Mặt trời ngả xuống bên kia sông Sài Gòn hắt ánh nắng đỏ rực lên ngọn những cây khô đứng trơ vơ giữa đám rừng cháy. Từng đám khói của những trận bom trong ngày còn vương vất, ùa lan theo gió, tỏa mùi khét lẹt.
Tôi hấp tấp bước trên con lộ làng An Phú. Trời đất trống hoang, gió lộng ù ù. Tôi dớn dác nhìn trước, nhìn sau, lắng tai nghe tiếng đầm già, tiếng pháo hú.
Cách đây không lâu, lộ làng An Phú là con đường nên thơ nhứt vùng này. Đây là con lộ đất chạy cặp sông Sài Gòn. Hai bên đường tàn xanh bóng rợp, nhà liền như úp bát, hàng quán giăng giăng. Cháo gà, hủ tíu, cà phê, bánh bao thứ gì cũng có. Đồng bào cán bộ lui tới đông vầy, xe đạp xe bò lại qua tấp nập.
Vậy mà hôm nay, bom pháo nó đánh tan tành hết. Trên đoạn đường trước mặt hố pháo, hố bom ken liền miệng. Không có khoảng đất nào bằng phẳng trải vừa một chiếc đệm. Không còn một mái nhà, không còn một bụi tầm vông. Ăn cơm rồi kiếm cái tăm xỉa răng cũng còn khó. Nhưng giận nhứt là ba thằng ngụy, cũng da vàng máu đỏ mà cõng rắn cắn gà nhà.
- Đù hỏa! Độc lập rồi, tao bắt cả dòng họ thằng Thiệu đi lấp mấy cái hố bom này. - Tôi vừa bước tránh cái miệng hố bom đìa, vừa lầm bầm.
Bỗng nghe sau lưng có tiếng la bài hải:
- Tránh! Xe! Tránh!
Tôi day lại, chiếc xe đạp đâm sầm phóng tới. Tôi nhảy né một bên.
Ào! Rồi lọt tuốt xuống hố bom đìa.
Từ dưới hố bom tôi la vọng lên:
- Mày chạy đi đâu mà bạt mạng cô hồn vậy Thanh?
Tôi nghe tiếng được tiếng mất:
- . đi. thơ. hoa tốc.!
Tôi nhìn cái giò lả một đường từ bắp vế tới đầu gối. Cũng may là trong hố bom cỏ Mỹ mọc dày.
Bỗng nghe lụp cụp trên miệng hố. Tôi nhìn lên. Thằng Thanh dẫn xe đạp trở lại, đứng ngó, cái mặt nhăn nhăn nửa như muốn cười, nửa như muốn khóc.
Nó cố lấy giọng buồn, ra vẻ thiểu não:
- Chú có sao không chú Sáu?
Tôi càng đổ quạu:
- Chưa gãy cổ.
Nó xuống giọng nhỏ, nửa như xin nỗi, nửa như phân trần:
- Cháu đâu có đụng chú.
Tôi trả lời dấm dẳn:
- Lọt tuốt xuống hố bom rồi, còn đâu nữa mà đụng.
Nó tần ngần một chút rồi xắn quần bước xuống:
- Thôi để cháu cõng chú lên.
Thằng coi vậy mà cũng có nghĩa.
- Thôi mày! Tao lên nổi. - Tôi dịu giọng. Tánh tôi lóng nảy nhưng cũng dễ lạt lòng.
Tôi nghĩ: “Ai để cho mày cõng, cái thằng láu táu! Mày trật chân liệng tao xuống hố một lần nữa chắc thân tao mềm như trái chuối”.
Nhưng cũng phải la rầy cho nó sợ chứ. Tôi lớn tiếng:
- Đường sá như vậy mà mày chạy ào ào như phản lực có ngày gãy cổ nghen mậy!
- Dạ! Con đi hỏa tốc mà chú Sáu!
Nghe nó nói hỏa tốc, tôi sực nhớ:
- Thôi! Đi mau đi cho kịp! Ờ mà chạy vừa vừa nó nghe mậy!
Thằng Thanh đi rồi tôi chống tay gượng đứng dậy. Mình mẩy ê ẩm hết. Mấy cái thằng con nít này thiệt là “ẩu” hết nước. Đường này, đi bộ còn muốn té mà nó phóng xe ào ào! Thiệt còn giỏi hơn hát xiệc đi mô tô bay.
Nghe cái chân mát mát tôi ngó xuống.
Rồi! Cái quần tét một đường từ bắp vế xuống tới lai. Tiêu cái quần “đầm” mới của má bầy trẻ gởi cho để mặc ăn Tết rồi.
*
Tôi tới trụ sở xã ủy vào lúc Năm Thiện đang triển khai kế hoạch chống càn. Bà con kẻ ngồi người đứng chật một hầm. Năm Thiện ở trần trùi trụi điều khiển hội nghị. Thấy tôi đến Năm Thiện mừng rỡ:
- A! Anh Sáu nhà văn! Xuống chơi.
Mình biết chút ít chữ nghĩa, biết viết văn làm báo anh em người ta quý lắm.
Tôi ngồi trên miệng hầm, thòng chân nói xuống:
- Thôi! Ngồi trên này cho mát, anh Năm!
Trong lòng còn hơi bực bội, tôi lầm bầm:
- Dưới hầm nóng như hỏa diệm sơn. chớ bộ.
Năm Thiện tiếp tục trình bày chủ trương của quận:
- Bây giờ tình thế khó khăn, mật độ bom pháo dày đặc. Trận càn kỳ này chắc chắn sẽ rất ác liệt. Nó quyết tâm không cho bà con mình ăn Tết mà! Bởi vậy quận mới chủ trương chỉ để thanh niên ở lại chiến đấu, còn người già cả với mấy chị đàn bà và con nít thì nên tản đi bớt để tránh tổn thất không cần thiết. với lại.
Năm Thiện nói chưa dứt câu thì dưới hầm nhôn nhao lên rồi, tất cả rầm rầm phản đối.
Bác Sáu Tòng bịt xước cái khăn rằn lên đầu, giơ tay đứng dậy tức tối:
- Thằng Năm mày nói vậy nghe sao phải. Bác Hồ có dạy: Ào, Ào, Ào! - Già nào, trẻ nào, lính nào, dân nào. Kẻ có súng dùng súng, kẻ có dao dùng dao, thấy Tây cứ chém hết, thấy Mỹ cứ chặt nhào!. Vậy mà thằng Năm mày biểu tụi già tao tản cư là ý làm sao?
Dưới hầm vỗ tay rôm rốp:
- Đúng! Đúng!
- Đúng!
Chị Ba Bèo rút cái vú ra khỏi miệng thằng nhỏ cái “tróc” bỏ vạt áo xuống, đứng dậy không cần xin phép:
- Không có đúng!
Mọi người chưa hiểu ý sao thì chị nói tiếp:
- Bác Hồ dạy như vầy:
Ào! Ào ào.
Già nào,
Trẻ nào,
Lính nào,
Dân nào,
Đàn ông nào,
Đàn bà nào!
Chị nhấn mạnh ba tiếng “Đàn bà nào”. Hồi nãy ông Sáu Tòng kể thiếu đàn bà. Hèn chi chị phản đối, rồi chị tằng hắng nói tiếp:
- Bác Hồ dạy: “Giặc tới nhà đàn bà cũng đánh” mà anh Năm biểu tụi tui tản cư là tản cư làm sao kìa? Tản cư đi đâu cà?
- Ngon! Ngon!
- Đúng! Đúng!
Ở dưới vừa vỗ tay vừa la.
Năm Thiện mồ hôi như tắm, nhưng vốn người “túc trí đa mưu”, anh không hề bối rối.
- Trật tự! Trật tự! - Anh lên tiếng.
Bà con im lặng trở lại.
- Thôi! Bà con bình tĩnh. Dễ trăm phần không dân cũng chịu. Khó trăm phần dân liệu cũng xong. Bây giờ mình thảo luận từng phần, nhứt trí từng phần, giải quyết từng phần.
Bà con lắng nghe có vẻ vừa ý. Năm Thiện vấn thuốc hút, lau mồ hôi trán rồi chậm rãi tiếp:
- Bây giờ tôi xin hỏi ý kiến bà con cái điểm này: Đưa con nít trẻ em tản cư, bà con có chịu không?
- Chịu! Dưới hầm nhứt trí một cái rần.
- Cái đó thì chịu!
“Thằng cha này khôn thiệt! - Tôi nghĩ - Con nít đi thì đàn bà cũng phải đi theo thôi. Rồi bà thương cháu cũng đi. Rồi ông thương bà cũng đi luôn”.
- Khôn! Khôn thiệt! - Tôi khen thầm.
Tôi sực nhớ tới thằng Thanh, vụt lên tiếng:
- Như thằng Thanh đó, con nít mười hai, mười ba tuổi, nên cho nó tản cư chớ để đó làm chi.
Bỗng sau lưng tôi có tiếng câu mâu cãi lại:
- . Tại chú đi sụp lỗ té. chớ cháu có đụng chú đâu mà chú hại cháu! Cháu gần mười bốn tuổi rồi, chớ bộ. Tại má cháu đẻ ráng nên cháu đèo ngắt. chớ bộ.
Tôi day lại: Thằng Thanh! Nó về đứng sau lưng tôi êm ru hồi nào.
Tôi bắt nổi nóng, cái giò còn rát rạt đây nè! Tôi sẵng giọng:
- Thanh! Tao làm cái gì mà mầy nói tao hại mày Thanh? Thì tao thấy mày còn nhỏ dại mà bom đạn ác liệt, tao thương, tao nói cho mày lánh né, mày không chịu thì thôi chớ tao làm cái gì mà mày nói tao hại mày hả?
Nó không trả lời, cứ đứng dậm chân khóc hu hu:
- Hư. hư. Vậy chớ anh Kim Đồng hồi đó có lớn hơn cháu đâu? Hồi nào biểu người ta một tấc không đi, một ly không rời, bây giờ bắt người ta tản cư. cháu không có tản đi đâu hết á. Không cho cháu ở đây đánh giặc thì cháu xin vô bộ đội cháu đánh. Hư. hư. Hư.
Bà con khoái chí cười rần rần. Năm Thiện nhìn tôi nhăn nhó, làm như tôi là thủ phạm chánh trong cái vụ rối ren này.
Tôi tức tối vò đầu vò cổ:
- Tội nghiệp tao Thanh ơi! Mày nín đi cho tao nhờ. Tao xin rút ý kiến.
Và tôi kêu Năm Thiện:
- Anh Năm ơi! Thôi tôi về nghen! Tới để thăm anh với cho anh hay, trận càn nầy tôi không có đi đâu hết. Tôi vẫn ở tại Hố Bò. Có tin tức chiến đấu gì hay báo cho tôi biết để tôi o tờ báo Tết Sài Gòn Gia Định cho xôm.
Năm Thiện khoát tay:
- Ậy! Ậy! Khoan! Ơ chơi một chút, họp xong mình U.T.Q([1]) mà anh Sáu.
Tôi đứng dậy:
- Thôi anh Năm! Trời tối rồi, sợ pháo. Thôi xin chào bà con.
Tôi nói vậy rồi bỏ đi, ngẫm nghĩ:
- Chừng nào mới xong. cái “trận giặc” tản cư nầy của ông? Cầu tới Tết.
Dưới hầm bà con vẫn ì xèo mất trật tự.
Trong tiếng nói cười bàn tán ầm ĩ. thỉnh thoảng nghe tiếng “Hước.” tức tửi, dài thoòng của thằng Thanh. Tôi càng thêm hầm trong bụng:
- Cái thằng con nít tiểu quỷ đó. không gặp nó thì thôi. hễ gặp mặt nó là có chuyện.
*
Nhớ lại chuyện cũ thêm tức tối. Hôm đầu năm, Sáu Trung nhờ bà “móc” về tới ngoài Phan Rang móc túi bà xã được mấy trăm bạc.
Trưa đó ổng khèo tôi ra vườn:
- Đi xóm Thuốc ăn hủ tíu uống cà phê chơi!
Tôi góp ý:
- Ra thẳng Xóm Chùa thăm cô Tư Méo. Cô Tư Méo pha cà phê “điệu” lắm.
Ở xã An Phú nầy ai không biết cô Tư Méo. Người trắng trẻo, gọn gàng, tươi tắn, ăn nói xởi lởi, tánh tình lẹ làng, bông bắng dễ thương. Miệng cô có hơi méo một chút, nhưng là méo duyên. Tại cô không biết, chớ lấy máu cái đuôi con lươn chấm phía bên kia một chút là nó giựt lại liền. Nhưng nó giựt lại ngay ngắn rồi thì phải chùi sạch cái vết máu ngay. Để lâu, nó giựt méo tuốt qua bên kia. Tính bữa nào ra gặp cô dạy cái bài thuốc đó.
Lần đó lại cũng gặp cái thằng Thanh.
Cái thằng con nít đó, không gặp nó thì thôi, mà gặp nó thì y như là có chuyện.
Sáu Trung với tôi vừa đi qua khỏi chòm mả thì nghe trong cụm rừng bên đường có tiếng gì “Hụ hự. Hụ hự. ọt ẹt. ọt ẹt”.
Tôi cắm cúi đi. “Ai làm gì thì làm, mình ăn hủ tíu thì cứ lo đi ăn hủ tíu” - Tôi nghĩ vậy.
Nhưng Sáu Trung tánh kỹ lưỡng, dừng lại, vẹt cây bước vô ngó.
Bỗng ông la:
- “Trời! Trời!. Chết. Chết. chạy!”.
Rồi ổng phát chạy như bay.
Tôi chẳng biết ất giáp gì cũng tốc chạy theo ông.
Thời chiến tranh mà. Phải biết “phản ứng linh hoạt”.
Tôi vừa chạy vừa ngó ngoái lại coi có ai rượt theo không? Không lẽ biệt kích! Vùng giải phóng hoàn toàn mà! Căn cứ địa. chớ bộ.
Chạy một đỗi xa ổng mới dừng lại, ngồi phịch xuống, mặt tái mét.
Tôi cũng vừa chạy tới:
- Việc gì vậy?
Ổng vừa thở hào hển vừa chỉ trỏ vô cụm rừng nói không ra hơi:
- Lại đó mà coi! Đồ con nít ôn dịch!
Tôi liền trở lại xem chuyện gì. Đi một quãng bỗng nghe ổng kêu kháp kháp, hết ra tiếng:
- Tao biểu đừng có lại đó.
Tới nơi tôi cũng còn nghe: “Ot ẹt. ọt ẹt. hụ hự. hụ hự.”.
Tôi vẹt lá rừng bước vào. Thằng Thanh với thằng Chót!
Hai thằng, mỗi đứa một đầu dây buộc vào đuôi trái bom đìa rồi hè với nhau kéo nhúc nhích.
Tôi hét:
- Nó nổ một cái, tụi bây không còn một hột thịt.
Hai thằng giựt mình buông sợi dây, quay lại.
- Bây làm cái gì kỳ cục vậy. Bộ bây điên sao?
Thằng Thanh trả lời nhanh nhẩu:
- Đâu có chú Sáu! Chú Sáu coi trái bom lớn gần bằng cái khạp da lươn. Nó cắm lút xuống đây, kiếm mấy ngày mới gặp. Hai đứa đào từ sáng tới giờ chưa thấy nhúc nhích, mới chạy xuống mội khiêng nước đổ quanh cho đất nó mềm, rồi cột dây kéo nhúc nhích cho nó tróc lần.
Tôi nghe ê trong xương sống:
- Thanh ơi! Chót ơi! Nó “hị” một tiếng thì thịt xương bây nó văng tới ngoài chợ Trung Hòa. Ai dạy bây làm kỳ vậy hả?
Tụi nó cười hì hì:
- Tụi cháu “sáng kiến” chớ ai dạy chú! Mà kéo tự nãy giờ có thấy nó “hị” đâu! - Thằng Chót nói.
Tôi nạt:
- Đồ điên! Nó mà hị thì bây còn thịt xương gì nữa mà thấy? Thôi nghen! Bỏ đó đi về nghen! Tao mét ba tụi bây ổng đánh bây nát đít!
Thằng Thanh vênh vênh cái mặt:
- Con đổi được trái về con có chia cho ổng chớ bộ không có chia sao mà đánh.
Trời ơi! Còn thêm cái vụ “móc ngoặc” này nữa.
Nó nói nghe tức lộn ruột không?
Lúc này công trường của Ba Cội với Út Được sản xuất mìn trái mà thiếu thuốc nổ, nên có rao cho bà con cô bác đào bom pháo lép của Mỹ đến để đổi mìn, trái. Mình lấy giáo Tàu đâm Chệt mà! Bà con phấn khởi khiêng gánh tới ì ì. Hai thằng nhỏ cũng bắt chước.
Tôi chưa biết tính cách nào để dẹp hai thằng con nít này, bỗng nghe tiếng tằng hắng ngoài đường.
Đúng là Út Được. Út Được nấu thuốc nổ riết rồi khói vô đắng nghét cổ họng. Nó tằng hắng khọt khẹt tối ngày. Tôi bước ra kêu:
- Út ơi! Vô biểu! Út!
Út Được bước vô ngó thấy lắc đầu:
- Trời ơi! Bom pháo mà bây làm in củi mục như vầy, có ngày lấy thúng hốt xương! Thật tao hết biết.
Thằng Thanh cằn nhằn:
- Vậy chớ trái lớn làm sao đào nổi.
- Thì đào trái nhỏ.
- Trái nhỏ. rẻ rề. hai trái pháo mới được một trái mìn; lỗ công đào. - Thằng Chót trề môi nói.
Đánh giặc mà nó làm như buôn bán cá mắm, tính mắc rẻ lỗ lời! Tại má nó ham bán quán!
- Trái này đổi cầu bảy tám trái mìn. - Thằng Thanh có ý thăm dò.
- Tụi bây làm ẩu như vầy, một trái lựu đạn tao cũng không đổi nữa chớ đừng nói tới trái mìn. Đào rồi vụt dưới sông Sài Gòn đi! - Út Được làm bộ giận.
Thằng Thanh núng thế, xuống nước:
- Thôi em để trái này cho anh đào rồi anh cho em năm trái mìn đi. thứ năm sáu ký. đánh mới đả.
Út Được ngắm nghía:
- Hai trái ba ký mày! Tụi bây nhỏ mà ham trái bự!
Thằng Thanh xuống nước, năn nỉ:
- Thôi cho em bốn trái đi anh Út.
Út Được dứt khoát:
- Thôi cho tụi bây ba trái với cặp lựu đạn gài.
Thằng Thanh xuôi xị:
- Thôi, vậy cũng được.
Hai đứa lọ mọ lại mở dây.
(Còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
|