tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
18.05.2009
Viễn Phương
Anh hùng mìn gạt (6)

 Việc sáng chế mìn gạt bắt đầu.


Công trình đã rộn rịp càng thêm rộn rịp. Lửa cháy bập bùng suốt ngày đêm. Có hai việc cần giải quyết:


Thứ nhứt là tôn.


Từ trước đến nay, đồng bào tản cư, nhà cửa vườn tược đều giao cho du kích. Cứ lấy tôn của đồng bào mà làm. Nay tôn sắp hết rồi. Số còn lại cũng bị bom đạn lủng cả. Nhưng tôn thì khỏi lo. Đã có mấy má, mấy chị ngoài Gò Nổi.


Gay go là vấn đề thuốc nổ. Dạo nầy bom nép khó kiếm lắm. Lúc trước chi ủy có thông báo: Du kích các ấp cần trái cứ đào bom lép đem lên công trường đổi. Du kích khiêng trái lép đến ì ì. Bom chất cả hầm, xài không hết. Lần lần du kích thấy làm trái cũng chẳng có chi khó lại bày ra tính lợi, tính hại. Thấy đổi chác như vậy có phần lỗ nên ấp nào du kích nấy nổi lò tự làm mìn lấy. Các cơ quan thấy các ấp làm khá cũng bắt chước làm theo. Thế là mạnh ấp, ấp nổi lò; mạnh cơ quan, cơ quan nổi lò. Cơ quan lớn nổi lò, cơ quan nhỏ cũng nổi lò. Đầu trên một lò, xóm dưới một lò, gốc tre nầy một lò, bờ hố kia một lò, lò núp trong rừng, lò ẩn bờ rạch, lò dựa mé sông.


Rồi du kích ấp, du kích cơ quan đua nhau đi quần tìm trái lép. Lò mọc lên như nấm mà bom thì ngày một ít. Cái thằng Mỹ dạo nầy không còn ăn xài lớn như trước nữa. Nó bắt đầu tiết kiệm dữ. Theo thằng Khiêm thì nó rít róng([1]) quá thể rồi. Thằng Mỹ nó rít róng quá thể thật. Ai coi: tình hình nầy, trái trăn cần thiết như vậy mà pháo chỉ bắn cầm canh lải rải mỗi đêm năm ba chục quả, chứ không chơi từng bầy như trước nữa. Còn bom cũng ít hơn, thưa hơn. Có bữa đầm già phát hiện, phản lực cũng lên hầm hí dữ dội nhưng chỉ làm sơ sơ rồi ngoe nguẩy bỏ về. Như trong vụ cháy lò ấp hôm rồi. Nguyên nhân cũng tại đám thịt cầy. Du kích bận nhậu, quên canh lửa. Chảo thuốc bốc cháy thổi hù hù như giông. Lửa lên tới ngọn cây. Rủi sao con đầm già xợt([2]) ngang. Nó cảo([3]) liền. Du kích vừa xách súng, bưng mâm chạy vừa cười ha hả - bỏ sót cái nồi hon. Phản lực tới làm dữ. Tưởng nó bom cho tới tối. Nào ngờ chỉ một hiệp khu trục, hai hiệp F rồi vãng luôn. Trước kia, phát hiện như vầy, nó bỏ bom suốt đêm ngày, cả tuần là ít.


Du kích cười nói với nhau: “Bộ thấy làm dữ không ai sợ nên nó giận lẫy([4]) không thèm bỏ bom nhiều nữa coi khổ ai cho biết!”. Thằng Tặc tưởng thiệt, chắt lưỡi than: “Nó mà bỏ bom ít thì công trường mình khổ thiệt chớ!”.


Cái ông kẹ([5]) của Mỹ, giống B52 cũng không còn ào ào như trước. Lóng rày([6]) chỉ thỉnh thoảng nó mới trút bom. Mà mỗi trận, B52 cũng chỉ làm sơ sơ vài ba chập, chớ không theo đúng nguyên tắc mỗi trận phải đúng mười một chập, mỗi chập đúng ba chiếc và mỗi chiếc đúng ba mươi ba quả như trước kia. Người ta đồn nó hết bom, không biết có phải không? Chỉ thấy rõ là nó tính toán chi ly lắm, chi ly có phần hơn ông kinh tài xã mình nữa. Có bữa thằng Tặc đi quần suốt ngày không thấy quả lép nào về tới nhà nó ức quá, chửi đổng:


- Đ.m thằng Mỹ, sao cả tháng rồi không cho B52 đi ném bom?


Cả công trường cười rộ. Út cũng bật cười nói:


- Nè! Đừng có phát biểu ẩu như vậy, rủi thằng Giônxơn nó nghe được nó thua buồn rút hết quân thì mầy hết mong làm dũng sĩ nghe mậy?


Tặc kêu Khiêm thức dậy. Bữa nay hai đứa lo cơm sớm. Không biết đã mấy giờ rồi. Trong xóm không còn con gà nào để báo thức hết. Nghĩ giận thằng giặc Mỹ. Trời còn nhiều sao lắm. Khiêm ngồi dậy ngáp dài. Tặc đi xuống hầm bếp. Bỗng tiếng Tặc la om sòm. Chú Út giật mình choàng dậy, hỏi giật giọng:


- Gì vậy Tặc?


Tiếng Tặc vọng lên:


- Mất hết rồi!


Chú Út rầy:


- Mất cái gì thì thủng thẳng kiếm, có đâu làm như giặc vậy!


 Tiếng Tặc lại om lên:


- Mất cái hầm bếp rồi! Kiếm sao được!


Chú Út chợt hiểu, phì cười, lẩm bẩm:


- Trái bom trộm hồi khuya.


Đúng vậy! Trái bom trộm hồi khuya đã bứng mất cái hầm bếp. Ở đây, từ lâu rồi bom đạn bất thường như thế. Pháo, bom đến cả trong giấc ngủ. Chịu đựng riết rồi cũng hóa bình thường. Lắm đêm, pháo chụp ngay trên nóc hầm, bụi đất đổ rào rào, anh em chỉ phủi sơ rồi ngủ lại. B52 bỏ long trời chuyển đất, anh em thức dậy, nhóm bếp nấu nồi trà, tào lao ba câu chuyện rồi đi ngủ như chẳng có gì lạ xảy ra. Có đêm thức dậy thấy mất bụi tre bên nhà hầm. Có bữa sáng ra thấy mất cái giếng trước ngõ. Đều là chuyện bình thường tất cả.


Tặc chạy lên, nhịn cười đứng nghiêm:


- Báo cáo anh nuôi, ông táo bị oanh tạc bể công sự tản cư mất rồi.


Chú Út lại phì cười:


- Nồi trách còn không?


- Còn cái đìa([7]) tổ cha([8]).


Thật rầy rà cho chú Út.


Bữa nay chú Út định đi làm ăn xa, lên tận miệt rừng Lộc Thuận đào bom lép. Mấy xã, mấy ấp gần du kích họ đào chẳng còn một trái. Hễ nghe bom ì ì thì họ ra rình rồi. Qua trận là họ quần cắm bảng giữ phần hết. Chú Út nhìn bảng cắm giăng giăng, nhớ chuyện xưa trong lòng vui vui, chú nói:


- Nó làm giống hồi đó nông dân mình cắm bảng lãnh đất tạm cấp quá!


- Làm sao nấu cơm ba? - Tặc hỏi.


Út cũng đã dậy:


- Dời bếp qua hầm ngủ nấu tạm.


- Phải! - Chú Út gật đầu - Lấy đá làm lò, lấy nón sắt Mỹ làm nồi nấu đỡ đi. Ít bữa rảnh, tao kiếm nồi trách khác.


Chỉ một loáng, lửa đã bùng lên.


Gần mười giờ sáng, chú Út và Tặc mới tới rừng Lộc Thuận. Luồn rừng tới đứng bóng chỉ gặp toàn lỗ bom đã đào rồi.


- Du kích trên nầy cũng làm ăn dữ, hén([9]) ba? - Tặc nói.


Chú Út không trả lời, cứ càn cây rốp rốp đi tới. Tặc nghĩ: “Coi bộ ông già “nực” dữ rồi đa nghen!”. Mãi ba giờ chiều tía con mới gặp một chùm bốn trái lớn. Chắc là bom của B52. Biết là bom của B52, vì nó cắt có chùm, trái rớt gần nhau. Hơn nữa theo thằng Tặc thì “thứ đó bay tận trên trời xanh bỏ bom sâu tới dưới âm phủ lận”.


Nhưng rồi lỗ lép nào cũng có cắm bảng. Bảng thì đề: bom của du kích Hố Bò, bom của đội nữ Phú Hiệp. Bảng khác thì có chữ: của du kích cơ quan thông tin, bom của đội văn công quận, của chi đoàn thanh niên Bàu Đưng.


Thằng Tặc đi mệt, đổ quạu:


- Mẹ! Sao mà “tư hữu” quá trời vầy nè! Trái nào cũng “xí”([10]) hết. Làm như của cải riêng tư gì của ông bà để lại vậy. Nhổ bảng vụt([11]) đi rồi đào ba. Ai biết mà sợ!”.


Chú Út vẫn càn chồi rốp rốp.


- Thôi mầy! Trái bom chớ bộ trái cà trái ớt gì sao mà bỏ túi rồi phi tang được. Đừng có làm lếu([12]). Đổ bể([13]), nó kiện tới chi ủy, huyện ủy, xấu hổ lắm. Mà nó đào thì cũng để đánh giặc chớ có cầm bán nuôi vợ nuôi con gì mà mầy nói tư hữu?


Nửa chiều rồi. Bình toong nước không còn một giọt. Hai cha con mặt đỏ gay, buồn xo, bước lầm bầm, làm thinh làm thế!


Gần tới Ri, thấy con đầm già vè vè, chú Út bỗng nảy ra một ý. Chú la lên:


- Ví([14]) nó Tặc!


Chú chạy rấn tới đón đầu nó “đùng” một phát. Đang bay bình yên, bị đánh vỗ mặt bất ngờ, nó giựt mình “e.” một tiếng lớn rồi cất bổng lên. Đầu kia, Tặc vố([15]) cho hai phát: “Đùng! Đùng!”.


Coi bộ nó giận dữ, nó vẫn xoáy vòng nhỏ, nó siết siết rồi chúi thẳng xuóng. “Đùng! Đùng!”. Chú Út bắn đón nó trước khi nó “cảo”. Nó hoảng lách qua. “Cảo! Đùng!”.


- Trật lất! - Tặc la lên rồi tán([16]) cho ba phát nữa.


Nó cất tuốt lên cao, không dám xuống.


Bỗng nghe u u.


- Khu trục tới nghe! - Tặc la.


- Chạy mầy! - Chú Út ra lệnh.


Hai tía con tuột xuống chiến hào chạy tản ra mỗi người một ngả.


Thằng đầm già dáo dác liếc qua liếc lại, chúi xuống “cảo. đùng” rồi cất đứng lên coi bộ sợ quýnh quýu.


- Cảnh giác dữ he! - Tặc la.


Chú Út vừa chạy vừa theo dõi bầy khu trục. Chú sợ nó bay luôn, không thèm “chiếu cố” tía con chú. Nhưng kìa đang đi hình tam giác nó bỗng xếp hàng một. “Đúng rồi!” - Chú Út la lên rồi phóng nước rút, chui vào công sự.


- Zú. u. ầm! Nó bắt đầu rồi!


Chú Út ngồi đếm: một. hai. ba. năm. bảy, chà! Thằng nầy làm cũng hơi dai đây! Chú buồn ngủ dữ rồi! Cái nghề trốn máy bay nầy hay buồn ngủ lắm. Bữa nay đi suốt ngày mệt mỏi, dựa vách chiến hào nầy làm một giấc thì đã biết mấy?


Chú ngáp dài. Bỗng. “Đùng! Đùng! Đùng!”. Nó bắn! Chú nhỏm dậy. Nó sắp chạy rồi. Đúng vậy. Làm sơ vài loạt, ba thằng khu trục hối hả ra về. Thằng đầm già lại quan sát. Nó vè vè thấp lắm. Có lẽ nó tính du kích đã bị chết hết rồi! Sống sao cho thấu với bom đạn của không lực Huê Kỳ! Mà thí tỷ([17]) như có người còn sống sót thì cũng đã sợ điên lên, bò càn lủi trốn. Nó tính theo tâm lý Huê Kỳ của nó như vậy: rủi nó đụng trận gặp máy bay Việt cộng như thế thì nhứt định nó lủi mất mà thôi. Mắc Namara có rị giò nó lại thì nó cũng chòi([18]) nó nhủi. “Nhưng, lạy Chúa! Việt cộng không có máy bay! Ưu thế của không lực Huê Kỳ như vậy đó. lạy Chúa!”. Nó yên tâm, vè vè xuống thật thấp.


Chú Út từ trong công sự nhóng lên thấy thằng Tặc đang phủi bụi và phun phèo phèo, chú nghĩ: “Chắc đất cát văng vô miệng nó nhiều lắm!”. Chú la:


- Cái thằng thiệt dại! Không chịu ngậm miệng cho kín!


- Biểu nó kêu phản lực, mầy Tặc!


Tặc hội ý tống cho nó hai phát. Chú Út quất trọn một “lam”([19]) tự động. Nó hớt hơ hớt hải rống “e” một tiếng rồi cất lên cao tận mây xanh.


Ba phút sau phản lực tới thiệt.


Tặc la:


- Trốn kỹ ba ơi! Thứ nầy ưa xài bom bi lắm.


Tặc nói vừa dứt thì có tiếng “bụp”. Một trái khói tỏa ra vàng nghệ. Khói hiệu bom bi rồi! Hai cha con chạy tản ra hai hướng, chui tuột vào ngách công sự.


“Rầm! Rầm! Rầm!”, như pháo Tết. Rêm cả đầu. Bom bi đó! Chú Út nhích sâu vào ngách công sự chút nữa. Gặp thứ phản lực nầy phải trốn kỹ chớ có khinh thường, vì nó là thứ máy bay tối tân của không lực Huê Kỳ. Nó bay nhanh hơn gió nên bỏ bom dở ẹt trật lất. Nhắm điềm nầy nó bỏ trúng điểm khác, có khi cách đấy cả mấy cây số. Vậy mới hại mình đó.


Như hồi nẳm([20]), nó bỏ ngoài Bàu Lách. Chú Út và anh em du kích ngồi trong nầy có chọc ghẹo gì nó đâu. Chú cháu đang “hội thảo” về cái vấn đề không lực Huê Kỳ hay rượt trâu ngoài ruộng thì. zú. uột. Một trái bom bằng cái khạp([21]) đường rớt xuống rồi chạy ào ào trước mặt. Chú cháu nhào lăn, nhào ngửa. Lúc đầu tưởng nó có máy móc gì phát hiện được mình đang chê nó, nên nó giận. Nhưng rốt cuộc rồi, rõ ra là nó bay lỡ trớn. Thứ máy bay tối tân nầy nguy hiểm là vậy đó. Nó bay bỏ trật, ẩu lắm. Không biết đâu mà lường. Phải hết sức cảnh giác nó mới được.


“Ầm!”. Rung chuyển hết!


- Vôi! - Chú Út lẩm bẩm.


Vôi là thứ bom lớn. Nó chúi xuống đất thật sâu. Khi nổ, nó moi đất sét trắng vãi tung tóe như rắc vôi. Bà con lấy đó mà đặt tên cho nó.


Bầy khu trục cắt thêm vài trái vôi nữa rồi cặp kè bay về.


Chú Út tính với Tặc:


- Khu trục nó chúi mười hai lần. Có ba lần không nổ, vậy là ba trái lép. Còn phản lực thì chỉ lép một trái thôi.


Tặc cãi lại:


- Khu trục có ba lần trái xuống không nổ, tôi thấy rõ ràng. Còn phản lực thì bốn lần chúi xuống không nghe nổ. Ít ra thì cũng hai trái lép. Như vậy, kể bỏ cũng năm trái.


Chú Út không thèm cãi với nó chi cho mệt. Cứ tìm ra số bom lép thì rõ. Đã lâu rồi, chú Út không rầy áp thằng Tặc nữa. Ngày chú càng thấy rõ thằng Tặc ngày nay không phải là thằng Tặc con chú năm trước, cũng không phải như chú ngày xưa. Ngày xưa, bằng tuổi nó, chú còn đi ở đợ, chăn trâu. Chú đi cho trâu ăn đêm. Con thằng địa chủ gạt chú: “Chừng nào bấm cái sừng trâu thấy mềm là trâu no, mới được về”. Một thân trơ trọi, đồng rộng mênh mông, mùa gió bấc. Đồng có tiếng nhiều ma. Phần rét, phần sợ, chú cắn sừng trâu mãi chẳng thấy mềm. Nhưng sợ rét, sợ ma không bằng sợ thằng địa chủ nên chú không dám đánh trâu về, chỉ ôm cổ trâu mà khóc với trâu cho tới sáng trắng.


Thằng Tặc ngày nay khác hẳn. Nó theo cách mạng, nó phục tùng Đảng. Còn ngoài ra, con ma, con quỷ, thằng địa chủ và thằng Mỹ không một thứ nào có thể làm nó sợ. Ngược lại, tất cả bọn ấy phải khiếp sợ nó. Chú đã thấy tận mắt có lần một thằng Mỹ run rẩy lạy dài dưới chân nó.


Con hơn cha, nhà có phước. Ngày nay thế hệ con đều hơn thế hệ cha, ấy là nước nhà mình có phước.


Quần mãi cũng chỉ có ba trái lép, vậy mà thằng Tặc vẫn còn gân cổ một mình:


- Còn hai ba trái nữa trốn đâu đó. Mai sáng ra kiếm nắm đầu đem về.


Cắm bảng làm dấu xong, hai cha con hí hửng ra về. Dọc đường, lượm được thêm một mớ bom bi nữa.


Tới nhà, anh em đổ ra mừng. Thằng Tặc được dịp, mặc sức mà kể công.


Chú Út chỉ kết luận:


- Tụi bây đừng lo. Hết bom lép thì tao biểu thằng Tâylơ đem tới tiếp tế thêm.


Khiêm sửa lại:


- Thằng Tâylơ về vườn lâu rồi, ông ơi. Bây giờ là thằng Mắc Mamara với thằng Giônxơn.


Chú Út khoát tay:


- Ối! Mấy thằng đó tên lộn xộn lắm, tao không có nhớ, nhưng thằng “đách” nào rồi thì cũng phải lo tiếp tế cho mình mà thôi.


Lúc đó, thằng Tặc nhào xuống hố bom đìa tắm, lội ầm ầm, tiếng nó la um:


- Thằng Quếtmaulen([22]) đào hồ, tắm khoái quá ta!


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.







([1]) Hà tiện.




([2]) Bay chợt.




([3]) Bắn.




([4]) Dỗi.




([5]) Ngoáo ộp.




([6]) Dạo này.




([7]) Cái ao.




([8]) Rất to.




([9]) Phải không.




([10]) Xí phần.




([11]) Vứt, quăng.




([12]) Làm by.




([13]) V l ra, l ra.




([14]) Vây.




([15]) Nện.




([16]) Nện, bắn.




([17]) Ví dụ.




([18]) Đạp.




([19]) Băng đạn.




([20]) Năm xưa.




([21]) Ché, vại.




([22]) Oétmôlen.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »