tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
16.04.2015
Huỳnh Văn Kháng
Vượt ngục (trích từ Truyện ký)

Gần 8 giờ tối, trời bắt đầu mưa nặng hạt, chúng tôi đã có mặt tại giếng. Tôi, Ký và Ấn trao đổi nhanh công việc: tôi mở hàng rào bò trước; tiếp theo là Ấn bò qua khỏi 11 lớp hàng rào bên trong, qua lộ đưa cơm rồi bò về phía trạm gác ở góc bên phải, núp sau thằng lính gác, nếu nó phát hiện anh em thì “dứt” nó ngay, và bò theo những người cuối cùng vào hàng rào mìn; Ký bò sau cùng để nghi trang lối đi. Trong đám người có mặt tại giếng nước có chú Hai Thanh, Lê Minh Châu và một số người khác không biết có phải cùng phe với chúng tôi hay không. Tôi nhét túi rút có bộ đồ tây, một quần cụt và gói lương khô vào trong quần đùi, cột dây lưng chặt lại, nằm sấp xuống vũng nước, vạch hàng rào chui qua, phía sau sát tôi là Ấn. Hàng rào này tôi đã mở sẵn, vạch và chui qua thôi không mất thời gian. Chưa đầy 10 phút tôi đã qua 11 lớp hàng rào trong cùng, nằm sát lộ đưa cơm, dòm trái dòm phải, mưa nặng hạt tôi dòm không thấy cả thằng lính gác và lô cốt cách đó khoảng 30m, mình không thấy nó, chắc chắn nó cũng không thấy mình. Tôi bò ngang qua lộ đưa cơm, quan sát, bò vượt khoảng đất trống tiến về phía sau ngôi chùa để tiếp cận hàng rào chính. Vạch hàng rào đã mở, tạo khoảng trống cho anh em trong đoàn bò qua, cũng chưa đầy 10 phút tôi qua hết 16 lớp hàng rào đã mở và đến hàng rào chưa mở, nhìn lên hàng rào mắt cáo để quan sát dây gài lựu đạn, cắt đứt để không vướng lối đi, bẻ cụp các dây kẽm gai mắc ngang trên hàng rào, kéo banh dây kẽm dọc cố định lại, hai bàn tay xòe ra chạm nhè nhẹ trên mặt đất để tìm mìn râu, tạo thành một lối an toàn khoảng 5 tấc để anh em bò theo.



 



Khóa an toàn 2 trái mìn, tháo 3 trái lựu đạn để qua hai lớp hàng rào mắt cáo và hai lớp hàng rào mái nhà thì đến một lớp hàng rào kiên cố như bức tường thành, dây kẽm gai căng thẳng không xê dịch được, tôi vội mò mìn dọc theo bức tường kẽm gai tạo một khoảng an toàn đủ rộng để chờ anh em phía sau lên xử lý. Lúc này trời mưa bớt đi, nhưng có lẽ anh em đã nằm trong lớp hàng rào này hết, không sợ chúng phát hiện, tôi quay đầu nói nhỏ với người bò sau tôi nhờ chuyển lại ý kiến của tôi đề nghị anh Ký và anh Ấn bò đến trước để cùng xử lý. Một lúc sau Ký và Ấn đã có mặt, Ký sờ hàng rào lắc nhẹ và lấy tay thọc qua lớp hàng rào mắt cáo và nói:



 



- Đây là hàng rào bùn nhùn ép, hai bên là hàng rào mắt cáo căng bằng máy tạo ô 1 tấc vuông, chỉ có thể cắt bằng kềm bấm thôi, khoảng giữa rộng chừng 5 tấc nó ép bằng bùn nhùn cứng như bê tông, trong kỹ thuật đặc công người ta kêu là hàng rào bùn nhùn ép, dùng để cản xe tăng và mìn định hướng loại lớn dùng để phá hàng rào - Ký nói tiếp: Trên lý thuyết thì tôi có biết loại hàng rào này lúc học ở trường Đặc công Nghệ An, trong thực tế vào chiến trường đây là lần đầu tiên.



 



Chúng tôi bàn bạc cách để vượt qua hàng rào này. Ấn đề nghị đào chui qua, anh lấy thanh inox mang theo làm vũ khí đào thử, Ký cũng đào một chỗ khác, tôi thì lấy mấy dao cắt ống thuốc lượm được ở trạm y tế cắt thử nhưng chẳng hề hấn gì dây kẽm. Tôi suy nghĩ, chỉ có thể quay lại mà thôi, bò ra tới đây chỉ mất chừng một giờ nhưng bò vào, trời ít mưa thì tới sáng chưa chắc qua được. Đang suy nghĩ miên man thì trời lại đổ mưa xuống ào ào, mưa càng lúc càng nặng hạt, gió thổi mạnh, lại có sấm sét. Ký đi lại chỗ tôi nói:



 



- Có cách rồi, mình leo qua hàng rào, trời cứu mình đấy.



 



Ký bò dọc theo hàng rào để tìm bẻ những cây lớn đưa lên từ từ cắm trên hàng rào để che ánh sáng phía trạm gác chỗ chúng tôi leo qua. Ấn quỳ xuống, hai tay nắm dây kẽm gai trên hàng rào, tôi bước lên vai nó và leo qua, xoay người thả chân nhè nhẹ xuống bên kia hàng rào, dùng ngón chân dò xem thử có dây bất thường trên hàng rào… Chân tôi chạm nhẹ lên mặt đất một khoảng đủ rộng để đứng xuống, dò mìn một khoảng trống cho anh em khỏi vướng mìn và lựu đạn, rồi tôi đưa bàn tay ra dấu cho bên kia leo qua. Tôi quỳ hai gối đưa hai tay nắm chặt hàng rào, một người leo qua, hai chân đặt trên hai vai tôi, tôi đưa tay nắm chân phải, cầm cái ống chân xương xương tôi biết là chú Hai Thanh rồi, tôi cầm chân phải của chú hạ dần người và đặt chân chú vào chỗ an toàn dưới đất, chú bước xuống. Tôi dặn:



 



- Chú ở đây làm những gì như tôi đã làm, tôi tiếp tục đi mở đường, xong chú bò theo nhé.



 



Tôi dò và vô hiệu hóa mìn, lựu đạn qua 6 lớp hàng rào nữa thì hết kim. Trời vẫn mưa lớn, sấm sét có lúc sáng rực cả vùng trời, tôi bảo chú Hai Thanh:



 



- Chú nói truyền lại phía sau bảo thằng Ký lên đây phụ với tôi, hiện giờ đã hết đồ khóa mìn rồi, tôi chỉ mò chỗ nào không có mìn thì bò lên, nếu để chú bò gần, lỡ tôi sơ suất làm nổ thì chú chết đấy.



 



Chú Hai Thanh nói ngay:



- Cả đoàn này đang trông chờ vào cháu, nếu cháu chết thì chú chết cũng xứng đáng rồi, cháu đừng lo cho chú, cái gì chú làm được thì cháu đưa cho chú làm.



- Vậy chú bò theo tôi, không được chống tay và đầu gối ra ngoài kẻo mìn nổ đấy.



 



Bò ra khoảng 10 lớp hàng rào nữa thì tôi đến một giao thông hào rộng khoảng 2,5m đúng như Ký đã nói, tôi mò ven bờ phía trong để tìm lựu đạn gài. Bờ xói lở, có lẽ không còn lựu đạn, nước ngập đến miệng hà, tôi thọc chân xuống để tìm chông, nhưng nước đầy, dưới toàn là kẽm gai. Đạp lên kẽm gai tôi lội qua bờ bên kia, bò leo lên mở khoảng 3m dây kẽm dưới cùng của hàng rào mắt cáo gần bờ kéo lại và lội qua bờ bên kia, cột thẳng vào trụ sắt của hàng rào bờ đối diện, rồi mở gần 3m kẽm gai ở hàng rào bên này kéo qua căng thẳng cột vào trụ sắt bờ bên kia, làm thành hai sợi dây song song buộc hai trụ sắt hai bờ của giao thông hào, chỉ cho chú Hai Thanh bảo anh em bò nhẹ theo hai dây để qua hào cho nhanh, không phải lội. Tôi bò qua bờ kia và tiếp tục dò đường, buộc lại những trái lựu đạn gài phát hiện được. Trời vẫn mưa lớn, tôi bò qua khoảng 7 lớp hàng rào, trong tiếng sấm rền lóe sáng cả bầu trời. Có tiếng mìn nổ. Tôi mò đường lách qua bên phải, quay đầu lại bảo chú Hai Thanh nằm yên để nghe động tĩnh, vài phút sau tôi bảo chú Hai Thanh chuyền lời hỏi phía sau có vấn đề gì không, khoảng 10 phút sau anh em chuyền lại:



 



- Có mìn nổ, nhưng chỉ bị thương một người ở cổ tay thôi, do bò lệch.



 



Tôi nghĩ thầm có lẽ mìn lâu ngày ướt thuốc nên chỉ nổ kíp mà thôi, chứ nổ mìn thì làm sao sống nổi. Tôi tiếp tục mở đường, trời không còn mưa lớn, hình như có ánh sáng lờ mờ của ánh trăng, tôi thấy bên ngoài trước mặt mình là lộ nhựa, ven đường có trụ đèn có ánh sáng đèn đường nữa, tôi mở hàng rào vượt qua hàng rào ngoài cùng sát lộ nhựa nằm chờ những người sau. Rồi chú Hai Thanh cũng bò đến, tôi dặn chú Hai Thanh xem tôi qua đường, “có lẽ đây là quốc lộ 1 cũ trước khi có xa lộ Biên Hòa, phía bên kia hình như còn một số hàng rào nữa, nhưng chắc mỏng thôi, chú chờ khi tôi mở hàng rào bên kia thì mới lăn để tránh phát hiện từ xa”, chú Hai gật đầu. Tôi nhìn ánh sáng bóng đèn gần nhất, chọn hướng nằm xuôi theo ánh sáng và lăn tròn qua quốc lộ 1. Đến một vùng cỏ ven đường tôi dừng lại, choáng váng mặt mày, chống hai tay ngồi dậy, một dòng thức ăn từ bụng trào ngược ra miệng, tôi ói, nhắm mắt và nằm im để thở lấy sức, mở mắt ra thấy chú Hai Thanh vẫn còn nằm bên kia lộ, tôi đưa bàn tay về phía chú muốn báo hiệu là “không sao” rồi tiếp tục vào hàng rào mò mìn. Ở đây chỉ có ba hàng rào mái nhà có rải bùn nhùn, nhẹ thôi, tôi vượt qua tìm một chỗ an toàn nằm lại, theo dõi toán quân vượt lộ. Trời còn mưa nhẹ như mưa bụi, từng cuộn mây đen lũ lượt trôi về hướng đông bắc, ngược lại với hướng đi của chúng tôi, bầu trời sáng hơn để lộ vài vì sao lấp lánh. “Mây của ta, trời thắm của ta”(1), vâng, cũng bầu trời này, ánh sao này, áng mây này hôm qua là của ai đó, hôm nay là của ta và đây là chiến trường rồi, không còn là tù nhân ở trong trại giam nữa, nếu phải nằm lại ở đây là hy sinh như một chiến sĩ.



 



Tôi ngẩng đầu nhìn và đếm từng người vượt qua lộ 1. Người đầu tiên là chú Hai Thanh, chú lăn một đoạn đến giữa lộ thì lồm cồm ngồi dậy bò, người tiếp theo: bò, người tiếp theo: bò, người tiếp theo: bò, người tiếp theo: chạy, người tiếp chạy cho đến người thứ 11 đi lững thững còn mang theo túi đồ nữa. Bất giác tôi lẩm bẩm:



 



- Mô Phật, lạy Chúa… Trời cứu mình!



...



 



Đi hơn một tiếng đồng hồ thì trời mờ mờ sáng, chúng tôi chọn một nơi rậm rạp để nằm lại, tối mai đi tiếp. Tôi lót nhánh cây để nằm một lúc thì ngủ thiếp đi, khi thức dậy mặt trời đã lên cao. Bò ra bìa rừng, chúng tôi thấy cả một cánh đồng lúa xanh mượt kéo dài đến tận khu rừng bên kia cây cối lớn hơn, trên cánh đồng có dân đang chăm sóc lúa, ven khu rừng chúng tôi đang nằm có hai người đàn bà đang làm cỏ lúa, chắc chắn họ sẽ tiến gần đến bìa rừng. Ba người Ấn, Ký, Lê Minh Châu bò đến nằm sát nghe họ nói chuyện với nhau những gì, theo đó đánh giá mối quan hệ của họ.



 



Đến trưa thì hai người đàn bà làm cỏ lúa gần đến ven rừng chỗ của Ký, Ấn và Lê Minh Châu nằm chờ. Nghe họ nói nhiều chuyện, nào là chuyện trồng trọt, chuyện làm ăn, nhưng chúng tôi chú ý nhất là lời thoại sau:



 



- Con Tư hình như có bầu nữa rồi đó.



Người kia đáp:



- Các ổng lâu lâu về một lần là có bầu ngay.



 



Chúng tôi ngồi lại bàn và thống nhất nhận định là những người đó có quan hệ với người thoát ly kháng chiến. Lê Văn Ký và Ấn quyết định giữ họ và nhờ họ chỉ đường để mình vô vùng giải phóng, hoặc nếu được dắt đường mình vào tiếp xúc với những người hoạt động trong vùng.



 



Sau khoảng một tiếng đồng hồ, một cô bé độ 18 tuổi đi ra và nói:



- Tôi có thể đưa các anh vào gặp các anh giải phóng, đề nghị các anh cho biết có bao nhiêu người?



Châu đáp ngay:



- Mười hai người.



- Vậy để tôi vào báo lại.



 



Cô bé đi trở lại khu rừng độ một giờ thì trở ra, đề nghị chúng tôi đi cách nhau 5m theo bờ ruộng lớn đi đến khu rừng cây bên kia sẽ có người gặp.



Theo chân cô bé chúng tôi lần lượt đi ra khỏi rừng đến sâu vào vùng cây lớn, có ba anh bộ đội đứng đó, một người mang súng ngắn dáng hơi thấp, hai người kia mang AK. Chúng tôi mừng khôn xiết, nhìn lại hai bên bìa rừng đường chúng tôi đi vào có cả trung đội du kích bước ra kéo về phía chúng tôi, có lẽ họ sợ biệt kích giả dạng đột nhập. Các anh dắt chúng tôi đi sâu vào trong rừng liên tục hơn hai giờ thì đến một nhà sàn cũ bên bờ suối đề nghị chúng tôi ở lại đây, báo cáo với cấp trên rồi sẽ có kế hoạch khác. Người cán bộ tự giới thiệu là Hai Đậm, huyện đội trưởng huyện Vĩnh Cửu - tỉnh Biên Hòa, nơi chúng tôi gặp anh Hai Đậm là xã Đại An - huyện Vĩnh Cửu. Nếu tính theo đường chim bay thì xã Đại An là đường gần nhất đến trại tù binh Hố Nai. Chú Hai Thanh tự giới thiệu chức vụ của mình trước khi bị bắt là một trong những cán bộ lãnh đạo của khu C trại tù binh Hố Nai và giới thiệu anh Lê Minh Châu là cán bộ hoạt động nội thành của thành phố Biên Hòa. Lê Minh Châu tiếp lời:



 



- Trong khu C của trại tù binh còn rất nhiều cán bộ của tỉnh Biên Hòa, trong đó có anh Năm Trang là bí thư của thành phố Biên Hòa, anh Năm Thắng là trưởng ban Kinh Tài của tỉnh Biên Hòa. Lẽ ra anh Năm Thắng đi trong đoàn này để tiện việc liên lạc và biết rõ đường để hướng dẫn đoàn về vùng giải phóng, nhưng vì sức khỏe yếu nên tôi phải làm thay, dự định đi về Trảng Bom nhưng không ngờ về Vĩnh Cửu lại là đường gần nhất, thật may mắn.



 



Lê Minh Châu kể tên, chức vụ những người cấp trên làm việc với anh trước khi bị bắt. Anh Hai Đậm có quen biết những người đó nên rất mừng, qua trao đổi với Lê Minh Châu có lẽ đã phá tan những nghi ngờ của anh về đoàn vượt ngục. Anh cười hồn nhiên thân mật và nói:



- Các anh tạm thời ở đây một thời gian, tôi sẽ mang gạo và nồi tới để anh em tự nấu ăn, đồng thời tôi sẽ báo với cấp trên để chuyển các đồng chí về cấp trên giải quyết.



Anh dặn đi dặn lại nhiều lần: không được đi xa ra ngoài, vùng này ngoài có gài mìn để bảo vệ, còn có nhiều bộ đội đóng rải rác, nếu gặp người lạ họ có thể nổ súng đấy. Anh Hai Đậm thân mật bắt tay và chúc sức khỏe cả đoàn.



 



Năm ngày sau, 10 giờ sáng anh chiến sĩ giao liên dắt chúng tôi theo lối mòn đi vào rừng. Càng vào trong cây càng lớn, nhiều cây lớn ngã đổ nằm khô giữa rừng do bom Mỹ, cây đổ rất nhiều nhưng cây còn đứng vững nhiều hơn, có những cây gốc lớn ôm hai vòng tay vẫn chưa giáp, có những cây gốc tách làm hai giữa là lối đi. Bom pháo khiến cây ngã chật rừng, nhưng có những đoạn ánh mặt trời vẫn không xuyên qua được tán lá của rừng cây cao. Khoảng hai giờ chiều chúng tôi đến một triền đồi, đi sâu vào trong là khu nhà sàn rải rác, đó là nhà khách và là khu an dưỡng của Tỉnh ủy Biên Hòa. Chúng tôi được hướng dẫn vào một nhà lớn gặp lãnh đạo của khu an dưỡng. Anh giao liên giới thiệu đoàn từ Vĩnh Cửu đến. Anh Tám Tròn giới thiệu với chúng tôi: anh Sáu Biên(2) thủ trưởng đơn vị, còn anh là phó. Anh Sáu Biên hỏi thăm sức khỏe chúng tôi, chúc mừng chúng tôi vượt ngục an toàn.



HVK.



______



(1) Thơ Tố Hữu



(2) Sáu Biên tức Tám Đông, năm 1980 anh trở về TP.Hồ Chí Minh, có lúc làm Bí thư huyện Cần Giờ, năm 1998 làm Trưởng ban Tổ chức Thành ủy TP.HCM.



honvietquochoc


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »