rời rạc, không nhất quán về nội dung cũng như văn phong- như Arnim nhận xét: “ Vì quá trung thành với lời nghe kể nên tôi thấy những truyện cổ tích sao nó rời rạc, không được trau chuốt… Tạo sao những truyện đó không thể kể hay hơn được.” Wilhelm đã biên sọan chỉnh lý bộ sách bằng lối kể chuyện dí dỏm, giầu hình ảnh, với ngôn ngữ ngắn gọn, súc tích, ông đã nâng nó thành tác phẩm cổ điển của văn học thế giới.
Âm thầm, lặng lẽ, ngày càng đi sâu hơn trong nghiên cứu và nhất quán trong việc làm, anh em Grimm lần lượt cho xuất bản Truyền thuyết Đức tập I năm 1816-1818, tập II năm 1819-1837, Ngữ pháp tiếng Đức năm 1828, Thần thọai Đức năm 1835, Từ điển Đức-Đức năm 1852, anh em Grimm chỉ kịp hòan thành bốn tập trong tổng số mười sáu tập của bộ sách Từ điển Đức-Đức. Với những công trình nghiên cứu trên, anh em Grimm đã đặt nền móng cho ngành Ngữ văn Đức hiện đại nên hai ông được coi là những người sáng lập ra ngành Ngữ văn Đức hiện đại . * Truyện cổ Grimm, toàn tập , Lương Văn Hồng dịch và giới thiệu, in lần thứ 9 NXB Văn học , năm 2006
Heinrich Mann (1781-1950) là anh ruột Thomas Mann, ông sinh ngày 27.3.1871 ở Lũbeck và mất ngày 12.3.1950 ở Santa Monica bang Kalifornien (Mỹ). Ông muốn trở thành họa sĩ, nhưng lại trở thành nhà văn chuyên nghiệp. 1893 ông sang sống ở Paris, rồi ở các thành phố Palestrina và Florenz của nước Ý. 1898 ông cùng với em trai T. Mann trở về Mũnchen. Từ 1925 ông sống ở Berlin. 1931 ông là chủ tịch Viện hàn lâm nghệ thuật Phổ. 1933 ông bị khai trừ khỏi viện hàn lâm, các tác phẩm của ông bị đốt, ông sang Pháp sống và năm 1940 sang sống ở Mỹ.
Trong số các tác phẩm hay đầu tay của H. Mann là tiểu thuyết Ở xứ sở của những kẻ ăn không ngồi rồi ( Im Schlaraffenland, 1900). Tiểu thuyết thuật lại con đường tới danh vọng trong văn chương của chàng sinh viên tỉnh lẻ Andreas Zumsee. Chàng ra sống ở thủ đô, qua chuyện chăn gối, chàng được vợ một chủ ngân hàng hỗ trợ trong việc in, bỗng chốc chàng trở thành một nhà văn "tầm cỡ". Khi bị "bà hòang" bỏ rơi, thì cũng là lúc chàng trai hãnh tiến đóng xong vai trò của mình trong sinh họat văn học của giới tư bản tài phiệt ở Berlin. Tác phẩm cho ta thấy, tiền có thể làm được tất cả và có trong tay tất cả: báo chí, dư luận xã hội, quý tộc cùng các đảng phái chính trị. Lý tưởng cuộc sống trong xã hội tư sản đầu thế kỷ XX là: khung cảnh đầy thơ mộng của nước Ý, cảnh đẹp thiên nhiên đầy quyến rũ của Neapel, cuộc sống thời cổ đại, điều đó biểu hiện rất rõ trong tiểu thuyết ba tập Các nữ thần hay là Ba cuốn tiểu thuyết của nữ công tước Assy (Die Gõttinnen oder Die drei Romane der Herzogin von Assy, 1903). Cuộc săn đuổi tình yêu (Die Jagd nach Liebe,1903) là tiểu thuyết phê phán sự thống trị của đồng tiền trong xã hội tư bản. Gíao sư Unart hay là Ngày tận số của một gã độc tài (Professor Unrat oder Das Ende eines Tyrannen, 1905) là tiểu thuyết phê phán chế độ giáo dục phản động của phong kiến Phổ.
Trong thời gian sống lưu vong ở Pháp, H. Mann muốn thành lập một liên minh chống phát xít nhưng không thành, những suy nghĩ của ông thời gian này biểu hiện trong tác phẩm Thời niên thiếu của vua Henry IV (Die Jugend des Kõnigs Henri Quatre, 1935) và Sự trưởng thành của vua Henri IV (Die Vollendung des Kõnigs Henri Quatre, 1938). Đây là bộ tiểu thuyết lịch sử kể về những gắng công của vua Henri IV thiết lập chế độ phong kiến tập quyền ở Pháp.
Tên thuộc cấp
Tên thuộc cấp (Der Untertan, viết trong thời gian 1911-1914, nhưng vì bị kiểm duyệt nên tới năm 1918 mới được xuất bản) là tiểu thuyết hay nhất của Heinrich Mann. Tiểu thuyết còn có phụ đề Câu chuyện tâm lý xã hội dưới thời Wilhelm II- Chuyện quyền lực (Die Geschichte der õffentlichen Seele unter Wilhelm II- die Macht). Câu chuyện xoay quanh việc theo đuổi đường danh vọng của "một người Đức thế hệ mới" là Diederich Hessling, con trai một chủ nhà máy giấy. Khi còn nhỏ, Hessling sống ở tỉnh lẻ, thời sinh viên sống ở Berlin. Sau khi đỗ tiến sĩ và sau khi cha mất, Hessling trở về cai quản nhà máy giấy ở thị xã Netzig. Hessling là kẻ cuồng tín của đế chế Phổ dưới thời Wilhelm, hắn tìm mọi cách kiếm cho được "một chỗ dưới ánh mặt trời". Bằng thủ đọan Hessling đã lấy được một người vợ giầu có và cũng bằng thủ đọan hắn trở thành viên chức cao cấp dưới thời Wilhelm II. Trong lúc Hessling đọc diễn văn ca ngợi khánh thành tượng đài hòang đế Wilhem tại quê hương, bỗng dưng dông tố kéo tới, dân chúng vội chạy tránh dông mưa, chỉ còn lại tên thuộc cấp trung thành kiểu Phổ Hessling đứng cạnh tượng đài. Hình ảnh này như lời cảnh báo sự xụp đổ của đế chế.
*Wilhelm II (1859-1941) là vua nước Phổ và hòang đế nước Đức thời gian 1888-1918, đồng thời là đời vua cuối cùng của nước Đức.
Cảnh báo sự vô cảm, không cá tính ở xã hội công nghiệp cao
Robert Musil (1880-1942) sinh 6.11.1880 ở thành phố Klagenfurt (thủ phủ bang Kãrnten nước Áo) và mất ngày 15.4.1942 ở Genf (Thụy Sĩ). Ông là con trai một chủ nhà máy sản xuất vũ khí và những năm sau lại là giáo sư đại học. Cậu bé Robert là thiếu sinh quân của Trường quân sự ở Mãhrisch-Weisskirchen. Học xong ông trở thành sĩ quan. Rồi ông lại học chế tạo máy ở Brũnn và trở thành kỹ sư năm 1901. 1902-1903 ông là trợ lý giảng dạy ở Đại học kỹ thuật của thành phố Stuttgart. Rồi ông lại học Triết học, Tâm lý học, Tóan học ở Berlin. 1908 ông đỗ tiến sĩ Triết học. Cuộc đời ông dao động giữa con đường tiến thân ở Đại học và sự nghiệp văn chương. 1911-1914 ông là thủ thư ở Trường đại học kỹ thuật Viên, rồi làm biên tập báo " Neue Rundschau". Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất ông là đại úy ở mặt trận Ý. Sau cùng là làm công chức. Từ năm 1923 ông chuyển sang viết văn chuyên nghiệp. 1938, Musil di cư sang sống ở thành phố Zũrich (Thụy Sĩ), rồi chuyển về Genf và sống ở đây trong cảnh cô đơn cho đến khi qua đời.
Những đối thọai xen trong cấu trúc phức hợp của tác phẩm cùng với việc phân tích sâu sắc thế giới nội tâm của nhân vật đã tạo nên một phong cách riêng rất Musil. Phong cách này có ảnh hưởng sâu rộng tới văn xuôi hiện đại châu Âu.
Tác phẩm tiêu biểu của Musil là Những hỏang lọan của học viên Toerless (Die Verwirrungen des Zoelings Toerless, 1906) là tiểu thuyết mang tính chất tự truyện viết về những kỷ niệm nặng nề trong thời gian Musil học ở Trường quân sự (Schulroman) và kể về những vấn đề sinh lý của thanh niên ở tuổi dạy thì (viết theo lối phân tích tâm lý kiểu Bergsons và Freud). Hai tập truyện ngắn Liên tưởng (Vereinigungen, 1911) và Ba người đàn bà (Drei Frauen, 1924) được coi là tuyên ngôn của *chủ nghĩa biểu hiện trong văn xuôi Đức.
Người không có cá tính
Người không có cá tính (Der Mann ohne Eigenschaft, tác phẩm viết chưa xong, mới xuất bản ba tập vào những năm 1930, 1933, 1943). Musil có ý tưởng viết tiểu thuyết này vào những năm 1902-1903, nhưng mãi tới năm 1925 ông mới bắt tay vào viết, tiểu thuyết Những hỏang lọan của học viên Toeless năm 1906 là bước sơ khởi cho bộ tiểu thuyết ba tập Người không có cá tính. Nhân vật Ulrich trong tiểu thuyết chính là chân dung Musil, những bước trưởng thành của Ulrich cũng chính là những giai đọan phát triển trong đường đời của Musil, vì tiểu thuyết viết chưa xong (khi Musil sống ở Lausanne- thủ phủ bang Waadt-Thụy Sĩ) nên hướng tiến triển và kết thúc của tiểu thuyết còn bỏ ngỏ. Ở tuổi ba mươi, Ulrich tìm cách tạo dựng cho mình một hướng đi trong đường đời, nhưng Ulrich thất bại và phải từ bỏ nghề mình chọn. Rồi Ulrich cũng không thành công trong việc tìm cách có một chỗ đứng trong đời sống tinh thần-chính trị ở thủ đô Viên nước Áo vào năm 1913. Ulrich tìm lối thóat trong đời sống riêng tư: yêu em gái mình là Agathe. Ulrich từng là sĩ quan, kỹ sư, nhà tóan học, lọai người (Menschentyp) như Ulrich "bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước" biết được hai mặt của một vấn đề (Mõglichkeitsmenschen), chính vì vậy nên không dứt khóat quyết đóan đi theo hướng nào. Tâm trạng của Ulrich - tâm trạng nghi ngại của kẻ ngòai cuộc- cũng là tâm trạng của nhiều người sống cùng thời với Ulrich.
Hermann Hesse (1877-1962) là nhà văn hiện thực phê phán lớn của văn học Đức thế kỷ 20. Cảnh gia đình trí thức ngoan đạo với sự pha trộn của nhiều nền văn hóa khác nhau ảnh hưởng rất sâu đậm trong con người nhà văn Hermann Hesse, tâm hồn ông luôn chuyển động giữa hai cực Đông-Tây để đi tìm một nhân lọai thuần khiết, một nhân lọai sống trong cảnh bình yên. Những kỷ niệm thời thơ ấu của nhà văn ta luôn thấy trong nhiều tác phẩm của ông. 1890 ông học Trường La Tinh. 1891, ông học thần học. Ông bỏ học do thấy mình không thích hợp với nghề làm giáo sĩ, rồi 1892 ông học nghề buôn bán sách. 1899-1904 ông sống ở Basel và mở hiệu sách cũ. Từ 1904 , ông sống ở Gaienhofen ở bên bờ hồ đẹp như mộng là Bodensee (bên này hồ thì thuộc Đức, bên kia hồ thuộc Thụy Sĩ) và chuyển sang viết văn chuyên nghiệp. Cũng năm 1904 ông xuất hiện trên văn đàn với tác phẩm Peter Camenzind. Đây là một Tiểu thuyết giáo dục (Bildungsroman) rất hấp dẫn bạn đọc đương thời. Nó có tính chất tự truyện về một thanh niên sống lang thang, nhưng mang trong mình nhiều hòai bão, nhưng không thích nghi được với đời sống bon chen ở thành phố lớn trong xã hội tư sản, cuối cùng đành phải trở về quê nhà sống an phận là chủ quán.
Những tác phẩm tiêu biểu của Hermann Hesse là:
Knulp (1915) là tên nhân vật chính, đồng thời là tên tiểu thuyết. Bản thân cuộc đời lãng tử của Knulp đã là một bài thơ không lời. Cuộc đấu tranh sinh tồn và những gian truân trong cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa - nhạc sĩ, họa sĩ Getrud (1910) được phản ánh trong tiểu thuyết cùng tên. Hermann Hesse xuất bản tác phẩm Demian (1919) với bút danh Emil Sinclair. Tiểu thuyết viết về một thanh niên đi tìm số phận như mình nghĩ cho chính mình (tác giả đã đưa phân tâm học vào trong tiểu thuyết) nhưng không sao đạt được: đó cũng là tình trạng của thanh niên tư sản thời bấy giờ. Herrman Hesse như ở trong trạng thái giữa mộng và hiện thực trong một câu chuyện cổ tích thời Trung cổ Narziss và Goldmund (1930) để hòa giải tư duy và hành động. Tác phẩm lớn cuối cùng của Hermann Hesse là Chơi bằng những viên ngọc thủy tinh (Das Glasperlenspiel, 1943). Chuyện xảy ra vào năm 2000, một nhóm trí thức có lối sống kết hợp tư tưởng Tây và Đông . Ở tuổi chín chắn và như là một nhà thông thái, Hesse viết tiểu thuyết này. Tiểu thuyết mang tính chất giả tưởng và tượng trưng, nói lên khả năng và cần thiết phải hành động vì tương lai tốt đẹp của lòai người.
Mùa hè cuối cùng của Kingsors (Kingsors letzter Sommer, 1920) Siddharta (Siddharta,1922) là những truyện hay của Hermann Hesse. Ngòai viết văn, Hermann Hesse còn viết luận văn. Nhiều luận văn của Hesse viết rất sâu sắc và có tư tưởng nhân đạo.
* Sói thảo nguyên
Tiểu thuyết Sói thảo nguyên xuất bản năm 1827. Nhân vật chính trong tác phẩm là Harry Haller, người tự gọi mình là Sói thảo nguyên. Harry Haller là một nhà trí thức có tài và nhạy cảm. Ở tuổi gần năm mươi, nhưng Haller vẫn sống cảnh đơn chiếc, nhà ở thuê. Ông hay phiền muộn, chán đời và thù xã hội. Khi Haller dọn khỏi nơi ở thuê, cháu bà chủ nhà tìm thấy một bản thảo và cho xuất bản. Sách có nhan đề Chỉ dành cho những người điên.
Cuộc sống lang thang vô định làm cho Haller thấm thía nhớ cảnh đầm ấm bình thản ở nhà. Cuộc đời ấy đưa đẩy Haller qua nhiều quán trọ, kết bạn với những kẻ phiêu đãng. Tình cờ- trong lúc ngà say đi ngòai đường- Haller đọc một tấm bảng có hàng chữ Rạp hát thần: Không phải ai cũng vào được, chỉ dành cho người điên. Haller bước vào thì một người đàn ông dúi cho cuốn sách Khái luận về sói thảo nguyên. Không phổ biến cho tất cả mọi người. Tập khái luận này kể về chính Haller, một người có cá tính kép: người và sói thảo nguyên (STN có đặc điểm sống riêng khác hẳn so với sói thông thường). Người văn minh và sói thích sống ngòai vòng cương tỏa xã hội. Trong sách có đưa ra một tiên đóan, Haller sẽ " tìm ra được trong một rạp hát thần… thứ mà ông cần để giải thóat cho linh hồn lạc lõng." Trong một lần đi lang thang, Haller được một người chỉ cho chỗ giải trí: quán khiêu vũ Con Ó đen, nhưng đang đi thì Haller lại gặp thầy cũ của mình và tới thăm gia đình thầy. Trong lúc trò chuyện, thầy trò tranh luận gay gắt về bài báo đả kích Hòang đế, quân đội và chế độ quân phiệt ( do chính Haller viết). Haller tiếp tục lang thang ngòai đường và tới nơi khiêu vũ lúc nào không hay. Ông được người đẹp Hermine niềm nở đón tiếp. Mỗi lần gặp Hermine, Haller đều được nàng chỉ dẫn cách sống hưởng lạc, rồi bạn của Hermine là Maria lại dạy cho Haller nghệ thuật yêu đương. Không những thế Haller còn được tay thổi kèn saxophone là Pablo dạy cho về nghệ thuật và cách sống của một tay lõi đời. Cuối cùng thì Haller cũng tới được rạp hát thần. Nơi đây có đủ mọi trò "vui". Trước mỗi cánh cửa có treo bảng đề trò "vui". Haller bước vào cửa cuối cùng thì thấy Pablo và Hermine trần truồng ngủ với nhau. Nhớ tới lời hứa với Hermine, Haller rút dao găm đâm chết Hermine và bị xử tội với hình phạt là phải cười ré lên. Qua đó, Haller tự nhủ:" Một ngày kia ta sẽ là một tay chơi xuất sắc. Một ngày kia, ta sẽ học cười."
* Tiểu thuyết Steppenwolf đã dịch sang tiếng Việt với tên Sói đồng hoang, Chơn Hạnh và Phùng Thăng dịch theo bản tiếng Pháp, CA DAO xuất bản, 1969.
*Loài sói thảo nguyên thon và nhỏ con, sống đơn lẻ. Nó rất thính tai và phóng mắt nhìn xa tới đường chân trời. Thảo nguyên mênh mông và bằng phẳng với thưa thớt cây, nên những lòai thú dữ sống ở thảo nguyên(trong đó có sói thảo nguyên) không thể rình bắt con mồi , chúng bắt con mồi bằng rượt đuổi.
LỜI BÌNH: Ba nước lấy tiếng Đức là ngôn ngữ chính thức là Áo, Thuỵ Sĩ, Đức. Ba nước này tạo thành nền văn học vùng nói tiếng Đức. Nói đến văn học Đức là nói đến văn học vùng này. Trong lịch sử văn học Đức, có giai đoạn lý trí được đề cao( văn học Khai sáng); có giai đoạn lại nhấn mạnh tình cảm (văn học Bão táp và Xung kích); có giai đoạn tính nhân văn được nhấn mạnh (văn học chủ nghĩa nhân văn và cải cách tôn giáo); có giai đoạn hài hoà cân đối mới là quan trọng (văn học cổ điển); có giai đoạn trí tưởng tượng phong phú được đề cao (văn học Lãng mạn); có giai đoạn coi phản ánh hiện thực là quan trọng (văn học chủ nghĩa hiện thực); Rồi theo đà phát triển của xã hội: có lúc văn nghệ sĩ thích phản ánh hiện trạng xã hội như bản thân nó là như thế (văn học chủ nghĩa tự nhiên); có lúc văn nghệ sĩ lại thích đưa xung đột nội tâm để ra nói (văn học chủ nghĩa biểu hiện); có lúc ấn tượng cùng những rung cảm tâm hồn mới là cái đáng nói (văn học chủ nghĩa ấn tượng) v.v. Cái gì đã đi đến tận cùng của sự việc thì sẽ kết thúc (cái gì cũng có thời của nó). Theo quy luật chung: khi vai trò lịch sử hết thì thời của nó cũng hết. Hay nói cách khác: Cái gì ý nghĩa và vai trò lớn thì vòng đời dài. Cái gì ý nghĩa và vai trò nhỏ thì vòng đời ngắn.
Văn học tiến triển theo lối tự thân vận động, tự mình điều chỉnh. Sự phát triển của văn học không phải là đường thẳng như khoa học tự nhiên, mà là con đường quanh co uốn khúc. Sau 10 thế kỷ, văn học Đức mới có 2 đại văn hào là Johann Wolfgang Goethe và Friedrich Schiller ở thế kỷ 19. Sau hai đại văn hào này, văn học Đức chỉ có những nhà văn lớn. Trong suốt tiến trình văn học của mình, văn học Việt Nam chỉ có một đại văn hào là Nguyễn Du ở thế kỷ 19 (xin xem bài về Goethe và Nguyễn Du trong sách này phần VIỆT NAM).
Bản thân văn học là tình yêu đam mê Cái Đẹp, Cái Cao thượng nhằm hướng tới Chân, Thiện, Mỹ. Nền văn học Đức, nền văn học Việt Nam cũng tự thân vận động, tự mình điều chỉnh theo quy luật chung đó.
“Những đại diện nổi tiếng nhất của nền văn học Đức là Goethe, Schiller, kế đến là anh em Grimm” (lời ông Erhard Zander, tổng lãnh sự CHLB Đức ở tp HCM) .
Truyện cổ tích là một thể lọai hòan chỉnh của văn học truyền miệng- văn học dân gian, nó là sản phẩmcủa sáng tác có tính tập thể và được gọt rũa qua không biết bao nhiêu thế hệ, nó mang đậm nét tính nhân dân và phản ánh tinh thần lạc quan vào sự tất thắng của chính nghĩa, niềm tin vào thiện bao giờ cũng thắng ác, nó phản ánh ước vọng sống an vui của người dân. Truyện cổ tích phản ánh trung thực quan điểm của người dân về công lý xã hội, nó là tấm gương phản chiếu tín ngưỡng, phong tục tập quán, tâm tình, ước vọng của một dân tộc, chính vì nét này mà các nhà sử học coi kho tàng truyện cổ tích là những tư liệu quý trong khi nghiên cứu các thời kỳ khác nhau của một dân tộc.
Mặc dù được lưu truyền qua nhiều thế hệ và ở mỗi dân tộc truyện cổ dân gian lại có những nét riêng độc đáo của nó. Trẻ em say mê truyện cổ tích bởi những điều kỳ lạ hợp với ước vọng mình, người lớn bị thu hút bởi những triết lý đơn giản nhưng sâu sắc, người già đọc truyện cổ tích rồi vỗ tay tiếc rằng, giờ mình mới thấy hết sự phong phú của cuộc sống.
Sau khi anh em Grimm qua đời, để tưởng nhớ tới công lao của anh em Grimm, nên những lần tái bản bộ sách Truyện cổ tích kể cho trẻ em và trong gia đình được gọi là *Truyện cổ Grimm.
* Truyện cổ Grimm, toàn tập , Lương Văn Hồng dịch và giới thiệu, in lần thứ 9. NXB Văn học, năm 2006
Với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ thanh niên Đức rất thích kịch của Schiller. Nhưng cũng chính những con người ấy khi bước qua tuổi 40 thì họ lại thích cái thâm trầm, sâu lắng thể hiện trong các tác phẩm của Goethe. Hệ thống triết học của Kant ảnh hưởng tới Schiller trên bình diện luân lý học và mỹ học. Schiller cho rằng , một hành động chỉ hợp luân lý khi nó xảy ra theo sự lựa chọn và theo thiện cảm. Sự đối chất thô thiển giữa nghĩa vụ và thiện cảm sẽ hạ thấp nhân phẩm, vì nó sẽ đặt tiền đề cho sự áp bức. Giờ đây con người đã thức tỉnh để đòi quyền hợp pháp của mình. Đối với Schiller thì nghệ thuật là phương tiện đấu tranh chống chuyên chế và áp bức, một phương tiện để giải phóng con người.
Với những quan niệm như đã nói ở trên, nên kịch của Schiller ở giai đọan hai- ở văn học cổ điển chủ yếu lấy chất liệu từ những sự kiện lịch sử đấu tranh chống áp bức (Wallenstein), thống nhất đất nước (Thiếu nữ vùng Orleans) hay đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc khỏi ách ngọai xâm (Wilhelm Tell) của các nước trên thế giới.
Sau hai năm đi du lịch, năm 1788 Goethe trở lại Weimar, ông cắt đứt quan hệ với Charlotte von Stein và sống chung với Christiane Vulpius. Cũng năm 1788 Goethe gặp Schiller ở Rudolstadt và cũng từ đây ông thôi mọi chức trách ở cung đình Weimar để chuyên tâm sáng tác.
Trong khi Schiller chịu ảnh hưởng triết học của Kant, thì Goethe lại chịu ảnh hưởng triết học của Spinoza, chịu ảnh hưởng những nhà tư tưởng tiến bộ Pháp như Voltaire, Roussaeu.
Tháng bảy năm 1794 Goethe kết bạn với Schiller. Tình bạn giữa hai đại văn hào đã đánh dấu một thời kỳ sáng tác sung mãn do những khích lệ , động viên lẫn nhau giữa hai người. Schiller và Goethe thường xuyên viết thơ gợi mở cho nhau những ý tưởng mới , thôi thúc nhau trong sáng tác. Do vậy, Goethe viết tiếp Faust I và cho xuất bản năm 1808 . Rồi viết Faust II cho tới cuối đời.
VĂN HỌC ĐỨC HIỆN ĐẠI có rất nhiều nhà văn lớn, trong số đó có một số được giải Nobel văn học như Thomas Mann, Hermann Hesse, Heinrich Boell.v.v. Vì là lãng du nên chúng ta nói tới cái đặc sắc của vườn hoa văn học Đức: tính kỷ luật của người Đức (Tên thuộc cấp của Heinrich Mann), cá tính con người Đức trong xã hội hiện đại (Người không cá tính của Robert Musil), khủng hoảng trong đời sống tinh thần của tầng lớp có học vấn, hiểu biết (Sói thảo nguyên của Hermann Hesse). Ba tác phẩm nêu trên phác hoạ được con người và xã hội Đức ở thế kỷ 20.
Tieåu thuyeát Tên thuộc cấp cho ta thaáy tính leä thuoäc giaøng buoäc nhau giöõa Quyeàn löïc vaø Thuoäc caáp (Macht und Untertan). Hai khaùi nieäm naøy taïo neân caáu truùc vaø taâm lyù cuûa toøan xaõ hoäi (trong quaân söï, chính trò, kinh teá v.v.) theo moâ hình kim töï thaùp (Pyramide) döôùi thôøi Wilhelm II. (1859-1941 ; laø vua nöôùc Phoå vaø hoøang ñeá nöôùc Ñöùc thôøi gian 1888-1918, ñoàng thôøi laø ñôøi vua cuoái cuøng cuûa nöôùc Ñöùc).
Heinrich Mann là nhà văn chống phát xít, ông chiến đấu không biết mệt mỏi cho hòa bình dân chủ. Những suy nghĩ của ông luôn xoay quanh vấn đề trí tuệ và quyền lực.
Trong tiểu thuyết Người khơng c tính, trí thức tư sản nhận thức được rằng, người vô cảm, không cá tính sẽ là đặc trưng rõ nét ở con người trong xã hội công nghiệp có sự phân công lao động và được tổ chức rất cao.
Bộ tiểu thuyết lớn này là bức tranh tòan cảnh về xã hội thượng lưu Áo ( ở vương quốc Áo-Hung) những năm trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914-1918, nó xuất hiện như lịch sử tinh thần của chế độ quân chủ thời kỳ kết thúc: sự phân rã của thế giới, nhưng nó cũng như một lời phán về sự sắp biến chuyển của thời đại.
Robert Musil là kịch gia, tiểu thuyết gia và là nhà viết tiểu luận có tài. Văn ông trong sáng, có cái chính xác của một nhà khoa học tự nhiên, ông lại có giọng văn mỉa mai đầy ưu tư mhư Thomas Mann. Ông phân tích sâu sắc những giá trị tinh thần của thời đại: xã hội phong kiến-tư bản, nhưng không tìm được lối thóat, giải đáp thỏa đáng trong bế tắc tư tưởng của phần lớn trí thức tư sản Áo. Những đóng góp của Musil làm cho ta liên tưởng tới tính chân thực của những suy nghĩ có tính phê phán, tới việc phân tích chính xác tâm lý nhân vật. Đây là sáng tạo có tính đột phá của văn nghệ sĩ nước Áo ở thế kỷ XX cho nền văn học các nước nói tiếng Đức (Áo, Thụy Sĩ, Đức).
Tiểu thuyết Sói thảo nguyên phản ánh cuộc đấu tranh nội tâm của tác giả với thái độ phê phán khía cạnh tha hóa đạo đức của văn minh phương tây. Con người hiểu biết và nhạy cảm Harry Haller sống trong xã hội như một người ngòai cuộc (Aussenseiter) đi tìm cái Tôi đích thực của mình và cái hài hòa trong cuộc sống nội tâm bị giằng xé giữa nhục dục và tâm hồn, giữa cái thôi thúc của bản năng và văn hóa. Xung đột nội tâm trong con người tự cho mình là sói thảo nguyên(thính tai, tinh mắt)-Harry Haller- chia thành hai phía, nhưng thực chất chỉ là xung đột giữa bản tính người và bản tính thú. Tiểu thuyết bộc lộ rõ cái chao đảo khủng khiếp trong tâm hồn Haller, nó chẳng khác gì một bản tiểu sử tâm hồn con người đi tìm sức sống mới lành mạnh hơn hiện trạng xã hội tư bản. Tiểu thuyết gây nhiều tranh luận với những ý kiến trái ngược nhau, nên 1961, Hesse viết thêm phần phụ chú nhằm " phác họa ra một bệnh trạng và khủng hỏang- nhưng không phải dẫn đến cái chết và hủy họai, mà trái lại: dẫn đến chữa trị."
Hermann Hesse là đại diện tiêu biểu cho văn học nhân đạo tư sản Đức. Con đường sáng tác của Hesse đi từ tình cảm cô đơn và nỗi buồn lãng mạn cuối thế kỷ XIX đến tầm nhìn xa trông rộng, có trách nhiệm đối với xã hội ở thế kỷ XX, ông ước mơ và tin chắc vào tương lai tốt đẹp hơn của con người. Ông nhận giải thưởng Nobel văn học năm 1946.
(còn tiếp)
Nguồn: Lãng du trong các nền văn hóa. Biên soạn: Lương Văn Hồng. NXB Văn học sắp xuất bản.
|