Mọi người lao vào công việc: cưa bom, nấu thuốc, gò trái. Dưới sự hướng dẫn của Út, anh em thay phiên nhau làm việc suốt đêm ngày. Mìn tung ra các ấp, mìn tung xuống vành đai, mìn vây tròn, siết chặt quân thù lại trong vùng đất chết “Chốt Sân Dù”. Bọn Mỹ lúc nầy không còn hoành hành nữa, không còn dám đi nghinh ngang nữa. Phải vào tận hang ổ nó mà đánh! Du kích gánh mìn xuống vành đai nượp nượp.
Chạng vạng tối. Mưa lâm râm. Út đang dầm mưa trồng mấy cây chôm chôm([1]) con mới nhổ được dưới bờ suối. Dưới ấy pháo bắn quá, sợ nó sống không nổi. Út vừa xối nước kì cọ mấy cái lá nám đen vì thuốc pháo, vừa suy nghĩ: “Thằng Tặc, thằng Khiêm không hiểu, cứ cười mình hoài. Nó nói: vườn tược muôn vẹo([2]) còn tiêu tan, quý gì ba cái cây con chim ỉa cũng kiếm đem về trồng cho mệt, rồi bom pháo cũng ăn hết. Tụi nó đâu có biết: tre tàn măng mọc. Cây lớn chết hết thì cây nhỏ phải mọc lên. Giặc muốn giết chết tất cả thì mình phải làm sống lại tất cả. Lúc này một cọng rau, cọng cỏ nhú xanh cũng là quý, đừng nói chi tới cây chôm chôm, cây măng cụt. Rồi năm ba năm nữa, nó chưa có trái, nó cũng tạo được cái địa hình.
Có tiếng bước càn chồi ào ào. Út day lại:
- Chú Ba! Mưa gió mà đi đâu vậy chú Ba? - Chú Ba Nì chỉ “ừa”([3]) một tiếng rồi bước lại vại múc nước xối rửa chân ào ào.
Thấy mình mẩy tóc tai chú Ba ướt cả, Út nói:
- Thôi, vô nhà! Ướt hết!
Chú Ba bước tới, lom khom chui vô nhà. Gọi là nhà, kỳ thật chỉ là ba tấm tôn lủng ghép với một miếng “tăng”([4]) Mỹ, che xiêng xiêng dưới gốc tre. Phải khom thấp mới vô được.
Ở đây, bây giờ còn được một mái con như vậy là quý lắm rồi. Nhiều nơi, bom pháo phá trống lốc, không che mái được, suốt ngày phải ở dưới hầm. Mưa đêm, nước cứ rỉ xuống, ướt nhèn nhẹt. Tuy vậy, mọi công việc vẫn tiến hành. Thông tin, báo chí vẫn ra. Văn nghệ điện ảnh vẫn hoạt động, vũ khí vẫn sản xuất, cán bộ, du kích vẫn tung hoành và đất vẫn ôm mìn chờ giặc đến.
Út rửa tay sơ rồi theo chú Ba vào nhà:
- Có chuyện gì gấp không chú Ba?
Chú Ba chẳng vòng vo([5]) gì cả:
- Mầy làm gấp cho tao một trái mười hai ký được không Đực?
- Chi dữ vậy chú? Tám ký là đủ ăn thua với các cỡ xe rồi. Lớn quá tốn thuốc.
- Phải đánh cho nó bứt làm hai kìa!
- Bộ trái tám ký hôm rồi đánh không kết quả hả chú?
Chú Ba thở ra:
- Nó lấy rồi! Tấm ni lông choàng của tao xé làm hai gói không kín. Rađa rà lấy mất.
Rồi chú vỗ mạnh vào đùi:
- Thiệt là tức chết!
Út an ủi:
- Thôi! Để cháu làm trái khác cho! Thua kèo nầy bày keo khác chớ gì! Mà trái tám ký thôi chú à!
Chú Ba bỗng ngồi thẳng lên:
- Mầy nghĩ coi có tức chết không? Bà già([6]) ki cỏm([7]) đổ mồ hôi, sôi nước mắt, suốt đời mới lập được miếng vườn mít, năm nay vừa có trái chiến([8]). Tụi Mỹ đem xe tới ủi. Bà già cản, bà già la. Nó nói: “Nè! Mầy để yên thì tao ngủ trưa rồi thức dậy tao ủi tiếp. Mầy la, tao ủi liền bây giờ, không ngủ trưa!”. Bà già ức quá vừa khóc vừa chửi. Nó không ngủ trưa thật. Nó cho xe ủi ngay. Ủi sạch vườn mít, ủi luôn ngôi nhà bà, ủi cả mấy cái mả mới. Nó ủi chậm rãi, tỉ mỉ, ủi cho kỳ bật hết rễ cái, rễ con. Nó vừa ủi, vừa nhai kẹo, vừa cười hô hố. Bà già chạy ra tìm du kích khóc và nói: “Trả thù cho má! Các con ơi!”.
Đêm ấy tao vào đặt trái! Nhưng nó phát hiện. Mất trái tám ký rồi!
Chú thở ra, thờ thẫn.
“Trả thù cho má các con ơi!”. Đây là mệnh lệnh tấn công! Phải trả thù cho má! Phải trả thù cho chị Minh, cho anh Sáu, thằng Ca! Phải trả thù cho tất cả đồng bào!
- Được rồi! Trong đêm nay cháu sẽ làm cho chú trái mười hai ký. Sáng, chú đến lấy!
Hừng sáng, chú Ba đã tới. Trời vẫn mưa lâm râm.
- Tặc à! Mầy gỡ tấm “tăng” nóc cho chú ba bọc trái([9]).
Chú Ba cản lại:
- Ý! Đâu được! Trời mưa, tụi bây làm sao làm trái được?
Út vẫn cương quyết:
- Mưa bão gì chúng tôi cũng làm được, chú Ba à! Miễn là giết được giặc, trả thù cho bà con cô bác. Chú cứ lấy tấm ni lông đi.
Chú Ba gói trái mìn vác đi. Dưới mưa, lửa lò vẫn rừng rực cháy. Ba ngày sau, chú Ba nhắn tin về “Đã đánh gãy làm hai chiếc xe ủi đất. Thằng Mỹ cười hô hố không bao giờ còn cười nữa. Bà má nghèo hết khóc”.
Cùng với tin chiến thắng của chú Ba, Út được thơ Ba Cội. Thơ viết:
“Út Đực thân mến,
Mấy bữa nay tụi tao bò vô sân dù quánh([10]) lựu đạn. Tụi nó sập nhà mùng chết dữ lắm. Bữa nay nó sợ, nó rút vô cụm ở trong, bò vô có phần khó. Nhưng nếu được mọtchê pháo kích thì ăn tiền lắm. Út Đực mầy có cách gì lập thế làm cho tao ít cây mọtchê không?
Tụi tao trông lắm!”.
Ba Cội.
Út nhìn quanh công trường, bỗng phì cười:
- Bộ ông Ba Cội nói mình là kỹ sư thiệt sao chớ. Máy móc thì đây một êtô, một cần khoan, một quạt lò rèn, một mớ búa, đe, cưa, giũa lộn xộn! À! Còn ba cái bàn bị thương khập khiễng nữa chớ. Còn chuyên viên kỹ sư thì đó: non tiểu đội dân ruộng rẫy và dân cạo mủ cao su, mà người thông thái nhứt cũng chưa đọc suông được tờ “thông tin” của quận.
- Vậy mà ổng biểu mình làm mọtchê cho ổng. Làm như mình là kỹ sư thiệt vậy.
Nhưng rồi Út bắt đầu suy nghĩ. Nó có máy móc thì nó làm mọtchê theo kiểu nó. Mình không có máy móc thì mình làm mọtchê theo kiểu mình. Du kích cần là phải có; thằng Mỹ đến là phải chết.
Và Út suy nghĩ ngày đêm. Mấy ngày nay đôi mắt Út cứ sầm tối lại và quầng thâm ngày một đậm, một lan ra. Út ít nói và không cười nữa. Những ngày đêm căng thẳng trôi qua nặng nề. Đêm thứ năm, khoảng ba giờ khuya, Út lục đục viết thơ cho Ba Cội.
“Anh Ba thân mến,
Út sẽ làm cho anh bốn giàn hỏa tiễn. Đúng một tuần nữa anh cho người lên lấy. Ráng giữ vành đai chặt chẽ, đừng cho bọn Mỹ bung ra, cực khổ bà con lắm”.
Út Đực ký
Rồi Út đi ngủ. Vầng mây sẫm trong mắt Út tan rồi. Lần đầu tiên trong năm đêm nay, Út yên giấc.
Đúng ngày hẹn. Ba Cội cùng Đực Cò và ba anh em du kích lên tận nơi lãnh giàn hỏa tiễn. Các chú du kích thấy là mê ngay, khen um([11]):
- Thiệt là ác xiêm lai([12])! Ác xiêm lai!
Giàn hỏa tiễn là một miếng gỗ bề ngang độ hai gang, bề dài độ ba gang, dày độ hai phân, có ràng rịch thiếc Cao Bằng cho đứng bể. Trên gắn đúng mười trái bom bi.
Út giải thích:
- Đào lỗ sâu sáu tấc. Mỗi giàn nặng tám ký thì để ở dưới độ tám trăm càram([13]) thuốc tống. Như thế có thể đánh từ một trăm đến một trăm năm mươi thước. Còn như muốn đánh xa hoặc đánh gần hơn nữa thì tùy mà gia giảm như hốt([14]) thuốc bắc. Thuốc tống cháy phóng nguyên giàn hỏa tiễn vô. Bom bi nổ. Trái nầy kích thích trái kia rồi liệng văng lung tung, nổ tứ phía! Một giàn hỏa tiễn nầy tác dụng bằng mười trái mọtchê!
Cội vỗ tay:
- Giỏi thiệt! Út mầy giỏi thiệt! Nhưng phải kêu nó bằng cái bệ phóng mới đúng!
Út dễ dãi:
- Ừ! Muốn kêu bằng gì đó thì kêu, nhưng đánh rồi nhớ rút kinh nghiệm cho biết nghen!
Đực Cò hỏi:
- Nhưng nó có bay tới không? Hay nhảy lên rồi té xuống đầu đó ông nội? Thứ hỏa tiễn của ông sao trụi lủi không có đuôi có cánh gì hết?
Út cười:
- Cái thằng! Thiếu tin tưởng làm sao đánh giặc, mậy([15]).
Rồi day sang Cội:
- Anh Ba có tin không? Nếu chưa tin thì đi thử liền một giàn cho coi để rút kinh nghiệm.
Ba Cội khoát tay:
- Thôi! Thôi! Khỏi! Có đâu thử ngoài đồng cho uổng! Để tối tao thử trong đầu giặc Mỹ.
Tối ấy, Út và toàn thể công trường lắng nghe. Khoảng mười hai giờ đêm, pháo giặc nổ “oành! Oành!” dữ dội.
Cả công trường reo lên:
- Ba Cội làm ăn rồi! Ba Cội làm ăn lớn rồi!
Ngày sau, được thơ Ba Cội:
“Út Đực thân mến,
Nhắn về cho Út mầy mừng. Mấy cái bệ phóng làm ăn khá quá. Nó nổ như pháo bầy, nghe khoái lỗ tai lắm. Còn ba thằng Mỹ nó khóc om sòm! Không biết nó chết bao nhiêu, chỉ thấy sơ bộ ba trực thăng hốt xác([16]).
Chú mầy cố gắng rồi tao đề nghị với Chi ủy phong cho cái bằng kỹ sư thiệt.
Ba Cội vành đai.
À! Đàng mình bình yên hết.
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
|