tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
10.12.2010
Lương Văn Hồng
Lãng du trong các nền văn hóa (8): Nhật Bản

Tên nước:   Nhật Bản  (Japan: đất nước mặt trời mọc)


Năm 607, Nhật Bản cử sứ giả Tiểu Dã Muội Tử sang triều đình nhà Tùy, Trung Hoa. Trong quốc thư viết: “Thiên tử nơi mặt trời mọc gửi Thiên tử nơi mặt trời lặn… (Nhật xuất xứ thiên tử trí thư nhật một xứ thiên tử…). Lần đầu tiên chữ “Nhật” được dùng cho tên nước. Năm 720, Nhật Bản dùng văn Hán viết tất cả các tên xưa như “Đại hòa”, “Oa” thành Nhật Bản. Sử sách đời Đường có ghi: “Nước Nhật Bản là tên gọi khác của nước Oa. Nước này ở gần mặt trời, nên lấy tên là Nhật Bản” (Oa quốc tự ốkỳ danh bất nhã, cải vi Nhật Bản). Hiến pháp 1946 cũng công bố tên nước là Nhật Bản.


Diện tích:    377.837 km2


Dân số:  126.434.500  người


Quốc khánh:  11 tháng Hai


Quốc ca:  Triều đại quân vương    (Kimigaygo)


(lời trong “Cổ kim tập;  nhạccủa  Rin Hiromori)


Triều đại quân vương, đời đời truyền mãi không thôi. Một ngàn đời, tám ngàn đời, cho đến khi hòn đá nhỏ trở thành núi lớn, khắp đỉnh núi là rêu xanh phủ kín.


Quốc kỳ: vào thế kỷ 8 sau Công nguyên, trong nghi thức đón mừng năm mới có treo lá cờ màu trắng, ở giữa nền cờ là vầng mặt trời đỏ. Màu trắng tượng trưng cho thuần khiết và chính trực. Màu đỏ tượng trưng cho chân thành và nhiệt tình. Lá cờ này được gọi là Cờ Thiên hoàng. Năm thứ 5 đời Minh Trị , người dân thành Tokyo thỉnh cầu treo cờ chúc mừng năm mới. Quan Thái chính cho phép. Sau này, lá cờ Mặt trời được quy định là quốc kỳ Nhật Bản.


Quốc huy: Biểu tượng của Hoàng tộc là bông hoa cúc vàng có 16 cánh đều. Năm 1867, biểu tượng này được quy định là quốc huy Nhật Bản.


Thủ đô:  Tokyo


Ngôn ngữ chính thức:  Tiếng Nhật


Tôn giáo:   Đạo Phật và Thần đạo


Tiền tệ:  Đồng Yên


 


LÃNG DU TRONG VĂN HỌC NHẬT BẢN


Thi sĩ, thiền sư Nhật Bản Matshuo Basho (1644-1694)  sinh ra trong một gia đình samurai ở thị trấn Ueno xứ Iga. Basho từng  sống ở chùa trên núi Koya. Nơi đây chàng trai Matsuo Munefusa (họ tên thật của Basho)  cảm nghiệm được nỗi vô thường (mujo) và niềm cô tịch (sabi). Basho học lại cổ văn Nhật ở thầy Kigin, học cổ văn Trung Quốc và thư pháp ở những thầy khác.


                          Kokoro (cái tâm trong thơ) trong thơ Basho


Nét nổi bật trong văn hóa Nhật là tình yêu cái đẹp. Ở thơ Basho ta thấy tính bay bổng của thi sĩ; có cái trầm lắng của thiền sư. Thơ Basho bao trùm cả đời sống con người và vũ trụ. Chất thi sĩ (bùi ngùi đứng dưới bóng cây anh đào, nhớ người bạn Yoshitada yểu mệnh):


                    Nhiều điều xiết bao


                    Gợi hồn ta nhớ


                   Những cánh hoa đào.


và thiền sư


                    Trên cành khô


                    Cánh quạ đậu


                    Chiều Thu.


quyện trong thơ Basho được Kawabata gọi là kokoro (cái tâm trong thơ). Về thơ ở đất nước hoa anh đào, Kawabata nhận xét:


-    Ở Nhật, sau gần một thế kỷ du nhập văn chương Tây phương, không có gì đạt nổi  tới đỉnh cao của kiểu mẫu văn chương Nhật Bản mà Murasaki thời Heian hay Basho thời Tokugawa đã biểu hiện.


 


Yasunari Kawabata (1899-1972) là  tiểu thuyết gia nổi tiếng của văn học Nhật Bản thế kỷ 20. Ông  sinh ở một  làng  ngoại ô thành phố thương mại-công nghiệp Osaka. Cậu bé Kawabata mồ côi cả cha lẫn mẹ khi chưa đầy 4 tuổi. Năm cậu 8 tuổi thì bà nội và chị ruột mất. Nỗi bất hạnh, cô đơn lại đến với Kawabata  năm 16 tuổi, khi người thân cuối cùng (ông nội) qua đời. Những tiểu thuyết tiêu biểu của ông là  “Vũ nữ xứ Izu” (1926);  “Xứ tuyết” (1948); “Đàn chim trắng bay mù trời” (1949-1952);  “Tiếng gầm rú của núi đồi” (1949-1954)  v.v. Các tác phẩm của Kawabata được dịch ra nhiều thứ tiếng và rất nổi tiếng ở phương Tây. Kawabata nhận giải Nobel văn chương năm 1968.


 


                        Nhân tình thế thái thời Kawabata


Với văn phong rất chau chuốt, với một thứ văn xuôi trữ tình, Kawabata viết tác phẩm “Vũ nữ  xứ Izu”. Nhưng những tác phẩm ông viết sau thế chiến II thể hiện cái bi thảm, chiều sâu của cảm xúc con người Nhật Bản, thể hiện cái tất yếu cay đắng khi phải giã từ truyền thống. Cuộc sống vô nhân xưng, vô cảm của xã hội công nghiệp hiện đại tràn lấn, ngự trị đời sống Nhật Bản. Qua đó cho ta thấy ông gắn bó với truyền thống Nhật Bản. Cảnh đau lòng ấy giằng xé nội tâm nhà văn. Năm 1972,  ông tự giải thoát mình bằng tự vẫn.


72% diện tích nước Nhật  là núi. 67 ngọn núi lửa đang hay sẽ hoạt động truyền cho người Nhật tính kiên cường chịu đựng nghịch cảnh. Điều này ta thấy rõ ở tính cách của tiểu thuyết gia Kawabata. Cuộc đời Kawabata bị ám ảnh bởi sự cô đơn và cái chết, nhưng ông vẫn sống và làm việc hăng say. Giải thích lý do tại sao mình sống, ông nói: Tình yêu là sợi dây duy nhất giữ  tôi ở lại với đời.


Mishima Yukio gọi Kawabata là “vĩnh viễn lữ nhân” (người lữ khách muôn đời).


 


LỜI BÌNH:  Trong lịch sử của mình, nước Nhật không hề bị nạn ngoại xâm đô hộ. Nước Nhật phát triển như thế nào phụ thuộc chính vào sự nhận thức và nỗ lực của nhà nước và người dân. So với Trung Hoa láng giềng thì Nhật cũng có điều cần học hỏi, nhưng hai nước cùng có cơ cấu phong kiến. Khi vai trò tiến bộ so với chế độ nô lệ đã qua thì chế độ phong kiến lại là lực cản sự phát triển của đất nước. Nước Nhật giờ đây muốn hướng ngoại. Người tạo ra bước ngoặt vĩ đại cho đất nước Nhật Bản là Minh trị Thiên Hoàng.


Đầu năm 1868, Thiên hoàng công bố một văn kiện có tính chất cương lĩnh của đường lối duy tân Nhật Bản là “Chính thể thư” nhằm xóa bỏ các tước hiệu phong kiến, thủ tiêu ranh giới cát cứ giữa các công quốc để tiến tới thống nhất về mặt hành chính dưới quyền lãnh đạo của chính phủ trung ương. Luật pháp quy định chính sách và quyền tự do mua bán ruộng đất, tự do mua bán nông phẩm. Thương nghiệp phát triển nhanh chóng nhờ xóa bỏ độc quyền, thống nhất thị trường, nhờ thành lập ngân hàng và mở rộng ngoại thương, công nghiệp được khuyến khích, thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc, cử người đi nghiên cứu và học tập ở nước ngoài, xây dựng  quân đội theo kiểu phương Tây.


Năm 1880, “Luật giáo dục” được ban bố. Mỗi học sinh hàng ngày phải lạy trước ảnh Thiên Hoàng. Luật quy định:


-   Mục đích của giáo dục phải nâng cao chí khí tôn vương ái quốc. Trách nhiệm của giáo viên dạy cho học sinh tiểu học rõ việc trung thành với hoàng gia, yêu quốc gia…”.


Giáo  dục có  mục đích rõ  ràng  cộng với hỗ trợ của Hiến pháp, nước Nhật cứ thế mà nỗ  lực phát triển. Hiến Pháp 1889 quy định Nhật Bản theo chính thể quân chủ lập hiến. Cuộc Duy tân do Thiên hoàng Mutsuhito tiến hành  có ý nghĩa như một cuộc cách mạng tư sản và có ảnh hưởng lớn đến phong trào yêu nước ở Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Đông Nam Á.


Trước thế kỷ 17, Nhật Bản chỉ là một đảo quốc phong kiến nghèo nàn lạc hậu. Thiên Hoàng (được coi là con cháu của thần Mặt trời) thứ 122, trong hệ thống các Thiên Hoàng Nhật Bản là Mutsuhito (còn gọi là Minh trị Thiên Hoàng) với 45 năm tại vị, đã tiến hành cải cách duy tân đưa nước Nhật từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản chủ nghĩa, làm cho nước Nhật thành một thế lực trên chính trường quốc tế.


                                                             ***


Nước Nhật không có nhà vật lý kiêm nhà hoá học nổi tiếng như John Dalton của nước Anh, cũng không có nhà triết học nổi tiếng như Bergson của nước Pháp. Hai đoạn văn sau cho ta thấy cái tài của người Anh, người Pháp.


 


Không phải là nhìn thấy, mà là học hỏi


Năm 1781, trong lúc trò chuyện với ông chủ hiệu sách, ông chủ hiệu sách bảo chàng trai 15 tuổi  John Dalton hãy đến gặp nhà thiên văn Haophe ở Kenđan. John Dalton đến nơi thấy một ông già tóc bạc ngồi quay lưng lại phía mình. John cất tiếng chào. Ông bảo:


-  Anh hãy lại gần tôi, anh đưa tay đây. Anh là ai?


John sững sờ khi thấy ông là một người mù. Chàng nói:


-  Xin ngài thứ lỗi cho. Người ta nói rằng ngài là một nhà thực nghiệm lỗi lạc… Tôi thật không sao hiểu được.


- Anh bạn trẻ thân mến của tôi!  Những cái mắt anh nhìn thấy có thấm vào đâu so với những điều anh hiểu biết được bằng trí tuệ!


                                                                         *


Henri Bergson là nhà triết học Pháp gốc Do Thái. Bergson cho rằng, khoa học (hiện đại) bất lực không đi vào được những trạng thái của ý thức. Có những hiện tượng không thể nhận biết bằng giải thích, phân tích khoa học, nhưng có thể nhận biết bằng khả năng trực cảm, bằng chiêm nghiệm. Bởi vì chỉ ở đó mới có sự sáng tạo, mới biểu hiện cái tôi sâu sắc, “cái tôi thật”, khác với “cái tôi xã hội”.


 


Không nên “đeo kính”


Muốn bắt gặp chân lý tuyệt đối- theo Bergson thì: phải gạt bỏ ngay hệ thống tư tưởng đã được nhồi nhét trong óc chúng ta.


Phải căn cứ trên “trực giác”


-  Trực giác này do lương tri của chúng ta cho chúng ta mỗi khi chúng ta đứng trước một sự vật, không cần phải lý luận nhiều.


Bergson biện luận, chúng ta đứng trước bức tường trắng (chân lý). Người này thấy bức tường màu đỏ, người khác thấy bức tường màu vàng. Nghĩa là người này đeo kính đỏ, người khác đeo kính vàng. Muốn thấy đúng màu trắng của bức tường thì phải vứt bỏ kính đi (hệ thống tư tưởng đã bị nhồi nhét trong óc), nhìn bức tường trực tiếp bằng cặp mắt trời cho. Khi ấy, ta thấy bức tường mầu trắng.


                                           ***


Người Nhật cũng có cách làm và cách nghĩ như người Anh, người Pháp, nhưng người Nhật là người đi sau. Trong khi Bergson có thuyết trực giác thì người Nhật có „zen“. Người phương Tây ưa lý luận và đưa nó thành –ismus (một thứ chủ nghĩa/học thuyết) thì người phương Đông ưa nhìn tổng thể kiểu yoga (yoga kiểu Nhật Bản là zen). Với „zen“ thơ Nhật Bản cũng đạt tới tuyệt đỉnh của thi ca. Bahso và Kawabata là những  ví dụ.


Thơ  Basho “thanh thản bơi trong biển Thiền” giữa cuộc sống thường nhật, thể hiện những tinh tế trong tâm hồn Nhật Bản và trở thành phong cách riêng của Basho và được gọi là Shofu. Thơ Basho được tập hợp lại in trong “Ba tiêu thất bộ tập” (Basho Shichibu Shu) gồm: Mùa đông, Mùa xuân; Mùa hạ; Mùa thu; Hoang dã; Bầu rượu; Áo rơm cho khỉ. Ngoài thơ, Basho còn tập văn xuôi kể lại chuyến đi phương Bắc của ông: “Những con đường hẹp ở Oku” (Oku no Hosomichi).


Thất bại ê chề trong đại chiến Thế giới thứ hai đẩy người Nhật vào suy gẫm. Kawabata là  một điển hình trong chuyện đó.


Năm 20 tuổi Kawabata học văn học Anh, rồi chuyển sang học văn học Nhật ở Đại học tổng hợp Tokyo. Văn học Nhật Bản làm cho Kawabata gắn bó với nền văn học dân tộc. Văn học Anh như luồng sinh khí mới tiếp sức cho Kawabata trong việc dấn thân vực dậy nền văn học Nhật Bản khỏi áp lực ngoại lai. Ông sáng lập tạp chí “Văn nghệ thời đại”( Bungei Jidai), tạp chí “Tư tưởng mới” (Shinshicho), tạp chí “Biên niên sử văn học”  (Bungei Shunju) và trở thành nhà văn đại diện cho phái “Tân cảm giác”  (Shinkunkaku) với ý thức chống lại chủ nghĩa tự nhiên đang áp đảo văn chương Nhật từ sau thế chiền I. Tác phẩm của ông là sự hoà hợp giữa  hiện thực và kỳ ảo. Ông suy ngẫm về nỗi đau khổ của cuộc đời và về cái chết. Các tác phẩm của Kawabata được dịch ra nhiều thứ tiếng và rất nổi tiếng ở phương Tây. Kawabata nhận giải Nobel văn chương năm 1968.


 


LÃNG DU TRONG HỘI HỌA NHẬT BẢN


Danh họa kiêm điêu khắc gia nổi tiếng của Nhật Bản Katsushika Hokusai (1760-1849) sinh ở Edo (nay là Tokyo). Thưở nhỏ Hokusai học vẽ ở họa sĩ Ukiyoe- một người nổi tiếng về những bộ tranh diễn viên sân khấu Kabuki. 19 tuổi, ông theo học họa sĩ  Shunshokat Sukawa. Khi thầy dậy học qua đời, tranh của Hokusai chịu ảnh hưởng của đại danh họa Utamaro. Rồi ông vẽ loại tranh Bijinga. Những tác phẩm tiêu biểu Hokusai để lại cho đời sau là: 15 tập tranh “Mạn họa” (tranh phong cảnh, sinh họat);  “Những chiếc cầu”; “Những đập nước”; “Thi sĩ Trung Hoa và Nhật Bản”. Về sự hùng vĩ của thiên nhiên là  “100 cảnh núi Phú Sĩ”, “Sóng cồn”, “36 cảnh quan trên núi Phú Sĩ”.


 


                              Lão cuồng họa


Hokusai thọ gần 90 tuổi, suốt đời gần như ông không rời cây cọ vẽ, ông để lại 30 nghìn tác phẩm; 13 nghìn tranh khắc minh họa cho gần 500 cuốn truyện. Hokusai  hiến dâng đời mình cho hội họa và tự gọi mình là Gakyojin (Lão cuồng họa). Người ta thường so sánh ông với danh họa Pháp Eugène Delacroix (1798-1863). Hai danh họa Hokusai-Delacroix là hai phong cách gần như đối lập về cách thể hiện, lại ở hai phương trời khác nhau. Hokusai theo lối đồ họa in khắc truyền thống có từ tranh cổ Nhật Bản ở phương Đông. Declaroix ưa chuộng những đề tài ngọai lai và nhiều xúc động, ông trung thành với truyền thống Cổ điển phương Tây.


Tranh của Tosa, Kano; lối vẽ mặc họa của Sesshu, những tác phẩm hội họa đời Minh, đời Thanh Trung Quốc đều có ảnh hưởng  lớn đến quan niệm thẩm mỹ của Hokusai. Có nhà phê bình đánh giá: Họa sĩ Hokusai là nhà sáng tạo nên hội họa Nhật Bản- theo khuôn mẫu Trung Quốc cổ – nhưng hiện đại.


LỜI BÌNH:  Từ “Japan” xuất xứ từ tiếng Nhật “Nippon” (nghĩa là dòng dõi mặt trời). Người Nhật gọi nước mình là “Đất nước mặt trời mọc”, vì họ tin rằng những tia sáng  bình minh chiếu lên đất nước họ đầu tiên. Nhật Bản là một cánh cung khổng lồ tạo thành bởi 4.000 hòn đảo, nằm trong vùng ảnh hưởng của hai vành đai núi lửa bao quanh một vùng rộng lớn của Thái Bình Dương. Núi Phú Sỹ (Fujiyama-san) cũng là núi lửa, là ngọn núi cao nhất Nhật Bản, đồng thời là biểu tượng tinh thần của người Nhật Bản. Phú Sỹ  truyền cho người Nhật Bản tính kiên cường chịu đựng nghịch cảnh: đã là dân hải đảo lại luôn bị đe doạ bởi nguy cơ bộc phát của núi lửa. Cảnh ấy tạo nên tính cách dữ dội trong đam mê của người Nhật Bản. Biển bao quanh đảm bảo cuộc sống, nhưng biển cũng là nơi người Nhật thực hiện những ước mơ.


Nước Nhật có truyền thống đưa sự đam mê ngành (như hội họa) nghề (như võ sĩ samurai), lối sinh hoạt (như uống trà) lên thành một thứ Đạo: võ sĩ đạo, trà đạo-tới đỉnh cao của nó với tất cả trí lực. Hosukai một điển hình của Đất nước mặt trời mọc.


Ông tìm hiểu sâu sắc những kỹ thuật truyền thống trong tranh cổ Nhật Bản. Ông cũng tìm hiểu cặn kẽ lối vẽ của phương Tây: bố cục chặt chẽ, cân đối. Ông áp dụng luật xa gần với một đường chân trời thường được hạ thấp. Ông thực sự làm thay đổi lối viễn cận cũ trong hội họa Nhật Bản.


Tranh đồ họa in khắc  của Hokusai tới châu Âu thế kỷ 19 và có ảnh hưởng lớn tới hội họa ấn tượng Pháp; màu trang trí phẳng đều và mẫu hình biểu hiện của tranh khắc Nhật Bản là điều mới lạ đối với các họa sĩ Pháp. Có ba dân tộc luôn đi tìm sự hoàn hảo trong công việc là Trung Hoa, Đức, Nhật Bản. Trung Hoa khép kín bởi núi non hiểm trở và biển cả, “đóng cửa” phát triển theo nội lực của một nước đông dân nhiều tài vật và có những đỉnh cao trong văn minh nhân loại. Dân số ít, nước nhỏ nên Nhật Bản tìm cái hay của nước láng giềng, phát triển nó lên cực điểm nhuốm màu đời sống tâm linh như “võ sĩ đạo”, như “trà đạo”- những biểu tượng trong  đời sống người Nhật Bản. Cái gì người Đức đã khởi xướng, họ đem hết tâm trí, sức lực tập trung để đưa cái đó tới sự hoàn hảo theo kiểu “chủ nghĩa hoàn hảo Đức” (Deutscher Perfektionismus).


(còn tiếp)


Nguồn: Lãng du trong các nền văn hóa. Biên soạn: Lương Văn Hồng. NXB Văn học sắp xuất bản.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dữ liệu lớn tiết lộ: Tuyến đường “chạy trốn”của 60.000 người Vũ Hán khớp với sự lây lan đại dịch toàn cầu - Minh Thanh 27.03.2020
Nguồn gốc tên 7 châu - Vương Trung Hiếu 25.03.2020
Trì Hạo Điền: Trung Hoa là dân tộc thượng đẳng! - Trì Hạo Điền 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chuyện xứ mình viết hoa - Nguyễn Thu Trân 23.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của vài chữ Nôm cổ - Vương Trung Hiếu 22.03.2020
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - tiền gián, bẻ tiền bẻ đũa (phần 21) - Nguyễn Cung Thông 19.03.2020
Vì sao mặn miền Tây năm nay rất gay gắt? - Tư liệu 19.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Chuyện chữ nghĩa: Nghĩa của chữ Tử/ Sương là người góa chồng? - Vương Trung Hiếu 17.03.2020
Vụ Đồng Tâm: 'Cách hành xử nhẫn tâm, như thời Trung Cổ' - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
xem thêm »