Ngày xửa ngày xưa, cạnh triền núi Bạch Đầu Sơn ngàn năm tuyết phủ ở xứ Sơn Hải có một thôn nhỏ gọi là Kiết Lâm thôn. Dân chúng miền ấy cũng như dân chúng toàn Sơn Hải phải sống vô cùng lầm than cơ cực. Sưu thuế chất chồng, quan lại tham nhũng. Dân nghèo cứ bị mộ phu, mộ lính, nay thì bị bắt lên rừng kiếm sừng tê giác, mai lại bị lùa xuống biển mò ngọc trai, san hô. Rừng thiêng nước độc, ngàn kẻ ra đi, mấy ai đã được trở về. Tốp thì chôn thây trong bụng cá, tốp thì bỏ xác trong rừng sâu.
Theo lời truyền khẩu thì những đêm giông bão mịt mùng, trên đỉnh Bạch Đầu Sơn cao vút tận ngàn mây kia bỗng phựt lên những đốm lửa lập lòe khi ẩn khi hiện. Đó là ánh lửa lò Bát quái của những bậc thần tiên đang luyện thuốc trường sinh bất tử, ngõ hầu tế độ loài người vượt qua khỏi biển trầm luân và cũng trên đỉnh Bạch Đầu Sơn ấy có một chốn bồng lai tiên cảnh. Nơi ấy không có người nghèo, không có kẻ đói, không còn người bóc lột người. Nơi ấy bạc vàng xem như cát bụi, châu báu sánh tựa gạch vôi, ai ai cũng đều sung sướng.
Nhiều người trong thôn vì không chịu nổi cảnh khổ sở áp bức nên đã cắn răng lìa bỏ vợ con, cha mẹ, lìa bỏ mồ mả ông cha ra đi, mong tìm đến bồng lai tiên cảnh.
Nhưng, bao nhiêu người ra đi rồi vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Không biết rằng họ đã tìm đến cõi thiên đàng hạnh phúc, hay là đã làm mồi cho độc xà, ác thú cả rồi.
Một năm nọ, bỗng nhiên giặc Tần tràn vào xâm chiếm. Từ đó đời sống nhân dân lại thêm muôn lần cơ cực. Nào cướp của đốt nhà, nào bắt người hãm hiếp, mạng sống người dân xem dường cỏ rác.
Thêm vào giặc ngoại xâm, mấy năm liền trời khiến mất mùa. Lúa thóc, quân giặc vơ vét không còn một hột. Dân nghèo phải gặm lá cây, củ cỏ sống thoi thóp qua ngày. Nhiều người chết đói. Dân chúng lần lượt bỏ làng kéo đi.
Chiều hôm ấy, Lương Sinh mang bị lên vai, một lần chót ngoảnh nhìn làng cũ, rồi gạt lệ chàng dấn bước lên Bạch Đầu Sơn, quyết tìm đến chốn bồng lai tiên cảnh. Lương sinh ra đi với một niềm tin vô tận.
Chàng đi!. Đi mãi. Không biết bao nhiêu ngày tháng đã trôi qua rồi. Cơm khô đã hết từ lâu, áo quần đã rách cả. Chàng phải kiếm trái rừng đỡ dạ, kết lá rừng che thân. Rồi mùa đông đến. Đàn chim cuối cùng của rừng hoang cũng đã lìa bỏ núi rừng vỗ cánh bay đi tìm nắng ấm.
Bao nhiêu hy vọng của Lương Sinh cũng đã tàn tạ rụng dần theo những chiếc lá vàng rơi, mùa đông đến, trái rừng sẽ rụng hết. Biết lấy gì đỡ dạ. Tuyết rơi phủ trắng cả núi rừng, biết lấy gì để che thân? Lương Sinh nhìn những thân cây trơ trọi in bóng trên nền trời xám xịt, âm thầm chàng gạt đôi dòng lệ.
Tuyết bắt đầu rơi, Lương Sinh phải rút vào tận hang sâu, ăn vỏ cây đỡ dạ, đốt lá rừng sưởi ấm thân mình. Suốt mùa đông dài đằng đẵng, Lương Sinh sống tựa loài dã thú.
Rồi đông qua, ánh nắng đầu xuân lại lóe sáng ngàn cây. Rừng hoang đâm chồi nảy lộc, chim chóc ngàn phương đã trở về với hoa rừng, với nắng ấm. Lương Sinh lại lần dò ra khỏi hang với một niềm hy vọng mới, và tiếp tục đi tìm bồng lai tiên cảnh. Chàng đi như thế không biết bao nhiêu năm rồi. Cho đến một buổi chiều, Lương Sinh cảm thấy mình kiệt sức. Chàng cố lê thân đến bờ suối uống mấy hớp nước, gượng thu ít hơi tàn, nhìn xuống suối, chàng thấy tóc mình đã bạc, lưng còng xuống dưới sức nặng của thời gian. Đôi mắt tinh anh ngày xưa đã ám mờ vì gió bụi. Bao nhiêu hy vọng lúc ra đi giờ đã tiêu tan theo mây khói. Bất giác, chàng cất tiếng than rằng: “Hỡi ơi! Đời là bể khổ, chỉ có cõi chết là chân hạnh phúc của loài người”. Lương Sinh dọn mình, sẵn sàng chờ thần chết.
Lúc ấy, bỗng nhiên một khúc nhạc trầm bổng từ xa vọng lại, rồi tiếp theo lại vang lên những điệu hát tưng bừng.
Lương Sinh sửng sốt nhỏm dậy. Từ khi ra đi đến nay, đây là lần đầu chàng mới lại nghe tiếng của loài người. Lương Sinh lắng tai nghe kỹ. Quả thật rừng núi đang vang dội tiếng hát tưng bừng. Phải chăng đây là tiếng hát ca của những bậc thần tiên ở chốn bồng lai tiên cảnh?
Mắt sáng ngời hy vọng, chàng lần dò đi tới, lòng thầm cảm ơn trời Phật đã dung ruổi chàng đến chốn thần tiên.
Tiếng hát mỗi lúc một gần, Lương Sinh đã ra khỏi chân núi. Kìa, trước mắt chàng một vùng đồng ruộng mênh mông, lúa vàng trĩu hạt, trên cây quả chín sai oằn. Hai bên đường trăm hoa phô sắc, ngạt ngào gió thoảng hương thơm. Giữa rừng hoa lá ấy, bỗng hiện ra một đoàn người đang vỗ tay hòa nhịp lảnh lót ca vang. Ai cũng tươi cười, ai cũng đẹp đẽ, không một manh áo rách kẻ nghèo nàn. Lương Sinh liền nhanh bước tiến lên. Chàng gặp một ông lão hồng nhan bạch phát, mắt sáng như sao, râu dài đến rốn, tay chống thuyền trượng đang đứng dựa gốc hòe mê mải xem đoàn người múa hát.
Lương Sinh liền bước đến, cúi đầu thi lễ mà thưa rằng: “Bạch cao tăng, xin người cho đệ tử biết, đây có phải là chốn bồng lai tiên cảnh muôn đời sinh hạnh phúc của loài người?”.
Lão ông quay lại, sau một phút ngạc nhiên, mới cất tiếng sang sảng đáp lại rằng: “Có lẽ người ở từ xa mới đến nên không biết rõ. Đây là Kiết Lâm thôn ở triền núi Bạch Đầu Sơn!”.
Vừa nghe đến Kiết Lâm thôn, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, Lương Sinh như say như tỉnh, chàng lẩm bẩm: “Kiết Lâm? Thôn Kiết Lâm à? Thôn Kiết Lâm là nơi dân cư đồ thán, cửa nhà đổ nát, thôn xóm hoang tàn. Thôn Kiết Lâm, ta biết, nơi ấy giặc cướp như châu chấu, mạng người còn rẻ hơn bèo. Không! Đây không phải là Kiết Lâm thôn”.
Lão ông bật cười đáp: “Có lẽ người đi đã lâu lắm nên không biết đó thôi. Mười năm về trước, thôn Kiết Lâm quả là một nơi nghèo đói thật. Nhưng từ ngày dân chúng không chịu nổi cảnh áp bức bóc lột, vùng lên tranh đấu đánh đổ bọn cầm quyền, đuổi quân xâm lược đến nay, thì cuộc đời đã đổi mới. Không còn người bóc lột người, tất không còn lầm than đói khổ. Hôm nay, kỷ niệm ngày tranh đấu thành công, nhân dân thôn Kiết Lâm tựu hợp lại đây để cùng nhau ca xang nhảy múa”.
Như tỉnh mộng, Lương Sinh chợt hiểu ấm no hạnh phúc chỉ có thể đạt được bằng tranh đấu hy sinh. Và mười năm lưu lạc, lìa bỏ quê hương chính là mười năm đi tìm ảo ảnh.
Chàng cúi đầu ân hận.
Cho hay:
“Ý dân là ý của trời,
Sức dân quyết định sự đời hưng vong.
Ngày nay, tranh đấu thành công,
Cuộc đời đổi mới muôn lòng ấm no”.
Kể từ ấy, nhân dân Kiết Lâm thôn chung sống dưới trời Nghiêu Thuấn, trong Tự do, Dân chủ, Hòa bình.
Phải rồi! Bồng lai tiên cảnh là đây.
Sài Gòn, 1956
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
Sắc lụa Trữ La
Sau khi Hiệp định Giơnevơ ký kết, khoảng năm 1957-1958 bọn Mỹ Diệm chủ trương ào ạt đưa hàng hóa Mỹ vào Việt Nam. Các ngành hàng nội hóa đều bị phá sản, điêu tàn. Chiếc nồi nhôm đã giết chết nghề thủ công nồi đất cổ truyền. Các loại hàng ngoại đã giết chết nghề dệt lụa ươm tơ tinh xảo lâu đời.
Trước tình hình ấy, Đảng phát động phong trào “Bảo vệ hàng nội hóa”, và được đồng bào Sài Gòn cũng như nhân dân cả miền Nam nhiệt liệt hưởng ứng. Truyện ngắn “Sắc lụa Trữ La” đã ra đời trong hoàn cảnh ấy và đã đăng trên báo Nhân Loại ở Sài Gòn.
Ngọn đèn cạn dầu đã tắt từ lâu, nhưng tiếng đọc sách của Điền Quân vẫn còn ngân lên sang sảng.
Y Lang dừng tay dệt lụa, khẽ bước ra sân, đưa mắt nhìn sang. Bóng Điền Quân hiện ra trong khung cửa sổ. Chàng đang tựa ánh trăng đọc sách. Y Lang cảm động tần ngần.
Điền Quân và Y Lang là đôi trai tài gái sắc của Trữ La thôn. Hai người đã đính hôn cùng nhau từ thuở nhỏ, nhưng vì đường công danh còn lận đận nên chưa vội tính chuyện hôn nhân.
Điền Quân sống thanh bạch với mẹ già. Y Lang chuyên nghề dệt lụa. Hai mái tranh nghèo đứng song song giữa bãi dâu xanh, cùng soi bóng xuống dòng suối bạc.
Năm nay, triều đình mở khoa thi chọn lấy hiền tài. Điền Quân sớm khuya đèn sách. Nhà nghèo không đủ tiền đong dầu, lắm đêm chàng phải tựa cửa đọc nhờ ánh trăng khuya.
Đêm nay dầu lại cạn, ngọn đèn lụn bấc tắt hẳn từ lâu; thế mà tiếng đọc sách của Điền Quân vẫn ngân lên sang sảng.
Y Lang dừng tay dệt lụa, khẽ bước ra sân đưa mắt nhìn chàng. bồi hồi cảm động. Nàng tần ngần giờ lâu rồi trở vào nhà bưng lấy thếp dầu rón rén bước sang. Nghe tiếng động, Điền Quân giật mình ngẩng lên:
- Kìa Y Lang! Đã khuya rồi! Em chưa nghỉ?
- Vâng, em thức dệt cho xong vóc lụa. - Rồi đưa mắt nhìn thếp dầu khô cạn, nàng chắc lưỡi: - Đã hết dầu, sao anh không bảo đem sang?
Và không đợi trả lời, nàng châm thêm dầu, xe thêm bấc. Ngọn đèn lại sáng lên. Điền Quân nhìn nàng cảm động, Y Lang bẽn lẽn cúi đầu.
Giờ lâu, như để phá tan bầu không khí im lặng, ngượng ngùng, Điền Quân khẽ hỏi:
- Em có nghe triều đình mở khoa thi?.
Y Lang không đáp. Nàng hỏi lại:
- Thế anh định bao giờ lên đường?
- Anh chưa định.
Y Lang ngạc nhiên:
- Sao lại thế?
- Anh muốn giữ tròn chữ hiếu. Còn mẹ già chưa biết gửi ai, nên anh không an dạ lên đường.
Y Lang giận dỗi:
- Thế còn em? Em không thay thế được anh sao? Tuy chưa nên nghĩa vợ chồng nhưng một lời đã hứa. Mẹ anh chính là mẹ em vậy!
Điền Quân cảm kích:
- Em có nói thế, anh mới yên lòng, thế thì có lẽ vào cuối tuần trăng anh sẽ lên đường.
Y Lang bỗng nhiên thấy dạ bùi ngùi:
- Đường xuống kinh thành thiên sơn vạn hải. em ngại.
Nhưng rồi như sợ làm mềm lòng kẻ ra đi, nàng cố nén lòng:
- Thôi, đêm đã khuya rồi. em về để anh đọc sách.
Bóng nàng khuất dần sau dậu tre. Bên đèn, tiếng đọc sách lại vang lên.
*
* *
Mấy hôm nay, Y Lang bận lắm. Suốt ngày nàng bận rộn bên những con tằm, nàng chọn từng cái kén, từng đường tơ, cố dệt một vóc lụa đẹp tuyệt vời để may áo cho người yêu xuống kinh thành dự thi.
Lụa đã dệt xong rồi. Lụa đẹp quá, cánh tơ óng mượt như những sợi chỉ vàng, mịn như nhung mà đẹp hơn cả nhung. Nhưng đẹp nhất là mối tình ấp ủ trong những đường tơ óng ánh.
Ngày chia ly đã đến!. Buổi tiễn đưa là buổi đau sầu. Y Lang muốn nói thật nhiều, nhưng rồi. nàng không nói được, vì nàng e khi mở miệng sẽ không ngăn được những dòng lệ thắm. Nàng chỉ đứng lặng nhìn chàng quảy gói hành trang khuất lần sau rặng lau thưa. Đường xuống kinh đô, muôn trùng vạn điệp, bao nhiêu núi sông hiểm trở và bao nhiêu quyến rũ xa hoa. Biết người đi có vượt những nỗi khó khăn của tạo vật và của lòng người, để một ngày kia trở lại chốn lều tranh xa vắng này, vun quén mối duyên tình đã ấp ủ nửa đời xuân?
Từ đây. cuối Trữ La thôn, mỗi chiều tàn, có một cụ già tóc trắng, tựa mình vào cô thiếu nữ mắt buồn vọng hướng thành đô, mong cánh nhạn về.
*
* *
Mười mấy năm qua!.
Bao nhiêu biến đổi.
Điền Quân ngày nay đã là một Trụ quốc Công thần của Triều đình.
Buổi ấy, khi từ giã mẹ lên đường, Điền Quân đã đến kinh thành chiếm luôn văn võ Trạng nguyên. Ý những định sẽ vinh quy bái tổ, nhưng rồi nạn lửa binh tràn đến đã mấy phen chàng phải khoác nhung y cứu lấy sơn hà.
Rồi khi chinh chiến đã tàn, dẹp xong quân cướp nước, chàng được lệnh triều đình ra trấn thủ chốn biên cương.
Ôi! Việc công là trọng, niềm riêng tây nào kể đến.
Từ đây, ngày lại ngày chàng đành ra đứng tựa chân thành, trông mây bạc trôi về hướng Trữ La mà lòng tràn thương nhớ.
Hôm nay. đông đã về rồi, manh áo hồ cừu không sưởi ấm được cõi lòng viễn khách. Chàng giở manh áo lụa xưa của Y Lang đã dệt tặng chàng. Chàng nhìn từ đường tơ dấu chỉ mà tưởng chừng thấy lại những nương dâu bát ngát, với đôi mái tranh. một bà mẹ hiền mái đầu bạc trắng. một cô sơn nữ ngây thơ hằng ra giặt lụa ở thạch bàn.
Lòng chàng đang thả về chốn quê hương ấm cúng bên kia dãy núi xa thì bỗng nhiên có quân vào phi báo:
- Bẩm chủ soái, không hiểu từ đâu có một đoàn người ngựa mình đầy cát bụi đến dưới chân thành và nài nỉ xin vào ra mắt.
Nghe qua, chàng vội bảo cho vào, giây lâu kẻ lạ bước vào, cúi chào kính cẩn.
Chàng đáp lễ mời ngồi:
- Các người từ phương nào đến?
Kẻ lạ đưa tay chỉ về rặng núi xa xăm, kính cẩn thưa rằng:
- Bẩm tướng công, chúng tôi ở tận bên kia dãy Thương sơn trùng trùng điệp điệp.
Điền Quân vội ngắt lời:
- Thế các ngươi đến đây có việc gì?
- Bẩm tướng công, bên kia dãy Trường Sơn. quê tôi chuyên nghề dệt gấm và chúng tôi là những khách thương đi buôn gấm khắp nơi. Chúng tôi đến đây là vâng lệnh Chúa công tôi đem gấm tốt đến dâng cho quý Quốc vương để tỏ lòng thành kính của một lân bang. Và đây là một mảnh bào gấm Thủy Ba mà Chúa công tôi riêng tặng cho người. mong rằng người chẳng chối từ.
Điền Quân bảo:
- Có khi nào ta chối từ tấm lòng tốt của kẻ đem quà dâng tặng. Vậy các ngươi khá lui ra quán dịch an nghỉ, chờ ta chuyển đạt những tặng phẩm này về triều đình và chờ thư phúc đáp của Quốc vương ta.
Thương khách cúi đầu từ tạ lui ra. Điền Quân hai tay nâng vóc gấm lặng lẽ nhìn. Quả thật là tuyệt hảo!
Sắc gấm Thủy Ba nhấp nhô như sóng lượn. Một màu xanh, xanh biếc như sắc nước trường giang dìu dặt chảy dưới trăng buồn. Một vẻ đẹp huyền ảo, thướt tha mà tưởng chừng kẻ phàm tục không dám mó tay vào, sợ làm hoen ố cả sắc đẹp kỳ diệu ấy.
Điền Quân đứng nhìn ngây ngất và tin chắc rằng món quà này sẽ làm đẹp dạ Quân vương, chàng vội vã truyền quân kỵ mã cấp tốc chuyển về kinh.
*
* *
Ba trăng qua, sứ giả trở về. Triều đình đã tỏ ra vô cùng hoan hỉ và chính nhà vua đã gửi ban cho chàng một vò ngự tửu và một áo hồ cừu, để an ủi vị đại thần phải lao khổ, nhọc nhằn miền biên địa xa xôi.
Điền Quân nghinh sứ xong, liền cho vời lũ khách thương đến mà bảo rằng:
- Triều đình tỏ ý hài lòng về tặng phẩm của quý Quốc vương và nhờ ta chuyển đến các ngươi lời cảm ơn nồng hậu của Triều đình. Đây là bức thư của Chúa công ta nhờ các ngươi chuyển đạt đến quý Quốc vương. Và đây, một trăm nén vàng, phần thưởng của ta riêng tặng các ngươi, để đền đáp công lao khó nhọc đã vượt bao nhiêu núi cao rừng rậm mang tặng vật đến cho Chúa công ta.
Lũ khách thương một mực chối từ và xin phép được lên đường về nước.
*
* *
Mười tháng sau.
Bỗng một hôm, đoàn khách thương ấy lại đến gõ cửa biên thùy.
Đến giữa khách đường, lũ chúng kính cẩn thưa rằng:
- Bẩm tướng công, chúng tôi đã về đến nước, Chúa công chúng tôi rất đỗi vui mừng khi thấy quý Quốc vương tỏ ra hài lòng với những tặng phẩm ấy. Người vội truyền chúng tôi tức tốc trở sang, trước là để kính dâng lên Triều đình một trăm loại gấm quý và riêng tặng Tướng quân mười cây gấm Minh Châu.
Nói đến đây, lũ khách thương ngừng lại, truyền bộ hạ mang phẩm vật vào. Ôi! Gấm quý muôn vạn sắc màu rực rỡ. Nào gấm Minh Châu sắc ngọc lòa lòa phản chiếu. Nào gấm Chiêu Dương ửng hồng êm dịu như ánh dương lên. Nào gấm Châu Sa lấp lánh ánh lửa hồng sáng rực. Rồi gấm Lam Tuyền, gấm Bích Ngọc, gấm Dạ Quang và muôn ngàn thứ gấm.
Xem qua tưởng chừng chỉ có những bàn tay tiên nữ mới dệt nên những sắc gấm tuyệt vời.
Điền Quân còn đang mải mê nhìn thì lũ khách thương đã thưa tiếp:
- Bẩm tướng công, Chúa công chúng tôi truyền đem những vật mọn này kính dâng cho quý Quốc vương và Tướng công. Sau nữa. để siết chặt tình giao hảo giữa hai lân quốc, Chúa công chúng tôi xin Tướng quân vui lòng mở cửa biên thùy để thương khách chúng tôi được hân hạnh mang gấm tốt sang bán cho quý quốc.
Điền Quân ra chiều nghĩ ngợi, giờ lâu chàng mới đáp:
- Quà của quý Quốc vương có nhã ý tặng ta, ta xin nhận lấy. Còn như mở cửa biên thùy là điều hệ trọng, để ta dâng biểu tâu lại với Triều đình.
Chàng ngừng giây phút, rồi như để lũ khách thương được an dạ, chàng mới tiếp lời:
- Nhưng các ngươi cứ vững lòng, ta sẽ tiếp lời tâu vào, thế nào Triều đình cũng thuận. Vậy các ngươi cứ yên tâm lui ra quán dịch nghỉ ngơi, chờ thông điệp của Triều đình phúc đáp.
*
* *
Quả như lời Điền Quân dự đoán, sau khi xem qua tờ biểu, triều đình vì nể lời chàng mà chấp thuận mở cửa ải giao thương, mặc dầu Trung Hiếu Quốc công Thái Việt đã bao phen can gián, cho rằng ý định giao thương đột ngột này e không phải là thiện chí của lân bang.
Nhưng ý vua đã quyết, cửa ải quan đã mở rộng rồi!
Kể từ đấy, từng đoàn ngựa nối nhau ngày đêm tải gấm sang cho Việt Quốc.
Một trăm thứ gấm, gấm nào cũng đẹp, cũng xinh.
Bắt đầu thì hàng vương tôn công tử, hạng quý phái quyền uy đua nhau may mặc gấm. Nhưng số gấm tải sang mỗi lúc một nhiều, giá gấm càng ngày càng hạ, rồi hàng dân giả cũng đua nhau may mặc.
Và đau lòng thay. dần dần dân chúng chỉ còn nhìn thấy gấm đẹp ngoại bang mà hầu đã quên đi thứ lụa Trữ La quý báu của quê nhà.
Giờ đây, đi từ thành thị đến xóm làng, không còn tìm đâu ra dấu vết những tà áo lụa Trữ La kia nữa.
Đến cả Điền Quân, chàng thư sinh xưa kia đã sống nhờ lụa Trữ La, đã nhờ lụa Trữ La mà trở nên vinh hoa phú quý, giờ đây chàng cũng đã quên rồi thứ lụa của quê hương . Chiếc áo của Y Lang tặng chàng buổi trước, từ lâu chàng đã bỏ tận đáy rương, dưới những áo gấm trăm màu.
*
* *
Xuân đã về rồi. Xuân về vẫn không đem được nét tươi vui đến cho miền biên ải.
Đêm nay, Điền Quân thấy lòng buồn rười rượi; chàng đứng tựa vọng nguyệt lầu nhìn một dải trường giang trắng bạc đang lững lờ trôi dưới ánh trăng mờ.
Bỗng từ trên sông tiếng ai hò văng vẳng ngân cao:
Hỡi người bất hiếu tử!
Sao còn mê phú quý công danh.
Có nhớ mẹ già tóc trắng.
Mấy mùa đói lạnh chốn lều tranh.
Phú quý bất quy cố hương.
Như y cẩm dạ hành.
Tiếng hát chìm trong đêm lạnh. Chàng giật mình chạnh nhớ đến quê hương. tự buổi lâm hành.
. “Có nhớ mẹ già tóc trắng.
Mấy mùa ấm lạnh chốn lều tranh”.
Vui chi phú quý vinh hoa mà không tròn niềm hiếu thảo.
Ruột đau quặn thắt, nước mắt đầm đìa, chàng gục đầu nức nở.
Chàng thức suốt qua một đêm trắng, và khi trống lầu trở sang tư, chàng đã thảo xong lá sớ từ quan gửi lại Triều đình.
Chàng vội vã trở vào thu xếp hành trang, rồi treo ấn giữa nhà, chàng lẻn ra cửa thành phi ngựa trở về quê cũ.
Ra đi từ ngày mai nở mà về đến Trữ La khi cúc đã tàn.
Rặng núi xanh mờ hiện ra trước mặt nhưng lạ lùng thay. nương dâu không còn nữa, chỉ thấy trập trùng những lau sậy hoang vu.
Chàng phi ngựa vào làng. Trữ La thôn. xưa kia ruộng đất phì nhiêu, dân cư đông đúc, thế mà giờ đây. sao trở nên hoang vắng điêu tàn. Lòng bối rối âu lo. chàng thúc ngựa phi nhanh tìm về lối cũ.
Lối cũ giờ đây bìm leo sắn mọc, và nhà chàng, mái nhà tranh buổi trước chỉ còn một đống lá cây đổ nát. trơ vơ mấy gốc cau già xõa tóc sầu đau. Như lạc giữa cơn mê, chàng buông cương đứng lặng bơ phờ.
. . .
Trời đã sụp tối. Sương mờ đổ xuống phủ nặng ven rừng.
Xa xa trên dòng sông, chập chờn một bóng đèn lờ. Điền Quân cất tiếng kêu:
- Lão trượng! Lão trượng!
Thuyền từ từ cặp bến; lão ngư ông rọi ngọn đèn mờ chăm chú nhìn chàng, giờ lâu cất tiếng:
- Công tử có chuyện gì cần hỏi lão?
- Thưa lão trượng. Cháu muốn hỏi gia đình Điền mẫu xưa kia sống với Y Lang ở tại chốn này.
Lão ngư ông hạ ngọn đèn xuống rồi từ từ nói tiếp:
- Điền mẫu đã chết từ lâu, chết vì mong chờ và vì đói lạnh, còn. Y Lang, nàng phiêu bạt phương nào không biết.
Nghe qua, chàng thốt lên qua tiếng nấc:
- Trời ơi! Vì sao thế? Lão trượng! Xin người nói rõ cho tiểu sinh tường.
Vẫn với giọng trầm ngâm, ngư ông thuật lại:
- “Từ buổi Điền Quân ra đi, ở nhà Y Lang đã tảo tần nuôi mẹ, xóm làng ai cũng ngợi khen nhà họ Điền tốt phước được nàng dâu thảo. Tiếng dệt lụa của nàng ngày đêm không dứt, tiền bán lụa cũng đủ chỉ dùng qua ngày.
Ba năm qua.
Rồi năm năm qua, người đi vẫn bặt tin. Mẹ già vẫn mỏi mắt trông chờ và Y Lang vẫn bền gan mong đợi. Dẫu phải đợi chờ mãi mãi lòng Y Lang vẫn chẳng đổi dời.
Nhưng lòng người không đổi mà trò đời biến đổi không cùng.
Loạn lạc nổi lên, dân làng đói khổ, cướp bóc như ong. Nhưng Y Lang, nàng vẫn phụng dưỡng mẹ già mười phần chu đáo cho đến ngày sông núi thái hòa.
Nàng lại dệt lụa ươm tơ, tưởng từ đây cuộc đời sẽ mãi yên vui cho đến buổi người yêu trở lại.
Nào ai ngờ. Không hiểu từ đâu gấm Thủy Ba đem bán lan tràn từ thành thị đến thôn quê. Gấm đẹp quá. khiến ai trông thấy cũng đều say mê vì sắc gấm và người người đổ xô nhau mua gấm mặc.
Lụa Y Lang không còn bán chạy nữa. Nàng cố công chọn từ cái kén đường tơ, quyết làm cho lụa đẹp hơn bền hơn. nhưng lòng người đã nghiêng về cái ngoại. Có ai nghĩ tình nàng dâu thảo thì cố gắng mua cho đôi vóc là cùng.
Gia đình Y Lang từ đấy lâm vào cảnh cơ hàn thiếu thốn. Và cả Trữ La thôn sống với nghề dệt lụa này cũng cam đành đói khổ chỉ vì thứ gấm Thủy Ba.
Rồi từ đấy dân làng lần lượt bỏ đi tìm phương sinh sống. Trữ La thôn chỉ còn Y Lang ngày ngày bắt ốc hái rau nuôi lấy mẹ già, bữa đói bữa no.
Nhưng ngày kia, Điền mẫu lâm trọng bệnh. Quả thật họa vô đơn chí. Y Lang đã bán hết cửa nhà đổ vào thuốc thang, mong cứu mẹ. Nhưng mẹ già như ngọn đèn trước gió, một đêm kia trên giường bệnh, giữa cơn sốt mê man. Người cất lên mấy tiếng gọi con rồi tắt thở.
Lo xong việc ma chay, gia tài khánh kiệt. từ đấy không cửa, không nhà, không nơi nương tựa. Một chiều hôm, Y Lang ra đi rồi biệt tích. Có lẽ nàng đã theo bước Mạnh Khương đi khắp chốn tìm chồng.”.
*
* *
Chập chờn dưới bóng đèn mờ.
Điền Quân theo bước ngư ông rẽ lau sậy đi tìm mả mẹ.
Nấm mồ nằm bên dòng nước bạc từ lâu không được người chăm sóc, nên cỏ dại mọc um tùm.
Chàng quỳ trước mộ phần khóc than thảm thiết. Rồi bỗng nhiên chàng vùng lên, nghiến răng căm giận:
- “Gấm Thủy Ba! Gấm Thủy Ba! Cũng vì thứ gấm này mà mẹ ta phải chết trong đói lạnh, vợ ta phiêu bạt bốn phương trời và quê hương ta phải thống khổ điêu linh.”.
Rồi cởi mảnh bào gấm ngoại bang đang khoác trên mình, chàng vứt mạnh xuống giữa dòng sông lạnh.
Sài Gòn, 1957
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
|