VỀ TRONG NƯỚC MẮT
Chiếc xe dừng lại ở đầu quận lỵ, phun ra một đám khói lớn. Một hành khách vừa nhảy xuống xe thoáng giật mình. Cảm giác của lần vấp mìn trong một cuộc hành quân trở về trong óc gã. Cũng như thế, khói phủ sau đít xe tỏa mùi khét. Nếu có khác chăng chỉ là ở chiếc xe. Đây là chiếc xe chở khách cũ kỹ, còn kia là…
Không! Gã đã chối bỏ, sẽ không bao giờ còn ngồi trên chiếc xe như thế để bị hất tung lên, giữa một đám khói m mịt, để rồi lúc tỉnh lại phải khiêng những chiến hữu thân thiết của mình về chỗ đóng quân vì họ không còn có chân để tiếp tục hành quân. Lần đó, gã thoát nạn. Trong cái may mắn thường gặp rủi ro. Cái rủi ro mà hắn phải cáng đáng chỉ là những thân hình nhầy nhụa của chiến hữu và tiếng kêu rên tưởng không bao giờ gã quên được trong suốt chặng đường từ chỗ chiếc xe bị mìn đến chỗ đóng quân. Những thằng chiến hữu tội nghiệp! Người ta có hai chân chính là để đi. Nhưng gã lờ mờ nhận biết là gã, bạn đồng ngũ của gã đã bước đi chệch đường. Gã tin những chiến hữu của mình sẽ không bao giờ còn đi được nữa. Nếu có đi thì phải chống nạng. Theo lời kêu gọi mới đây của “tổng thống”, Việt Nam cộng hoà vẫn cần phải có nhiều người cầm súng, hầu tăng cường sức lực cho quân lực Việt Nam cộng hòa để ngăn chặn họa xâm lấn đất đai của cộng sản. Nhưng với ai kia, chứ còn đui què mẻ sứt thiếu chân mất tay như các chiến hữu của gã vừa mới đây thì lấy gì mà cầm?
Gã không đui què mẻ sứt, không thiếu chân mất tay nhưng gã mất khả năng cầm súng. Suốt bốn năm, cho đến khi bị hất ra vệ đường, gã mới cảm nhận được hết sự vô nghĩa của những cuộc hành quân. Gã bắt đầu cảm nhận sự mất mát trống trải của đời lính. Bốn năm - con người trong gã chỉ bấu víu mỗi hình ảnh đôi cánh tay chới với và đôi mắt nhòe lệ đỏ ngầu vừa giận dữ vừa tuyệt vọng của bà mẹ lúc gã buộc phải ra đi. Sao cho đến bây giờ tôi còn dùng khẩu súng để vít xuống những bàn tay cố đưa ra giữ lấy những gì qúy báu của người mẹ?
Gã rẽ vào một hiệu giải khát ở cuối phố. Người ta nói lính chiến trường có những bộ điệu không giống dân thường. Biết làm sao khác được khi người ta đã vào trại lính. Mọi cử chỉ lịch thiệp, nhân đạo thôi hãy để lại ngoài hàng rào kẽm gai. Vào đây là phải cơ giới hóa con người mình. Cơ giới hóa với những gì mình gặp.
Gã đã có ít ra là bốn năm bị cơ giới hóa như thế. Con - người – máy – gã đã xông vào các làng để bắn giết, đốt phá. Gã bẩm sinh là một người im lặng, pha một ít thô lỗ trong khi nóng giận. Điều đó đã làm gã đóng băng ít nhiều trước những vũng máu, trước những thân người quằn quại trong cái chết đến bất chợt mà nạn nhân chưa kịp hiểu nguyên nhân. Đôi giày chiến binh của gã đã giẫm nát từ một luống rau cải đến một chiếc nôi con trẻ. Gã không hiểu mình đã làm những gì. Nhưng gã lại biết rất rõ ràng phải làm như thế mới có tiền ăn nhậu, mới có tiền nhảy vào các sòng bạc tự mở sau những cuộc hành quân dài ngày trốn tránh các viên đạn tai ác. Đời lính tính chết. Nhưng gã không muốn đi sau chót. Thà nhận lấy một viên đạn chính diện để vĩnh viễn nằm xuống còn hơn là rên la bên cạnh một con cứu thương tám phần làm đĩ có khả năng chích lầm thuốc vào bất cứ lúc nào.
Cũng đã có những lần gã thoáng gặp một cánh tay chới với và một đôi mắt đỏ ngầu giận dữ nhưng gã không nhớ mình đã gặp ở đâu. Bao giờ cũng vậy, khi về đến chỗ trú quân rồi gã mới nhớ đó là cánh tay và đôi mắt của mẹ đã cố giữ đứa con vào một chiều nào đó của bốn năm về trước, trong khi gã bị đẩy lên xe, chấm dứt những nốt chai tay do cầm cuốc để nhận lấy những nốt chai tay vì cầm súng. Đôi bàn tay chới với , đôi mắt đỏ ngầu giận dữ tan vào lãng quên sau những hối hận giày vò buốt nhức. Trong hoàn cảnh như gã, không dễ gì chuộc lại được những hối hận. Rồi một cuộc hành quân mới, những tiếng nổ, những xác nhà nám đen đổ sụp, tiếng khóc, tiếng chửi rủa căm giận khỏa lấp, xóa sạch những gì gã đã cảm nhận được sau những đêm trăn trở. Sao chưa có lần nào gã nhận ra đôi cánh tay kia, đôi mắt đỏ ngầu giận dữ kia chính lúc đang ở trong làng đầy tiếng súng và tiếng khóc. Sao không có lần nào như thế?
Gã sẽ như thế, tiếp tục như thế để hoàn tất con-người-máy-gã nếu không có lần bị hất tung lên cùng những chiến hữu. Thế đấy, có những cái, trong trạng thái bình thường, mình tự buông trôi hết ngày này sang ngày khác và tưởng không sao dứt ra nổi. Chờ đợi. Lần lữa. Chờ đợi một đột biến, một đổi thay từ bên ngoài. Bởi vì chính mình không thay đổi được. Gã đã mang tâm trạng đó suốt bốn năm quân ngũ. Bao nhiêu chiến hữu của gã đã ra đi. Họ đi về nhà hay sang phía bên kia? Bên kia chính là đối tượng mà gã đã cầm súng để chống lại. Suốt bốn năm, biết khẩu súng gã cầm đã bắn ngã những ai, phía bên kia? Phía bên kia là vô hình, là không thấy, là sự hung tợn chỉ biết được qua những lời truyền miệng. Cái nhận thấy chỉ là vườn tược, nhà cửa, những người phụ nữ bế con và những ông già mà vũ khí trong tay chỉ là cái rựa chẻ lạt. Viên đạn của gã đã bắn vào cái thấy được.
- Ông cần dùng gì?
Gã ngửng lên, bắt gặp cái nhìn của cô chạy bàn. Dáng người thon, đôi mắt hơi buồn. Gã yên tâm.
- Cô cho tôi ly…
- Whisky?
- Không. Một loại gì nhẹ hơn. Tôi không quen dùng thứ mạnh.
Cô gái nhìn lại gã như để kiểm tra độ chân thực của câu nói. Sự chậm chạp của cô không làm gã tưởng nhầm nhưng gã cứ hỏi:
- Ở dây không có?
- Đầy đủ lắm. Ông có thể tùy thích. Nhưng tôi tưởng…
- Sao?
- Dạ không. Xin ông đợi một lúc.
Cô gái dợm quay. Gã thay đổi ý định.
- Thôi, cô cho một ly cà phê.
Khi các ngón tay thon nhỏ trắng muốt đặt ly cà phê lên bàn, gã bỗng thấy lòng mình trống rỗng. Như vậy đấy, sự cô đơn được kiểm tra chính xác nhất lúc còn lại một mình khi người rời đi cuối cùng là phụ nữ. Với cô, gã chẳng có gì. Một người khách chợt đến chợt đi sau khi đã uống đầy sự đắng cay tự nhận. Nhưng gã có nỗi cô đơn bám theo đằng đẵng suốt bốn năm. Đôi cánh tay chới với và đôi mắt đỏ ngầu. Những thằng chiến hữu chung chiến hào nhưng không cùng ý thức. Chẳng đứa nào hiểu được đứa nào trong cái phần thánh thiện ẩn sâu dưới đáy tâm hồn. Phần độc ác được hiểu rõ hơn sau mỗi cuộc hành quân và trong những lần đánh bạc. Tâm sự riêng tây, ước mơ đơn giản, không ai nói với ai. Khẩu súng chết lặng, không phải chỗ giãi bày. Cốc rượu vô tình, chỉ khêu được giận hờn tuyệt vọng và tan biến vào lãng quên lúc rã rời cơ thể.
Bây giờ gặp cô gái này, phút đầu tiên gã làm dân thường gặp một dân thường. Nếu người con gái này gã gặp trong một cuộc hành quân khi trên người còn bộ đồ lính và trong tay còn nắm khẩu súng, chắc chắn những ngón tay thon nhỏ trên thành ly cà-phê màu nâu đậm kia sẽ run lên. Đôi mắt hơi buồn này sẽ kinh hoàng mở to, dại khờ, sợ hãi. Nhưng thôi. Hãy giữ nguyên vẻ bình thản này với tôi để tôi đừng phải khổ. Tôi đã không là lính nữa rồi, đã không là người bấm cò, đã không là gì cả. Tôi đã nghĩ kỹ rồi, đã chiêm nghiệm kỹ càng rồi. Tôi lại trở về, trở về đúng với chỗ trước khi tôi ra đi.
Nhưng về với ai, về nơi nào? Bốn năm không quê hương, xứ sở, không thân thích bạn bè, không bà con quyến thuộc. Bây giờ về đâu, nơi nào? Nơi nào chứa đựng người lính cộng hòa suốt bốn năm cầm súng? Đôi bàn tay chai sạn, ngón chai sạn nhất là ngón bóp cò. Tôi đã bóp cò bốn năm để bây giờ không quê hương xứ sở, không thân thích bạn bè.
Nhưng chẳng sao cả. Tôi đã chối bỏ khẩu súng thì phải tìm nắm cái cày. Tôi không muốn đôi bàn tay mình để không. Phải tìm lại những nốt chai tay ngày trước.
Người khách bước ra khỏi hàng cà-phê sau khi đã kín đáo hỏi dò tình hình vùng Cùng Thi qua cô gái chạy bàn có hai bàn tay ngón trắng muốt. Tiếng nhạc vòng vèo trong quán hàng thôi không bám theo gã nữa. Gã không hiểu thứ âm nhạc này. Sao có cả tiếng mảnh chai cào cào vào thùng thiếc ken két?
Ầu ơ…Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi…
Sao không có những câu hát như thế trong cái tiếng rè rè kia?
Đường về Cùng Thi không có cầu ván. Và không có cả cầu tre lắc lẻo. Bước chân của gã chỉ gập ghềnh khi bước qua những hố bom chi chít. Kiến thức thu được trong bốn năm quân ngũ giúp gã biết đây là những hố bom của pháo đài bay. Gã không lạ gì những cái hố này. Gã đã gặp nhiều lần, rất nhiều lần lúc trên tay còn cầm khẩu súng và trên người còn mặc bộ đồ lính. Nhưng hôm nay, không có khẩu súng trên tay và không có đồ lính trên người. Tôi là dân thường. Đôi mắt xốn nhìn hố bom nhức nhối. Họ đi hết rồi. Những người bạn “đồng minh” của một thời đáng nguyền rủa. Dấu vết của họ còn lưu lại trên đất này là những cái hố chi chít mà tôi vừa đi qua đây. Họ ra đi hay họ trở về thì cũng thế. Ra đi để mà trở về. Tôi cũng đã từng ra đi. Hôm nay tôi lại trở về. Tôi trở về Cùng Thi trong một mối lo không nơi chứa nhận. Mẹ tôi biết có còn sống không? Một người mẹ già với đôi cánh tay chới với và đôi mắt đỏ ngầu có đứa con làm lính Sài Gòn đang sống trong vùng Việt cộng. Lần ấy tôi ra đi, không tin là sẽ trở về. Cuộc chiến gay go, đời lính ngắn ngủi. Một viên đạn từ phía trước có thể cho tôi một sự vĩnh viễn tan vào lãng quên. Tôi biết không có bản tin chiến sự nào nhắc đến tên khi tôi đã ngã xuống. Nhắn tin, gửi thư, an ủi biết để làm gì? Người mẹ có đôi cánh tay chới với và đôi mắt đỏ ngầu không thể dùng lá thư của con từ trận chiến gửi về đem mua gạo. Phải có tiền. Đời lính, lấy đâu ra? Thôi, tôi im lặng, tôi mất tích.
Nhưng gã không chết. Viên đạn từ phía trước chưa bay đến để cắm phập vào cái bia thịt này nên gã còn có ngày trở về. Gã không ngờ còn có ngày trở về. Từ khi thực hiện ý định rời bỏ, gã đã nghĩ đến Cùng Thi. Thôi, đằng nào cũng trở về. Cuộc đời của tôi là lặp lại. Tôi lặp lại như một cái náy suốt bốn năm cầm súng. Tôi lặp lại con đường đi của mình. Tôi từ Cùng Thi ra đi, bây giờ lại quay về Cùng Thi.
Thật ra gã cũng toan tính nhiều lần mới dám trở về nơi gã đã ra đi. Thoạt đầu gã tính trốn đi Sài Gòn hoặc Đà Nẵng để tìm việc gì đó làm, sống trôi những ngày còn lại. Nhưng Sài Gòn thì có khác gì nơi gã từng sống? Tôi trốn chạy khỏi chỗ chết để tìm chỗ sống, đâu phải trốn chạy chỉ để tìm chỗ ẩn. Đây là trở về! Là trở về chứ không phải ra đi.
Nhiều lần gã tự nói với mình như thế để có được bước chân đặt trên đường đất của làng Cùng Thi, cách bờ biển chưa đầy một cây số của tỉnh Quảng Ngãi.
Vật đầu tiên đập vào mắt gã là lá cờ có nền nửa xanh nửa đỏ và ngôi sao màu vàng. Lá cờ bay bình thản trên cây cột được làm bằng tre dựng ở đầu làng trên một nền nhà trống. Vùng của Giải phóng. Gã kinh ngạc trố mắt nhìn. Sự ngạc nhiên xuất hiện chưa hẳn đã là điều người ta chưa biết trước. Tôi biết Cùng Thi là vùng giải phóng. Nhưng tôi về đây không phải trong đội ngũ hành quân tay cầm súng lấn chiếm. Tôi về tìm nơi an nghỉ cho tấm thân rã rời sau bốn năm lưu lạc. Có thể là không còn ai chấp nhận tôi nữa. Mẹ tôi biết có còn không? Người mẹ có đứa con là lính quốc gia đang sống trong vùng giải phóng. Tôi muốn về để nhìn lại đôi bàn tay chới với và đôi mắt đỏ ngầu tuyệt vọng bươn bả chạy theo chiếc xe của một chiều bốn năm về trước, khi tôi bị đẩy ra đi.
Người khách suốt bốn năm không ai thấy đặt chân lên đất làng Cùng Thi trong sự pha trộn giữa hai trạng thái ngỡ ngàng và bối rối. Gã vội nhìn lại mình, vui mừng nhận ra mình không còn là người lính. Bốn năm xa quê không làm gã quên được lối vào ngôi nhà của mình. Gã đi vào ngõ như một người về nhà sau một buổi cày. Gã cũng không hiểu vì sao mình lại có những bước chân mạnh bạo ấy. Vì sự yên tĩnh của xóm làng hay là vì lá cờ lần đầu tiên gã được nhìn một cách thanh thản? Chính nhờ lá cờ này mà tôi đã về đây. Tôi nhớ lần ấy cũng là đi lấn chiếm vùng đất có lá cờ này. Suýt nữa tôi trở thành thương phế binh nếu tôi không ngã xuống. Tôi ngã xuống cũng như bao nhiêu chiến hữu khác của tôi, không ai xót thương, không người tưởng nhớ. Bản tin chiến sự chỉ liệt kê một cách tưởng tượng nhiều hơn là thực tế số thiệt hại của đối phương, ai thèm nhắc đến một người lính cộng hòa đã chết như tôi?
Ngôi nhà của tôi kia rồi. Nhưng sao lại là ngôi nhà mới? Mẹ tôi một mình với hai bàn tay trắng. Mẹ của đứa con đi lính quốc gia. Hồi tôi ra đi, ngôi nhà vách đất sắp sụp xuống với mái lá mục những đêm mưa trút không có lấy một chỗ khô ráo để đứng. Tôi không quên và cũng không thể lầm. Cái ngõ này, tôi đã bị ném lên xe để thực thi quân dịch, sao gọi là quên.
Có tiếng một cô gái giọng trong đọc gì không rõ. Rồi như có một đàn chim về đậu trong ngôi nhà trước mặt mà gã đang tần ngần, cất lên một cách rập ràng:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Lớp học rồi. Đây không phải ngôi nhà của tôi. Bốn năm chiến tranh, làm gì còn ngôi nhà của tôi dưới mưa bom. Ngôi nhà của mẹ tôi có con đi lính Sài Gòn. Gã đứng sững, trân trân nhìn ngôi nhà, rồi day mặt nhìn lại hướng đi của mình. Không, chính nó đây. Chính là ở chỗ này, sao bây giờ nó lại là lớp học? “Nè, tụi bây phải biết. Hễ yên tiếng súng là tụi Việt cộng rảnh tay, bắt đầu lo tính chuyện giựt nhà cướp đất để chia cho phe cánh của tụi nó. Tụi bây phải nắm chắc súng, lấn chiếm được phần nào hay phần nấy. Không thì mất hết. Những gia đình binh sĩ như tụi mình chắc là họ sẽ khử rồi”. “Ủa, sao nói hòa bình hòa hợp rồi, người Việt mình bắt tay nhau chung sống?”. “Chung sống gì. Họ tuyên truyền đó. Bây không nghe tổng thống mới kêu gọi sao?”. Lời qua lại của chỉ huy và lính trong trung đội của gã. Có thật Việt cộng sẽ làm như vậy không?
Một đàn em nhỏ chạy ùa ra. Nắng lấp lánh trong những đôi mắt sáng. Đám trẻ vây quanh gã nói líu lô.
Sao các em chạy lại với tôi? Các em không biết tôi là ai sao? Các em không nhìn tôi bằng đôi mắt sợ sệt và bật khóc thét lên khi nhìn thấy bộ đồ rằn ri như khi tôi còn cầm súng chứ?
Gã lúng túng hỏi nhà bà Năm Sợi. Đám trẻ tranh nhau nói những điều bốn năm nay gã chưa một lần được nghe.
- Nhà bà Năm đây chú. Chú quen bà Năm hả? Bà ơi, có người hỏi thăm nè!
- Nhà này là nhà mới. Nhà cũ của bà bị tụi lính đi ruồng đốt mất rồi. Bà con mới dựng đó. Chú xem, mới hung chưa?
- Bà Năm nói nhà rộng, để tụi cháu làm lớp học cho vui.
- Kìa, chú vào đi. Bà có ở trong nhà đó. Hôm nào tụi cháu học bà đều ngồi nhà để nghe.
Rồi như có phép lạ từ miệng bầy trẻ, phía nhà một người đàn bà tóc cước bước ra. Khách nhìn sững rồi đột nhiên miệng lắp bắp gọi mẹ như tiếng trẻ con mới tập nói.
Bà già bước nhanh tới phía người khách. Khi khoảng cách giữa hai người đủ cho đôi mắt lên khói của bà già phân biệt, bà chợt kêu lên:
- Trời! Thằng Tám. Mày về đó hả con?
- Má! Con về đây. Con về…
Người khách nắm lấy đôi bàn tay run lẩy bẩy của bà già. Người khách nói trong tiếng nấc:
- Má! Mấy năm nay…
- Ừ, con về đây với má, với bà con.
Giống như một đứa bé lỗi lầm biết hối hận quay về và nhận được tình thương bao la của mẹ, những giọt lệ từ khóe mắt của gã cứ tuôn ra, lăn dài theo gò má sạm đen khắc khổ.
4-1973
.
.
|