tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
10.02.2020
Bích Hạnh
Hoa bỏng trắng

Ngôi nhà thờ bỏ hoang đã hơn nửa thế kỷ, nằm cạnh một cái hồ lớn. Đứng bên kia hồ nhìn lại, trong màu chiều thu ảm đạm, toàn bộ ngôi nhà thờ in lên nền trời và những xóm nhỏ khuất sau lùm cây thâm thấp âm u phía dưới trông xa xăm như một cõi nào. Mặc dù sự tàn lụi đã phủ lên đỉnh tháp chuông cao vời vợi và vòm trần cong hình bán nguyệt của nhà thờ một màu tường rêu xanh xám nguội lạnh, nhưng vẻ thanh nhã của nó vẫn nổi bật như còn chứa đầy những mộng vọng cao xa thần thánh của con người. Trong hoàng hôn màu khói, bóng dơi lượn như những ảo ảnh bí ẩn và chộn rộn, không thể làm an lòng người. Bao giờ cũng có một con cú âm thầm trên đỉnh vòm trần nhà thờ in vào trời một vết đen trầm ngâm, bất động. Tiếng chim lợn kêu xé cái chập choạng của bóng tối và ánh sáng, gợi lên một sự chẳng lành.

 


Mỗi khi nghe tiếng chim lợn kêu như thế, bà Xuyên lại nói một câu muôn thuở, dù đã quen và gần như biết trước, con Tha vẫn rùng mình. “Lại có ai đó chết rồi”. Câu nói ấy thốt ra từng chữ nằng nặng, vừa vu vơ vừa đầy ám chỉ. Đôi mắt đục mờ răn reo của bà Xuyên nhìn lên trời và con Tha tưởng như bà sắp làm dấu thánh. Có người chết thì chim lợn kêu hay chim lợn kêu thì có người chết? Với Tha, nó là điềm báo, gợi một mối liên hệ nào đó từ quá khứ đến tương lai, mơ hồ, lo lắng. Thốt nhiên, nó rất sợ, cái sợ của đứa trẻ nhát ma. “Lại có ai đó chết rồi” - bà Xuyên lẩm bẩm đi vào nhà, câu nói rớt bên tai con Tha như một tiếng thở dài.


 


Vào một chiều như thế, khi những cơn mưa bão tháng tám vừa tạm ngưng, xóm đạo có một đám tang nhỏ. Cô Miên chết. Những người đi bắt cá tìm thấy xác cô ở ngoài hồ, bên vệ cỏ xâm xấp nước. Mùa này mưa làm chìm biến cả bờ hồ, cây cỏ ngập trong nước. Cái hồ đó rộng và sâu, năm nào cũng có người chết đuối. Chỉ không biết cô Miên ra đó để làm gì. Mấy người đàn ông cởi trần, quần đùi ướt nhẹp, vác xác cô Miên về qua ngõ. Con Tha không dám nhìn lên cái xác, chỉ thấy những ngón chân to bè, trắng nhợt và bủng nước của họ bấm xuống đất nhão, hình dung thấy họ cắn chặt răng và trợn mắt chạy trong mưa. Hình như người đàn bà chết nặng lắm, tóc bết dính, đen mủn như một thứ dương xỉ. Bà Xuyên đứng ở bên cửa, mặt co dúm như một tàu lá bị vặn. Người ta đẩy bà ra, đưa xác cô Miên chui vào cánh cửa chật hẹp. Con Tha nhìn bà, mắt trắng dã. “Mẹ mày chết ư?”, bà Xuyên nhìn lại nó, dại đờ. Rồi bỗng bà kêu lên hù hụ: “Miên ơi, con…”. Nước mắt con Tha lúc ấy mới ứa ra trên khuôn mặt nhợt nhạt.


 


Buổi tối hôm đưa cô Miên ra nghĩa địa trở về, hai bà cháu con Tha ngồi bên hiên nhà như hai bóng ma nhỏ. Trên trời, vẫn chập choạng những bóng chim và những tiếng kêu eng éc nhưng bà Xuyên không nói câu gì. Con Tha sợ hãi không dám vào nhà một mình. Những người hàng xóm cuối cùng cũng đã ngấm ngầm thất vọng. Vì lẽ, không ai bảo ai, người ta đã chờ đợi một người nào đó xuất hiện với sự tò mò bấy lâu trỗi dậy, với lòng khoan dung sẵn sàng mở ra vì “nghĩa tử là nghĩa tận”, và với cả sự khinh miệt có thể… Nhưng không có gì bất thường xảy ra cả. Trong đám tang cô Miên không có một người lạ nào. Một người từ đâu đó nghe tin cô chết và tìm đến… Đêm đó, chỉ có một nhúm người đọc kinh cầu nguyện cho cô. Tiếng đọc kinh rền rĩ từng chặp, thỉnh thoảng đứt quãng vì quá mỏng manh. Đôi khi có một tiếng nấc mạnh, rồi cứ lịm dần, lịm dần, nhưng không tắt, xa xôi như hòa lẫn tiếng côn trùng trong một đêm ẩm ướt.


 


***


Tha là đứa con gái còm nhom xấu xí. Nước da đen, mặt gầy không gò má, đôi mắt tôi tối lúc nào cũng chỉ dám nhìn len lén dễ làm người ta bực bội, nghi ngờ. Không bao giờ nó cười. Chẳng ai nghĩ nó lại là con cô Miên, bởi tất cả những gì cô Miên có, ngoại trừ đôi chân thọt, đều tương phản với nó. Cô Miên đẹp, vẻ đẹp của Đức Mẹ: mắt to dịu dàng, mũi thanh tú, đôi môi tươi thắm, nước da trắng mịn như sứ. Thế nên người ta có thể dễ dàng hình dung ra bố của con Tha là người như thế nào, dù chưa bao giờ họ nhìn thấy hay nghe gì về ông ta. Chỉ biết cô Miên ở tu viện dưới một huyện ven biển xa từ nhỏ, khi cha cô mất sớm, thế rồi bỗng dưng cô trở về ở với bà Xuyên, đem theo một đứa con gái nhỏ. Ngày ba buổi, cô tập tễnh cùng mẹ ra sân nhà thờ lớn bán các món dây chuyền, mẫu ảnh, thánh giá làm bằng những chất liệu rẻ tiền cho người đi lễ. Đó là những tràng hạt bằng các hạt nhựa màu hình bầu dục đính với nhau bằng những vòng dây thép mạ vàng hoặc hình Đức Chúa cha, Đức Chúa con, Đức mẹ Maria nhỏ xíu được lồng trong cái khung bằng nhựa có đường viền trang trí đơn giản và thô kệch… Người đi lễ thường xem xét, mua bán, hỏi han bà Xuyên, tuyệt nhiên không ai nói năng với cô Miên lấy nửa lời. Tuy vậy, cô vẫn ngồi cùng mẹ hàng ngày, kiên nhẫn và im lặng như màu áo đen bất đổi của mình.


 


Cô Miên yêu con gái bằng một tình yêu luôn tươi tắn và mới mẻ lạ lùng. Trên người con bé - như cái cây bị vặt hết lá, sớm khô héo và trơ trụi, cô đính lên những dấu vết của sự chăm sóc, thương yêu như đính những bông hoa lạc loài trái mùa vậy. Mớ tóc vàng hoe của con Tha được cô chải đi chải lại, tết đi tết lại, nắn nót từng lớp, từng sợi sao cho thật gọn gàng và mượt mà. Cô buộc cho nó một cái nơ to, điệu đàng đến buồn cười. Cái nơ ngự trị trên bím tóc thẳng đét sau tấm lưng gầy gò như một con bướm cô độc. Cô đeo lên cái cổ xương xẩu của con Tha một sợi dây chuyền với cây thánh giá bằng bạc, thật xa xỉ trong thời bấy giờ. Cây thánh giá ấy đứa trẻ ngoan đạo nào cũng ao ước có được. Dù hơi cũ, nhưng những nét chạm trổ hình Chúa Giêsu thật tinh vi, rõ ràng, sắc sảo. Hình Chúa rất nhỏ nhưng có thể thấy rõ nét rũ của bàn tay bị đóng đinh, từng đường gân thớ thịt đau đớn mà chìm đắm trong lãng quên của sự tha thứ. Không thiếu những ánh mắt ghen tị mơ hồ khi nhìn lên cổ con Tha. Cái con bé xấu xí đó, mẹ nó đã cho nó một vật quý giá khi nó còn quá nhỏ.


 


Hồi đó, mỗi buổi sáng, cô Miên thường dẫn con tới lớp học bổn, dù chặng đường từ xóm đạo tới nhà thờ lớn chẳng cách nhau bao xa. Tuy vậy, cứ đến đài Đức mẹ là cô Miên dừng lại, buông tay con, trìu mến nhìn theo cho đến khi cái bóng nhỏ bé của nó khuất sau cánh cổng cao lớn xanh rợp bóng cây.


 


Đó là những giờ học bổn con Tha không thể nào quên được bởi lẽ niềm vui và nỗi khổ tâm của nó hầu như ngang nhau. Gần hai chục đứa trẻ từ sáu đến mười tuổi học chung một lớp do ông Hàm dạy. Xóm đạo dưới chân nhà thờ cũ bấy giờ thường đi lễ ở nhà thờ lớn, lũ trẻ cũng học bổn ở đó. Con Tha - như một đối chọi trớ trêu, phải ngồi cạnh hai chị em sinh đôi, hai đứa trẻ cùng xóm có hai cái tên hợm hĩnh là Xinh và Đẹp. Con Xinh còn đỡ, con Đẹp, mỗi khi gọi tên lại thấy bớt đẹp đi một tí, gọi nhiều nghe còn buồn cười nữa. Hai đứa ấy giống như một kiểu tướng lĩnh trong đám trẻ, với những váy xếp tầng và vòng vàng, dây chuyền vàng, bông tai vàng… Chúng gọi một tiếng, tất cả chạy theo, chúng là trung tâm của những trò chơi trốn tìm, đuổi bắt và luôn ăn gian một cách trắng trợn. Mỗi khi con Tha lại gần, Xinh và Đẹp, giống nhau như đúc, cùng liếc nhìn nó khinh bỉ, hẩy tay vào cây thánh giá bạc mà nó đeo, rồi vênh váo, chúng cuốn cả đám trẻ đang la ó vui mừng xung quanh, ném về phía con Tha một câu: “Đồ xấu xí! Ai thèm chơi với mày!”. Cũng từ khi học bổn, con Tha bị lũ trẻ gọi là “Tha đuôi”, chúng đồn đại rằng con Tha có một cái đuôi lợn vì “mẹ nó ở tu viện, không có chồng mà đẻ ra nó nên bị phạt”.


Ai nói nó xấu xí cũng không sao, nhưng mỗi khi chúng lêu lêu “Con Tha đuôi!” thì nước mắt nó lại ứa ra như một thứ nhựa cây rỉ từ một vết cứa đứt vô tình nào đó.


 


Giờ giải lao trong những buổi học bổn, lũ trẻ được vào nhà xứ chơi. Ở đó có một cái ao rộng nước trong leo lẻo. Những lối đi lát đá xanh đầy bóng râm. Nắng hầu như không lọt xuống được qua những tán cây xanh đậm dày tầng tầng lớp lớp trên cao. Các bà xơ ngồi trên cầu ao lát đá phiến nhẵn lì, đen bóng, họ vo gạo, rửa rau hay đi lại tất bật bận rộn mà tịnh không vang lên một tiếng động nào. Lũ trẻ chơi đủ trò, cười đùa xôn xao một góc nhà xứ, thỉnh thoảng các xơ lại ra hiệu cho chúng im lặng nhưng chỉ làm cho các trò chơi càng thú vị hơn mà thôi.


 


Con Tha thường tha thẩn một mình trong đám cỏ may góc vườn. Nó giải trí bằng cách rút những bông cỏ may nhọn như kim tự đâm vào ngón tay mình, khi nào đau thì thôi. Ngón tay nó đầy những vết xước. Cái trò tiêu khiển lạ kỳ đó, cùng tiếng ồn ào của tụi nhỏ đều sẽ dừng lại tức khắc, khi thằng Thuận - đứa trẻ thứ hai luôn tách biệt đơn lẻ trong lớp, xuất hiện cuối con đường đá. Đó là một thằng bé bảnh bao, mặt mũi sáng sủa đến nỗi hầu như tội lỗi không thể chạm được đến nó, đến cả những sợi tóc nghiêm chỉnh chải mượt theo một nếp cố định hay cả dáng đi khoan thai đĩnh đạc cùng hai cánh tay vung vừa phải, chừng mực. Lũ trẻ nháo nhào chạy về phía nhà thờ, chui vào bằng cửa phụ, rồi nen nét cúi đầu đều đặn bốn đứa ngồi xuống một băng ghế dài. Giờ học bổn tiếp tục.


 


Lũ trẻ gọi “ông Hàm” nhưng thật ra người đàn ông ấy chỉ chừng độ bốn mươi tuổi. Ông là bác ruột của thằng Thuận, nuôi nó từ nhỏ, khi bố mẹ nó đều qua đời sau một tai nạn tàu lửa. Trông ông như một pho tượng lạnh lùng, nghiêm nghị, không bao giờ nở nụ cười, còn đôi mắt thì luôn nhìn thẳng, dường như ông lúc nào cũng khó chịu với bọn trẻ. Ông Hàm có một cái thước lim đặc biệt, nó to bản, dày và nặng, màu gỗ nâu đen như bồ hóng. Bọn trẻ học theo kiểu nhập tâm, vì không phải đứa nào cũng biết đọc, biết viết, cũng như không phải ai cũng có được quyển sách kinh chữ nhỏ xíu, dày cộp, in trên loại giấy mỏng khô vàng, dễ rách. Tất cả nghe ông Hàm đọc một câu, gõ cái thước lim cạch một cái, rồi đọc theo ba lần, sau đó đọc một câu tiếp rồi ôn lại từ đầu… cứ thế cho đến khi thuộc lòng. Cuối buổi học, ông Hàm kiểm tra bằng cách bắt từng ghế bốn đứa đọc đồng thanh bài kinh đã học, đôi mắt ông nhìn vào miệng từng đứa và dễ dàng dùng cây thước tách ra những đứa chưa thuộc. Những đứa đó sẽ ở lại, nhẩm lại kinh trong ngôi nhà thờ rộng mênh mông, có thể là rất muộn mới được về.


 


Thằng Thuận trông coi và phụ giúp cho ông Hàm ở lớp học bổn. Nó theo dõi những đứa trẻ mải mê nhìn những bức tranh lớn lộng lẫy minh họa cho cho những câu chuyện trong sách phúc âm trên vòm trần nhà thờ mà quên đọc kinh để nhắc nhở chúng. Nó cũng có quyền kiểm tra và phạt cả lớp nếu đứa nào không nghe lời. Lũ trẻ biết rằng nó sẽ được giúp lễ ở nhà thờ và phụ giúp cha xứ một vài việc, tất cả đều sợ nó, trừ con Tha.


 


Bởi vì đơn giản, con Tha luôn luôn đọc trôi chảy những bài kinh mới học. Nó thường được về sớm nhất, trước ánh mắt ghen tị và tức tối của bọn trẻ, nhất là hai chị em Xinh và Đẹp. Hai cô nàng này khi đó thường như con bướm gặp mưa, chúng không ít lần ngắc ngứ trước cây thước lim gõ cồm cộp trên bàn. Đôi khi thằng Thuận rất ngạc nhiên vì vẻ mặt kỳ lạ của con Tha mỗi lần nó đứng đọc kinh trong lớp. Một vẻ thành kính, trang nghiêm, đôi mắt nó như nhìn vào một xứ khác, lặng lẽ và êm đềm, giọng đọc non nớt nhưng có giai điệu. Tuy nhiên ông Hàm không bao giờ khen nó, có cảm tưởng như ông không bao giờ nhìn thấy nó. Chưa một lần nào ông nhắc đến tên con Tha. Điều đó cũng dễ hiểu, đó là thái độ chung của mọi người trong xóm thường dành cho mẹ con nó, nên nó đã quen. Trong thâm tâm, nó còn biết ông Hàm không thích mẹ con nó còn vì một lẽ khác. Noel năm ngoái, khi con Tha cùng với mẹ đi xem rước lễ, nó đã gặp ông Hàm. Đêm ấy trời mưa phùn lạnh căm căm, hai mẹ con theo dòng người dài dằng dặc lên phục mình bên chân Chúa. Dòng người đông đến nỗi người ta phải dùng hai sợi dây thừng chăng suốt hai bên để khỏi phình ra, lấn sang các hàng ghế vốn đã đông kịt những người là người. Người ta đặt dưới chân cây thánh giá cao lớn một khay bỏng trắng thơm tinh khiết. Cô Miên bốc một nắm nhỏ, khi ra đến ngoài sân nhà thờ rồi cô mới sẻ sang bàn tay bé nhỏ của con. Hai mẹ con ghe qua đài Đức mẹ, ở đó mùi hoa huệ sực nức, cơ man nào là hoa huệ dưới tượng Đức mẹ đồng đen cao lớn hơn cả người thật. Cô Miên thường đứng hàng giờ ở đó, chắp tay cầu nguyện, trong khi con bé chạy loanh quanh, say sưa với đám cỏ tóc tiên thơm mùi kẹo… Con Tha đang nhẩn nha đưa lên miệng từng hạt bỏng trắng, không dám nhai mà chỉ ngậm cho tan ra nhẹ nhàng trong miệng thì ông Hàm xuất hiện. Câu chuyện giữa ông và mẹ nó như đã bắt đầu từ lâu lắm rồi. Ông Hàm nói: “Tôi đã chờ mấy mùa Noel rồi, sao cô…”. Cô Miên im lặng hồi lâu rồi khẽ khàng: “Tôi cũng đã trả lời anh rồi đó chứ”… Ông Hàm thở dài, trong chiếc áo khoác đen dày rộng, trông ông như một khối đá câm lặng. Cô Miên nói thêm, giọng nhỏ mà rõ ràng: “Tôi tật nguyền, lại thêm con bé…”. “Con bé có thể ở lại với bà ngoại”… - ông Hàm nói một điều gì đó nhưng cô Miên làm dấu thánh rồi nhắc nhở ông đừng nói thêm gì nữa. Cô kéo tay con gái đi thật nhanh như người trốn chạy. Thật lâu, con Tha ngoảnh nhìn lại, trong màn mưa mờ đục, bóng người cao lớn, đen thẫm của ông Hàm vẫn còn đứng đó như một tượng đá bất động.


 


Trong lớp học bổn, chỉ có một lần duy nhất con Tha thấy rùng mình vì ánh mắt kỳ lạ của ông Hàm nhìn nó. Đó là hôm ông kể cho cả lớp nghe câu chuyện Chúa Giêsu hiện ra cùng các tông đồ lúc Tôma vắng mặt. Tôma là một trong mười hai tông đồ, gọi là Điđymô, không ở cùng với các tông đồ khi Chúa Giêsu hiện đến, vì vậy mà ông nói: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin”. Chúa Giêsu đã hiện ra lần thứ hai khi Tôma có mặt, để cho ông ta tin… Ông Hàm kể và nhắc lại lời Chúa: “Các con tha tội ai thì tội người ấy được tha, các con cầm tội ai thì tội người ấy bị cầm lại”. Khi nói câu ấy, ông nhìn nó dịu dàng lạ lùng, ánh mắt thương cảm trong khoảnh khắc, ánh mắt mà con Tha chưa hề thấy ở ông dành cho bất kỳ đứa trẻ nào, kể cả thằng Thuận cháu ông. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc đó thôi, đứa trẻ vốn nhạy cảm như con Tha chưa kịp ngạc nhiên thì ánh mắt ấy đã trở nên lạnh lùng xa lạ như thường.


 


Cuối cùng cũng đến lễ ban thánh thể và xưng tội lần đầu của con Tha. Buổi sáng hôm ấy, những đứa con gái đến nhà thờ trong những bộ áo dài trắng tinh, đầu đội các vòng hoa trắng. Vì chúng còn bé, nên ông Hàm phát cho mỗi đứa một tờ xưng tội tượng trưng để học thuộc lòng, phòng khi lúng túng và hồi hộp không biết nói gì trong buồng xưng tội. Trong khi con Xinh, con Đẹp cùng lũ trẻ ra rả học thuộc bài xưng tội trong sân nhà thờ “Con đã nói bậy một trăm lần/ Con đã nói dối một trăm lần…”, thì con Tha đứng chơi bên hang đá. Vòng hoa trắng trên đầu và bộ váy trắng tinh khôi trên thân thể gầy guộc khiến nó mỏng manh như một vệt sáng nhỏ, nhưng cũng là lần đầu khuôn mặt nó sáng bừng. Chiếc nơ rất to màu trắng mẹ nó tết ở đuôi tóc trông như một cánh chim. Cây thánh giá trên cổ nó lấp lánh bắt nắng.


 


Con Xinh đã nhìn thấy vẻ nhàn nhã của đứa con gái đơn lẻ bên hang đá. Một lát sau, chúng tiến lại: “Tha, mày không học bài xưng tội hả?”. Con Tha nói: “Tôi biết phải xưng tội thế nào rồi… Mẹ tôi bảo…”. Đẹp giật tờ giấy nhỏ trong tay Tha: “Tao chắc chắn là mày chưa thuộc! Mày thử đọc lại xem nào!”. Con Tha nói một hơi: “Tôi chưa bao giờ nói dối và chửi bậy! Mẹ tôi bảo con hãy xưng tội như những gì con nghĩ, Chúa sẽ hiểu con!”. Hai con thiên nga trắng nhìn Tha, mắm môi: “Mày, mày…!”. Chúng chưa biết nói gì thêm thì từ xa, ông Hàm đã ra hiệu gọi tất cả tập trung lại.


 


Chuyện không dừng ở đấy. Khi con Tha vừa ra khỏi cổng nhà thờ lớn, đã thấy lấp ló sau hang đá những chiếc áo dài trắng và những vòng hoa đội đầu. Nó bị chặn lại.


“Để xem hôm nay mày có mắc tội gì không!”. Lũ trẻ đứng quanh con Tha thành một vòng vây chật chội. Bất thình lình, một thứ nước bẩn chảy dọc áo con Tha, từ trên vai xuống, màu bùn đen loang lổ trên nền trắng như một thứ hoa kỳ quái. Bọn trẻ vừa vẩy đất bùn vừa reo hò: “Đồ xấu xí! Con Tha có đuôi! Con Tha có đuôi… lợn!”. Con Tha đứng trong vòng vây cuồng nộ, những đứa trẻ đang nói, đang cưởi, đang chỉ trỏ vào mặt nó. Nó co rúm khổ sở. Con Xinh hét lên the thé: “Chúng mày ơi, để xem xem, cái đuôi của nó…”. Con Tha túm chặt tà váy, miệng méo xệch, nước mắt ứa ra.


 


Cuộc hành hạ dừng lại đột ngột vì thằng Thuận xuất hiện. “Tao mách Cha bây giờ!”. Xinh và Đẹp rối rít: “Anh Thuận, nó láo lắm, nó không học bài xưng tội. Tụi em đảm bảo nó không thuộc!”. Thằng Thuận nghiêm nghị nhìn hai đứa sinh đôi. Tụi nhỏ tản ra hết. Thuận quay sang con Tha, dịu dàng: “Về đi! Anh thấy mẹ em đợi ở ngoài kia đấy!”.


 


“Mày mà mách mẹ mày thì chúng tao sẽ còn bêu nữa”, một đứa cố dọa dẫm khe khẽ khi Thuận dợm bước đi, trước khi con Tha với bộ váy áo vấy bẩn chạy ra ngoài cổng nhà thờ. Ở đó, mẹ nó mới đến đón con, đang tập tễnh bước lên những bậc đá cao, tay chống lên đùi một cách vất vả. “Con bị ngã”, con Tha nói với mẹ. Dọc đường, nó bất giác túm chặt váy, run run hoảng sợ…


 


***


 


Tha hầu như không gặp lại ông Hàm nữa kể từ buổi lễ xưng tội lần đầu đó. Tuy vậy, nó có một người bạn mới. Những buổi chiều đám trẻ con kéo nhau ra nô đùa ầm ĩ quanh ngôi nhà thờ cũ, Thuận thường ghé chơi với Tha và cô Miên. Cậu là một kho những câu chuyện kinh thánh bởi những lúc rỗi rãi cậu đã đọc được rất nhiều cuốn sách quý của ông Hàm. Cũng một câu chuyện, có khi cậu còn so sánh từ các phúc âm của Thánh Matthêô với phúc âm của Thánh Luca, Thánh Marcô… Bà Xuyên và cả cô Miên đều coi cậu như một thiên thần nhỏ, đẹp đẽ và sáng láng. Còn Tha, mỗi khi Thuận đến, nó cảm thấy như được ban phát một món quà quý giá vô ngần. Nó thường để dành cho cậu khi thì một chiếc lá úa thật hoàn hảo, màu vàng bóng như lụa; khi thì một bông hoa chanh ép khô còn nguyên những cánh mới nở trông thật ngỡ ngàng nhưng đã ngả sang màu nâu nhạt thanh khiết. Có khi là một mẫu ảnh nhỏ xíu đã được cha làm phép. Khi đó là mùa hè, trời cao và xanh, mây trắng tựa những cánh buồm lồng lộng lướt cùng gió. Ngước nhìn lên đỉnh nhà thờ, Tha thấy vòm trời bất tận. Những ô kính màu xanh còn nguyên vẹn trên các khung cửa cong theo lối kiến trúc gothic ánh lên trong nắng chiều, lấp lánh, ẩn chứa những nụ cười. Đó là mùa hè cuối cùng cô Miên còn ngồi chải chuốt cho con gái đôi bím tóc vàng hoe và tìm vải vụn làm những chiếc nơ màu xinh xắn cài lên cho nó.


 


Từ khi mẹ chết, Tha không còn thấy bà Xuyên nói gì mỗi khi nhìn lên bầu trời và nghe tiếng lũ chim lợn kêu. Bà chỉ quay nhìn nó và thở dài, Tha biết là bà đang nghĩ đến mẹ nó. Và cũng ẩn trong đó một nỗi hờn. “Chỉ vì mày, Tha ạ, đứa con gái xấu xí…”. Cái tên “Tha đuôi” không còn ám ảnh nó, mà gợi lên những bí mật về mẹ mà nó không thể nào hiểu nổi.


 


Có lẽ cũng chẳng ai trong xóm đạo còn tò mò về người cha vô danh của Tha, cho đến mùa Noel năm đó, khi Tha vừa tròn mười bảy tuổi. Người từ tu viện của cô Miên ở năm nào đưa về xóm một người phụ nữ lạ mặt. Bà ta tìm đứa con đã bỏ lại tu viện năm nào, sau nhiều năm sống ở Pháp. Khi Tha biết cây thánh giá bạc vẫn đeo từ thuở nhỏ là tín vật để gặp lại mẹ đẻ của mình, thì cũng là khi bà Xuyên biết rằng con gái bà, cô Miên, đến lúc chết vẫn còn là một trinh nữ.


 


“Bà em không muốn em ở lại đây nữa, dù bây giờ bà chỉ còn có một mình”. Sau buổi lễ Noel, Tha nói với Thuận. Thuận cầm tay Tha, mở ra từng ngón khô lạnh đang nắm chặt, thả vào đó một nắm bỏng trắng, thơm thanh nhẹ như một thứ hoa nhỏ.


 


Tha bùi ngùi nhớ đến cô Miên. Khi từ nhà thờ về, qua đài Đức mẹ, Tha thấy một bóng người quen thuộc. Ông Hàm! Ông đứng đó như từ mùa Noel năm nào, lặng lẽ trong hương huệ trắng…


 


BH.


Truyện in báo Tiền Phong Chủ nhật Xuân 2020.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »