HY LẠP
Tên nước: Cộng hòa Hy Lạp
(Hy Lạp: tiếng La Tinh là Greece; tiếng Anh là Greek, tiếng Đức là Griechenland)
Người La Mã cổ đại gọi người Hy Lạp là “Graeci”, gọi vùng Balkan là “Graecia” (vùng của người Graeci). Hy Lạp là từng bị đế quốc La Mã, Byzantine, Thổ Nhĩ Kỳ thống trị trong thời trung cổ. Năm 1829, Thổ Nhĩ Kỳ công nhận Hy Lạp là công quốc tự trị. Hy Lạp tuyên bố độc lập và thành lập “Vương quốc Hy Lạp năm 1830. Hy Lạp phế bỏ chế độ quân chủ tháng 6 năm 1973 và chính thức là Cộng hòa Hy Lạp qua trưng cầu ý dân tháng 12 năm 1974.
Diện tích : 136.726 km2
Dân số: 10.707.135 người
Quốc khánh 25 tháng Ba
Quốc ca: Tụng ca Tự do (Immos pros tin Eleftherian). Vũ Hải dịch
Bảo kiếm của Người lộ ra mũi sắc, nên chúng ta nhận ra Người. Người trả lại quyền lực cho nhân dân, ánh sáng của Người chiếu khắp đất trời. Các bậc tiên liệt bị bức hại và toàn thể nhân dân Hy Lạp hoan hô Người, kính chào Người, ơi tự do, xin kính chào Người! Hoan hô Người, kính chào Người, ơi tự do, xin kính chào Người!
Quốc kỳ
Hình chữ nhật với 4 dải sọc trắng và 5 dải sọc xanh nằm ngang. Góc trên phía cán cờ là hình vuông màu lam có chữ thập màu trắng. 9 sọc nằm ngang biểu thị câu cách ngôn có 9 âm tiết trong tiếng Hy Lạp “Không có tự do chúng ta thà chết còn hơn!” Màu lam nền cờ tượng trưng cho bầu trời xanh. Chữ thập màu trắng tượng trưng cho niềm tin vào Chính thống giáo của người Hy Lạp. Quốc kỳ này được sử dụng từ 1883.
Quốc huy
Là tấm lá chắn hình vuông màu lam, bên trong hình vuông là chữ thập màu trắng. Bao quanh lá chắn là vòng tròn cành ôliu. Quốc huy này sử dụng từ năm 1974.
Khẩu hiệu: “Tự do hay là chết”
Thủ đô: Athens
Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Hy Lạp
Tôn giáo: Chính thống giáo Hy Lạp
Tiền tệ: Euro (tiền cũ là đồng Drachma Hy Lạp)
LÃNG DU TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP
Periandros (627-586 tr. CN) là con trai, đồng thời là người kế vị cha mình. Năm 627, Periandros trở thành quan chấp chính ở thành bang Korinth. Dưới sự trị vì của Periandros , kinh tế, văn hóa, nông nghiệp, thợ thủ công, ngành gốm phát triển thông qua việc Cấm trốn khỏi quê hương thông qua việc chia ruộng của địa chủ cho nông dân nghèo, thông qua việc Cấm buôn bán nô lệ, việc thúc đẩy buôn bán Đông-Tây v.v… Periandros là một trong bảy nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại.
Quan niệm về cuộc sống
Có người đặt một loạt câu hỏi để Periandros trả lời:
- Tự do là gì?
- Lương tâm trong sạch
- Cái gì là tuyệt vời?
- Bình thản là tuyệt vời.
Periandros luôn tự nhủ:
- Hãy có chừng mực khi hạnh phúc, hãy tỉnh táo khi bất hạnh.
Ông quan niệm:
- Khoái cảm là nhất thời, danh dự là bất tử.
Về thời thượng cổ Hy Lạp chúng ta biết rất ít, vì không có sử liệu nào đáng tin cậy cho ta biết chính xác ngày sinh, ngày mất của bảy nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại, nên số liệu ở đây chỉ mang tính ước lệ. Pittakos (666-586 tr. CN) sinh ở Mytilene- thủ phủ đảo Lesbos- một trong những đô thị sầm uất của Hy Lạp thời thượng cổ. Năm 620, Pittakos được bầu làm quan chấp chính để giải quyết cuộc chiến giữa quý tộc thượng lưu thống trị và dân chúng. Xong việc, ông tiự nguyện rút khỏi chính trường, sống lưu vong. Ông là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.
Những suy tư của nhà hiền triết Pittakos
Là người từng trải, Pittakos rút ra từ cuộc sống kết luận:
- Con người khó trở nên tốt đẹp!
Ông quan sát thấy:
- Mỗi người có nỗi bất hạnh riêng của mình.
Vì vậy nên ứng xử:
- Tha thứ tốt hơn là trả thù.
Ông khuyên:
- Hãy tính toán cẩn thận thời gian, vì mọi thứ đều có thời.
Solon (640-560 tr. CN) là nhà lập pháp, nhà thơ của thành bang Athen. Năm 594, Solon được bầu làm người đứng ra hòa giải giữa tầng lớp quý tộc và dân chúng, đồng thời được bầu làm quan chấp chính với những quyền hành đặc biệt để lập lại trật tự ở thành bang Athen. Solon đã khôn khéo giải quyết những vấn đề xã hội bằng miễn nợ, bỏ câu thúc thân thể, ân xá chính trị v.v… Những cải cách xã hội và chính trị rộng lớn của Solon có tính chất quyết định tới sự phát triển của Athen: ban hành quyền sở hữu đất đai và quyền thừa kế kích thích kinh tế phát triển; quyền bầu cử và quyền bình đẳng; thành lập Hội đồng đô thị, Hội đồng nhân dân, lập Tòa án nhân dântạo nên thời kỳ đầu tiên của nền dân chủ ở Athen. Chính sách của Solon được người kế nhiệm Pisistrate tôn trọng, tiếp tục thi hành. Thơ của Solon là triết lý về đạo đức và chính trị. Solon là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.
Luôn trầm tĩnh, sáng suốt
Solon có nguyên tắc:
- Không bao giờ thái quá.
Solon xuất hiện trong trang phục lộng lẫy của quan chấp chính. Cerse hỏi:
- Liệu có cái gì đẹp hơn?
Solon trả lời:
- Lông của con gà trống, của con chim trĩ, của con công là do tạo hóa ban tặng, nó tự nhiên và đẹp hơn hàng nghìn lần trang phục này.
Và Solon trình bày quan điểm của mình với tư cách là quan chấp chính:
- Tôi ban tặng quyền hành cho dân chúng ở chừng mực họ cần: không tước đọat danh dự của họ, song không ban quá nhiều quyền hành. Tôi cũng quan tâm tới những kẻ giàu có và mạnh mẽ hơn mọi người, để không một ai sỉ vả họ. Tôi đứng giữa, phủ lên họ tấm lá chắn vững chắc của mình, và cấm thuyết phục người khác một cách không chính nghĩa.
Về sự giàu có, ông triết lý:
- Tôi muốn là người giàu sang, nhưng không muốnchiếm hữu một cách bất lương của cải đó. Chúng ta không đổi danh dự lấy một túi tiền. Đức hạnh bao giờ cũng còn lại. Tiền bạc có rồi lại hết.
Ông kết luận:
- Không thể làm vừa ý mọi người trong công việc lớn. Đến già vẫn học được nhiều điều.
Chúng ta biết rất ít về Bias. Chỉ biết ông sống ở Priene vào thế kỷ VI trước Công nguyên. Ông là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.
Con người là như thế
Bias cho rằng:
- Những kẻ xấu xa nhất ở đâu cũng là đa số.
Khi dân thành bang Priene chạy lọan, họ mang theo của cải. Riêng Bias không mang theo gì cả. Có người hỏi. Ông đáp:
- Tôi đem theo mọi thứ của mình bên người.
Trả lời câu hỏi:
- Điều gì khó?
- Bình tĩnh chịu đựng tình hình công việc trở nên tồi tệ hơn.
- Điều gì làm con người khoan khoái
- Hy vọng
- Cái gì làm cho con người cảm thấy sung sướng?
- Nhận được lợi lộc.
- Ai là cố vấn tốt nhất?
- Thời gian.
Ông khuyên:
- Hãy tiết kiệm sự thông thái, vì không có của cải nào đáng tin cậy hơn.
Kleobulos là quan nhiếp chính ở Lindos – thành phố cảng nằm ở bên bờ phía đông của Rhodos. Người ta không biết năm sinh và năm mất của ông, chỉ biết rằng ông sống vào nửa đầu thế kỷ VI trước Công nguyên. Ông có sáng tác bài hát và câu đố.
Hiểu người, chế ngự mình
Nguyên tắc ứng xử của Kleobulos là:
- Hãy chế ngự khoái cảm!
Ông khuyên:
- Đừng âu yếm hay cãi nhau với vợ khi có người lạ. Âu yếm: dấu hiệu của ngu xuẩn. Cãi nhau: dấu hiệu của sự điên rồ.
Là quan nhiếp chính thành bang Lindos, Kleobulos biết, người giàu sang lúc nào cũng tiệc rượu. Người nô lệ hi hữu mới được ngồi bên bàn tiệc. Nên:
- Đừng trừng phạt kẻ nô lệ khi bị say, hãy ra lệnh uống tiếp.
Theo Kleobulos thì ở nơi quan trường nên:
- Hãy thích lắng nghe hơn là thích nói!
Từ kinh nghiệm và quan sát, ông nói:
- Người nào luôn trung dung thì người đó sẽ hạnh phúc và thanh thản trong cuộc đời.
Epicharmos (550-460 tr. CN) là nhà thơ sống ở Syrakus – thành phố nằm bên bờ phía đông Sizilien, Hy Lạp. Ông đã đưa kịch bình dân thành hài kịch. Có tới 40 hài kịch được coi là của ông, tất cả đều chưa hoàn thành, đều ở dạng bản thảo.
Lúc nào cũng bình tâm
Trong đời sống Epicharmos có nguyên tắc:
- Hãy tỉnh táo, đừng cả tin – đó là sự sáng suốt.
Ông cho rằng:
- Nếu tinh thần trong sạch thì thể xác cũng hoàn toàn trong sạch.
Ông khuyên, nên suy nghĩ lúc tĩnh lặng:
- Nếu tìm điều khôn ngoan, hãy suy nghĩ trong lúc ngủ.
Và:
- Không nên quyết định khi giận dữ.
Ông kết luận:
- Thượng đế bán cho chúng ta mọi của cải bằng cái giá lao động.
Chúng ta không biết chính xác năm sinh, năm mất của Heraclitus, chỉ biết ông sống khoảng năm 500 trước Công nguyên ở Euphesus. Trong khi các triết gia thời kỳ đầu (còn gọi là các triết gia tiền Socrates) tập trung vào việc mô tả chất liệu cơ bản tạo nên mọi sự vật thì Heraclitus lại quan tâm tới vấn đề biến đổi. Theo Heraclitus, biến đổi là sự thống nhất trong đa dạng. Trong khi Thales lấy nước, Anaximenes lấy khí thì Heraclitus lấy lửa và coi lửa là nguyên tố cơ bản trong sự vật. Lửa luôn luôn phải được nuôi dưỡng, nhưng đồng thời nó không ngừng cho đi một cái gì, hoặc dưới dạng nhiệt, khói hay tro. Tư tưởng của Heraclitus được “tái khám phá” do những chú giải của Heidegger.
Chỉ là thay ngôi, đổi vị trí
Theo Heaclitus, cái được đưa vào để nuôi lửa sẽ biến đổi thành một cái gì khác. Heraclitus cho rằng mọi vật là một dòng chảy liên tục, vũ trụ là một ngọn “Lửa-sống-vĩnh-hằng”. Ông nói:
- Mọi vật là sự trao đổi lấy lửa và lửa là một sự trao đổi để lấy mọi vật, giống như trao đổi hàng hóa lấy vàng và trao đổi vàng lấy hàng hóa.
Qua đó, Heraclitus muốn nhấn mạnh rằng không có gì thực sự mất đi, vàng và hàng hóa vẫn tiếp tục tồn tại, mặc dù giờ đây chúng ở trong tay các chủ khác nhau. Ông bảo:
- Mọi vật chỉ là những dạng khác nhau của lửa theo những “đường đi lên và đi xuống”. Lửa sống là cái chết của đất; khí sống là cái chết của lửa. Nước sống là cái chết của khí; đất sống là cái chết của nước.
Heraclitus quan niệm:
- Lửa chính là lý trí (lý tính).
Dòng chảy
Heraclitus cho rằng:
Mọi vật đều ở trong dòng chảy.
Ông nổi tiếng với câu:
Bạn không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông.
Lý do rất đơn giản: sông vẫn còn đó, nhưng nước của dòng sông đó hoàn toàn là nước mới. Heraclitus được coi là một trong những nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại. Mỗi khi nhắc tới sự biến đổi liên tục của mọi sự vật, người ta thường trích dẫn câu nói trên của Heraclitus
Perikles (còn viết là Pèriclés) là nhà cầm quyền nổi danh nhất của Athen thuộc cổ Hy Lạp. Đương thời có hai đảng ở Athen. Đảng Bình dân do Perikles cầm đầu, đối lập với đảng này là đảng Quý tộc do Cimon lãnh đạo. Cho đến thời Pericles, chính quyền chỉ do những công dân có thế lực nhất nắm giữ. Pericles bắt đầu sự nghiệp chính trị từ năm 469 trước Công nguyên. Từ khi chấp chính năm 444 trước Công nguyên, Pericles đã dân chủ hóa toàn bộ nhà nước, đứng ra bảo vệ quyền lợi của người dân, trả lương cho những công dân tham gia quân đội. Pericles đã cho xây cất nhiều công trình kiến trúc đồ sộ, trong đó có đền Partheon ở đồi Acropolis thờ nữ thần Athen (thành hoàng của Athen), ông biến Athen thành đô thị mỹ lệ nhất thế giới bấy giờ. Dưới thời Perikles, kinh tế, nghệ thuật phát triển. Athen có hải quân hùng mạnh. Thời ông được gọi là “Thời đại hoàng kim của Athen”. Năm 629 trước Công nguyên, Athen bị bệnh dịch hạch hoành hành. Pericles qua đời vì bị bệnh dịch hạch. Cùng với sự ra đi vào cõi vĩnh hằng của ông cũng là sự chấm dứt thời kỳ dân chủ và phồn vinh của thành bang Athen.
Dân chủ: dân làm chủ
Hàng năm công dân thành bang Athen tổ chức Công dân đại hội để bầu người đứng đầu. Trong Công dân đại hội các công dân thành bang Athen nghe Perikles tuyên bố:
- Chế độ của chúng ta được gọi là dân chủ, bời vì chính quyền không nằm trong tay một thiểu số, mà là thuộc về đa số, thuộc về mọi người dân…
Perikles đã lãnh đạo đảng Dân chủ của thành bang Athen đạt được thành công rực rỡ cả trong nội chính lẫn trong ngọai giao. Công dân thành bang Athen tin tưởng Perikles, vì vậy từ năm 444 trước Công nguyên, liên tục 15 năm liền, Perikles được bầu làm Thượng đẳng tướng quân (strategos).
Perikles đã khai sáng ra một thời đại, mà các học giả chân chính gọi là “Thời đại Perikles”.
Diogenes (413-327 tr. CN) là một trong những triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại. Ông thuộc trường phái chủ nghĩa Hoài nghi (Cynicism). Ông sống có phần lập dị , là triết gia, nhưng ông đi chân đất, chỉ khoác chiếc áo choàng trên người và sống ở trong một cái thùng to. Diogenes là người coi thường danh vọng, hay châm biếm hài hước đầy hóm hỉnh.
Cách sống của nhà hiền triết
Diogenes sống thanh đạm, an nhiên tự tại. Ông nói:
- Triết gia là người giữ được bình tĩnh trong mọi hoàn cảnh, chấp nhận cuộc sống và cố gắng hết mình vì cuộc sống.
Một người nói nhạo báng:
- Tôi không có gì liên quan với triết học.
Diogenes hỏi vặn:
- Bạn sống để làm gì, nếu không là để cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Có người hỏi ông:
- Khi nào thế giới thịnh vượng?
Ông trả lời ngay:
- Khi các quốc vương làm triết học, khi các nhà triết học lại là quốc vương.
Cái Diogenes cần là ánh (sáng) mặt trời
Hoàng đế Alexandre rất trọng người tài giỏi. Khi ở Corinth, nhà vua đến thăm Diogenes và hỏi, liệu có một đặc ân gì nhà vua có thể làm cho triết gia không thì Diogenes (đang nằm tắm nắng) ung dung đáp:
- Xin nhà vua làm ơn bỏ cái bóng của ngài ra khỏi tôi!
Trên đường trở về, những người tuỳ tùng của Alexandre cười nhạo và cho Diogenes là gàn dở. Nhà vua đánh giá cao những câu nói tự tin và rất trí tuệ. Với giọng hài hước Alexandre bảo:
- Các người cứ cười nếu muốn, nhưng nếu ta không phải là Alexandre, thì ta muốn là Diogenes.
Nhân tính (hồi ấy) cũng khó tìm
Một hôm, vào lúc trưa nắng chói chang, người ta thấy Diogenes tay xách đèn đi giữa phố phường ở thành Athene. Có người hỏi, ông đáp:
- Ta đi tìm một Con người (một người còn có nhân tính- tính người)
Những gì để lại
Người dân quê hương Sinope của Diogenes rất tự hào có người con tài giỏi, người từng khuyên họ bằng lòng với hạnh phúc nhỏ bé và vạch cho họ cách sống hạnh phúc. Sau khi Diogenes mất, họ đã dựng tượng đồng với dòng chữ:
- Thời gian bào mòn cả đá lẫn đồng, nhưng lời nói của Diogenes sẽ còn sống mãi.
LỜI BÌNH: Trong khi ở Ấn Độ triết học nằm trong tôn giáo thì người Hy Lạp cổ đại tách triết học ra khỏi tôn giáo. Khởi đầu là các nhà hiền triết, họ đưa ra những triết lý về đời sống con người và cuộc sống xã hội.
Những nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại thường được nhắc tới là Kleobulos ở Lindos, Periandros ở Korinth, Bias ở Priene, Solon và Pittakos ở Mytilene và Epicharmos... Họ là chính khách, nhà văn, nhà thơ – những người đọc nhiều, hiểu biết rộng, ứng xử nhanh, hóm hỉnh nhưng hợp lý hợp tình, có những câu nói nổi tiếng về những vấn đề thiết thực trong đời sống con người, đời sống xã hội thể hiện sự thông thái. Ta thấy các nhà hiền triết trải nghiệm cuộc sống sâu sắc hơn chúng ta ngày nay, họ không khốn khổ và bất lực bởi áp lực vật chất hay quyền lực, không để nó ảnh hưởng tới cách đối nhân xử thế của mình. Họ sống hết sức nhân văn, giàu trí tuệ với tâm thế an bình, đầy tự tin ở sự thông thái của mình.
Nhà triết học, toán học danh tiếng cổ Hy Lạp Pythagoras (571-497 tr. CN) sinh năm 571 trước công nguyên ở Samos. Ông không để lại tác phẩm nào. Người ta chỉ biết đến ông và trường phái (nghiên cứu triết học và tôn giáo Pythagoras) do ông sáng lập ra qua sách, thư tịch do học trò ông ghi chép, sưu tầm.
Triết học Pythagoras là một hệ thống triết học duy tâm thần bí. Ông tin thuyết luân hồi (metepsychosis). Ông cho rằng linh hồn bị giam hãm trong thể xác có thể nhờ học tập mà trở nên thuần khiết. Do đó ông chủ trương sống thuần khiết, uống nước trong, ăn đồ không cần nấu và luôn tự xét mình. Ông cho rằng, mọi hiện tượng (như trăng tròn, trăng khuyết, nhật thực) trong vũ trụ đều có quy luật của nó. Pythagoras cũng là nhà toán học. Ông chứng minh định lý về số đo các cạnh của một tam giác, định lý về tổng các góc trong một tam giác (sau này được gọi là Định lý Pythagores).
Niềm tin và tâm linh
Mối bận tâm của các nhà toán học là con số. Ký hiệu quan trọng của trường phái Pythagores là ngôi sao năm cánh. Khẩu hiệu của trường phái này là “Mọi cái đều là con số”. Tuy là nhà khoa học, nhưng Pythagores lại sửng sốt khi cộng ba con số đầu tiên 1 +2 +3 = 6. Ông gọi số 6 là con số linh thiêng. Khi cộng bốn số đầu tiên 1 + 2 + 3 + 4 = 10. Ông gọi con số 10 là con số tuyệt vời.
Thấy và thực nghiệm – chứng minh
Về số đo các cạnh của một tam giác vuông, về tổng các góc trong một tam giác người ta biết từ lâu, nhưng chưa ai chứng minh được. Pythagores đã thực nghiệm và chứng minh điều mà những người trước ông đã biết và chấp nhận:
- Trong một tam giác vuông, bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương các cạnh góc vuông.
- Tổng các góc trong một tam giác vuông bằng 180 độ.
Sau này người ta gọi chúng là định lý Pythagores về cạnh huyền , Định lý về tổng các góc trong một tam giác vuông.
Thales (624-547 tr. CN) là người sáng lập ra trường phái triết học Miletus. Theo ông, tất cả bắt đầu từ nước, rồi trở lại yếu tố cuối cùng là nước. Thales là mộtthương gia giàu có. Ông đi du lịch nhiều nơi như Ai Cập, Babylon, ông giao du với nhiều nhà thông thái phương Đông, qua đó ông tiếp thu được nhiều kiến thức mới mẻ và nâng những tri thức đó lên trình độ khoa học. Ông là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại.
Thales là người đặt nền móng cho hình học, thiên văn học, triết học Hy Lạp.
Nhà toán học Thales ở thời kỳ nào?
Người ta ước tính, sự phát triển của môn hình học có thể chia làm bốn thời kỳ: 1. Việc đo chia ruộng đất, tính diện tích, thể tích khi xây dựng nhà cửa, đền đài ở Ai Cập, Babylon, Hy Lạp trước thế kỷ V trước Công nguyên dẫn tới hình thành các chữ geometrie (đo ruộng), geometer (nhà hình học, con sâu đo), geometry (hình học). 2. Hình học được trình bày có hệ thống lôgíc đúng như một môn khoa học. Các mệnh đề bắt đầu được chứng minh. Định lý Thales: Nếu trên một cạnh của một góc ta đặt từ đỉnh các đọan bằng nhau và qua các đầu mút của chúng ta kẻ các đường song song cắt cạnh thứ hai những đọan bằng nhau” được biết đến ở Hy Lạp vào thời kỳ này. 3. Hình thành các môn hình học giải tích do Decartes và Ferma sáng lập ở thế kỷ XVII, hình học xạ ảnh do Decartes và Pascal sáng lập, hình học vi phân do Euler và Monge phát triển ở thế kỷ XVIII. 4. Ra đời hình học Lobatsevxki (hình học phi Euclide).
Vô dụng khi lý thuyết, hữu dụng khi thực hành
Có lần vì mải ngắm các vì sao nên Thales bị ngã xuống giếng nước. Cô hầu gái người Thracia kể với mọi người:
Rằng ông muốn biết xem cái gì đang xảy ra ở trên trời, khiến ông không thể thấy cái gì đang ở dưới chân ông.
Thales nổi tiếng là người biết nhiều, nhưng người ta chê Thales vì ông quá nghèo (như để chứng minh cho sự vô dụng của kiến thức thiên văn). Có lần quan sát khí tượng thủy văn, ông biết vụ hè tới sẽ có một mùa bội thu trái ô-liu ở Miletus và Chios. Thales đặt cọc trước thuê tất cả máy ép dầu ô-liu ở Miletus. Khi mùa thu họach đến, rất đông người cần thuê máy ép cùng một lúc nên Thales có thể cho thuê máy với giá cao, vì thế ông thu được một món tiền lớn.
Thời thượng cổ, mỗi người có một tên. Khi dân số tăng, để phân biệt những người cùng tên, người ta gắn thêm địa danh nơi người ấy sinh ra, hay một đặc điểm gì đó. Trường hợp Pyrrhon (365-275 tr. CN) cũng vậy. Nếu gọi Pyrrhon ở Elis thì đó chính là nhà triết học cổ Hy Lạp Pyrrhon (Pirông) ở Elis. Cũng như Aristote, Pyrrhon không để lại sách, nhưng ông vẫn được coi là người sáng lập chủ nghĩa hoài nghi cổ Hy Lạp (antiker griechischer Skeptizismus; Hoài nghi theo nghĩa: phải suy nghĩ, xem xét, nghiên cứu). Những người theo chủ nghĩa hoài nghi tự gọi mình là Pyrrhoner. Người ta biết về học thuyết Pyrrhon qua sách của môn đệ của ông, trong đó có Timon. Theo Pyrrhon thì chúng ta không thể biết được bản tính của vật, bởi vậy tốt nhất là kiềm chế để giữ được sự thanh thản, sự bình yên của tâm hồn. Pyrrhon hiểu hạnh phúc là sự trầm tĩnh (tĩnh tâm) và là tình trạng không có đau khổ (vô cảm), còn phương tiện để đạt tới hạnh phúc là chủ nghĩa hoài nghi.
Cố học để sau này làm điều ngược lại
Pyrrhon thích hội họa, nhưng sau khi nghe hùng biện liền say mê triết học. Pyrrhon theo học một người theo phái Zinic (xi-ních)- phái biểu hiện tâm trạng của các tầng lớp dân chủ của xã hội chiếm hữu nô lệ. Học xong, Pyrrhon nói:
- Mọi câu nói đều có câu nói ngược lại.
Pyrrhon không khẳng định, luôn hoài nghi bằng thái độ vô cảm (ataraxia), bằng lãnh đạm (adiaphora), bằng dửng dưng (apatheia). Nếu hoài nghi tất cả thì phải hoài nghi cả thuyết hoài nghi!? Sextus Empiricus, một môn đệ của Pyrrhon nói:
- Triết lý hoài nghi giống như một thứ thuốc xổ, một khi giải tỏa được những dơ bẩn kết tập trong thể xác thì cũng bị tiêu tan với chúng.
Phục thiện kiểu Alexander
Pyron từng tham gia vào những cuộc viễn chinh châu Á của Alexander và được chứng kiến cuộc trò chuyện của Alexander với nhóm các triết gia khổ hạnh - những triết gia mặc khố (không quần áo) - bị bắt làm tù binh . Họ gày gò,rách rưới, trên cơ thể họ không có gì ngoài cái khố. Cuộc đàm đạo bắt đầu bằng câu hỏi của Alexander:
Người chết hay người sống nhiều hơn?
Người sống, vì con người không chết.
Đất hay biển nuôi dưỡng nhiều người hơn?
Đất, vì biển là một phần của trái đất.
Con vật nào tinh ranh nhất
Con vật mà con người tới nay vẫn chưa biết.
Ngày và đêm, cái gì xuất hiện sớm hơn?
Ngày, sớm hơn một ngày.
Làm thế nào trở thành người được yêu quý nhất?
Trở thành người hùng mạnh nhất, nhưng không phải là người khủng khiếp nhất.
Sống và chết, cái gì mạnh hơn?
Sống, vì chỉ có nó mới mang lại những đau khổ như vậy.
Con người làm thế nào để trở thành Thượng đế?
Làm điều mà con người không làm được.
Thích thú với những câu trả lời, Alexander đã thả họ. Pyrrhon lầm rầm:
- Ai mà biết được, có thể lối ứng xử kỳ quặc của một kẻ xâm lăng vĩ đại đã đem lại cho thế giới một con người kỳ quặc nữa.
Trong cách đối nhân xử thế trong lịch sử nhân lọai thường có hai kiểu: 1. xem con người là cứu cánh 2. xem con người là phương tiện.
Không là thế này cũng không là thế kia
Nhờ cuộc diện kiến trên mà Pyrrhon làm thân được với một vài thiền sư Ấn Độ. Thái độ lãnh đạm của họ trước những biến cố đầy bất trắc khi bị cầm tù làm Pyrrhon hết sức ngạc nhiên, bỡ ngỡ. Pyrrhon coi đó như một sức mạnh huyền bí. Các thiền sư Ấn Độ chủ trương một lý thuyết: nhà hiền triết phải là người không được nói năng chi cả (aphasia), không được khẳng định hay phủ định chi cả, nghĩa là không là thế này cũng không là thế kia (ouden mallou= pas plus l’un que l’autre).
Có lẽ Pyrrhon đã học được ở những thiền sư Ấn Độ “cái lãnh đạm” và chủ trương của họ nên ông luôn nói nơi cửa miệng:
- Không là thế này cũng không là thế kia. Không dễ gì mà hoàn toàn lọai bỏ được các phẩm chất của con người.
Lối suy diễn của Pyrrhon
Theo Pyrrhon thì tính biến đổi liên tục của các vật đưa tới sự phân biệt không rõ ràng do trực giác, giác quan chỉ cho phép ta biết được những gì thuộc về bề ngoài của sự vật, còn chính bản tính sự vật lại không thể biết được, nên:
- Không thể phán xét chúng từ góc độ “chân lý” và “giả dối”.
Ông bảo:
Nếu mọi người cũng cảm thấy một cái là đẹp thì đã không có cuộc tranh cãi thù địch giữa mọi người.
Ông nói tiếp:
- Cảm giác được tạo ra dường như chỉ để lừa dối, còn bản thân con người đã học được cách lừa dối bản thân bằng chính các giác quan của mình: con người nhìn thấy trong mơ, cảm nhận thấy thần linh !? Tại sao con người lại phải thoả mãn với các cảm giác của mình, khi nó thua con nhện và con rắn về cảm giác nhiệt độ? Lẽ nào chúng ta lại ghen tỵ với… động vật? Phải chăng do con người làm tất cả theo luật pháp và tập quán!?
Nhà triết học Pháp Pierre Bayle (1647-1706) nhận xét:
Học thuyết Pyrrhon – đó là nghệ thuật thảo luận mọi vấn đề luôn kiềm chế phán đóan.
Có vô cảm được không
Một hôm, thầy dậy học bị sa xuống đầm lầy, trò Pyrrhon thản nhiên đi ngang qua, nhìn thấy nhưng không giúp đỡ. Bản tính Pyrrhon bí ẩn và độc đáo. Ông không thích gì, không gì làm ông nổi giận. Có lần ông rất tức giận vì một chuyện đã xảy ra với chị gái của ông. Có người hỏi, sao ông lại như vậy. Ông trả lời:
- Không phải vì phụ nữ mà phô trương thái độ thờ ơ.
Lần ấy, bị một con chó tấn công và Pyrrhon sợ hãi. Bị mọi người chế giễu, ông đáp:
Không dễ gì mà hoàn toàn lọai bỏ được các phẩm chất của con người.
Lối suy diễn của Pyrrhon
Theo Pyrrhon thì tính biến đổi liên tục của các vật đưa tới sự phân biệt không rõ ràng do trực giác, giác quan chỉ cho phép ta biết được những gì thuộc về bề ngoài của sự vật, còn chính bản tính sự vật lại không thể biết được, nên:
- Không thể phán xét chúng từ góc độ “chân lý” và “giả dối”.
Ông bảo:
Nếu mọi người cũng cảm thấy một cái là đẹp thì đã không có cuộc tranh cãi thù địch giữa mọi người.
Ông nói tiếp:
- Cảm giác được tạo ra dường như chỉ để lừa dối, còn bản thân con người đã học được cách lừa dối bản thân bằng chính các giác quan của mình: con người nhìn thấy trong mơ, cảm nhận thấy thần linh !? Tại sao con người lại phải thoả mãn với các cảm giác của mình, khi nó thua con nhện và con rắn về cảm giác nhiệt độ? Lẽ nào chúng ta lại ghen tỵ với… động vật? Phải chăng do con người làm tất cả theo luật pháp và tập quán!?
Nhà triết học Pháp Pierre Bayle (1647-1706) nhận xét:
Học thuyết Pyrrhon – đó là nghệ thuật thảo luận mọi vấn đề luôn kiềm chế phán đóan.
(còn tiếp)
Nguồn: Lãng du trong các nền văn hóa. Biên soạn: Lương Văn Hồng. NXB Văn học sắp xuất bản. |