Bà cháu
Ngày xửa ngày xưa, ở một làng kia có hai em bé, một trai, một gái. Trai là anh, gái là em. Bố mẹ mất sớm, hai em về sống với bà ngoại. Bà già lắm và cũng nghèo lắm. Ba bà cháu rau cháo nuôi nhau, đời sống rất đỗi chật vật nhưng được cái lúc nào cũng hòa thuận vui vẻ. Các cháu ríu rít quấn quít bên bà. Bà móm mém cười hiền từ nhìn các cháu, dịu bớt những nỗi vất vả cay đắng.
Một hôm, có bà tiên đi ngang qua. Thấy tình cảnh ba bà cháu, mủi lòng, liền để lại một trái đào và dặn: “Khi nào bà đến cõi, mất đi, hai cháu mang hạt trồng trên mộ thì lập tức sẽ được giàu có sung sướng”.
Đời sống cực nhọc quá, cuối cùng rau cháo cũng không đủ ăn. Bà ngoại thương cháu, nhịn ăn liền mấy ngày để cái chết mau đến, hy vọng lời bà tiên sẽ thành sự thật, cháu mình sớm được hưởng hạnh phúc.
Quả nhiên, mộ bà vừa đắp xong, hạt đào vừa trồng xuống, phút chốc đã hiển hiện điều lạ lùng. Hạt đào nẩy mầm, lớn nhanh vùn vụt, rào rào nảy lá, đơm hoa, kết quả. Trùm quanh mộ bà là một cây đào lực lưỡng, chi chít trái vàng, trái bạc. Hai anh em hớn hở chạy quanh gốc đào, cúi nhặt mỏi tay cũng không lượm hết của cải quý giá. Nỗi nhớ bà khuây khỏa dần. Hai anh em trở lên rất giàu có, giàu hơn cả mọi ông hoàng bà chúa trên khắp thế gian.
Nhưng rồi những phút vui sướng bồng bột ban đầu lắng xuống. Vàng bạc châu báu lạnh lẽo không bù lại được tình thương đầm ấm của người bà. Sống giữa cung điện cao vọi, nhiều lúc hai anh em cảm thấy thật trống trải. Nhìn đâu cũng thấy vàng thấy bạc mà không thấy mảy may bóng dáng thân thuộc của bà ngoại. Nỗi nhớ thương bà cồn cào gan ruột làm hai anh em ăn ngủ không yên, vẻ mặt lúc nào cũng rầu rĩ, héo hắt. Làm sao có thể sung sướng được nếu sống thiếu bà?
Bà tiên lại đi ngang qua. Thấy hai anh em đã trở nên vô cùng giàu có mà vẫn không được thanh thản, bà dừng lại hỏi. Em gái òa khóc, cầu mong bà tiên hóa phép cho bà ngoại mình sống lại. Bà tiên hỏi: “Nếu bà ngoại sống lại thì ba bà cháu sẽ lại cực khổ như xưa, liệu có chịu được không?” Hai anh em cùng nói như reo lên: “Chúng cháu chịu được! Khổ sở đến đâu chúng cháu cũng chịu được, miễn là bà chúng cháu sống lại!”
Bà tiên phất chiếc quạt lông màu nhiệm, phút chốc tất cả lâu đài thành quách, cây đào với những trái vàng, trái bạc đều biến thành một đám mây hồng lơ lửng trôi về phía cuối trời. Bà ngoại lại hiện ra móm mém cười, hiền hậu dang tay ôm hai cháu. Cậu bé, cô bé sà vào lòng bà ngoại, khóc thổn thức. Sẽ chẳng bao giờ họ xa nhau nữa. Ba bà cháu lại tần tảo rau cháo nuôi nhau, thật vất vả nhưng lúc nào cũng tràn đầy tình thương mến.
Hoa dạ lan hương
Chuyện này xảy ra đã từ lâu lắm rồi, vào cái thời mà cỏ cây hoa lá mới đang bắt đầu hình thành…
Có một ông lão làm vườn rất chăm chỉ. Suốt ngày ông lúi húi bên những luống hoa, lúc bắt sâu, lúc vun gốc, lúc tỉa cành. Đôi khi rảnh việc, ông cũng không chịu ngồi yên. Ông hay đến nơi nọ nơi kia thăm thú các vườn cây ở quanh vùng, tìm thêm những giống cây hiếm.
Một lần, trên đường đi, ông nhìn thấy một cây gì gần giống như cây hoa hồng bị ai đó nhổ bật gốc, vứt vạ vật bên vệ đường. Cây hoa héo rũ, ông vừa nhấc lên, cánh hoa đã rụng lả tả. Nhìn thấy mầm cây chưa chết hẳn, ông tiếc, mang về nhà. Ông ươm cây hồng dại - ta tạm gọi cây đó là cây hồng dại - trong bóng râm, sáng chiều tưới bón, chăm sóc nâng niu như đối với một đứa trẻ ốm yếu. Nhờ vậy, cây hồng dại mau chóng hồi sức và sống lại. Những chiếc lá úa vàng rụng đi. Từ các nách lá, chồi non nhú ra, ban đầu màu đỏ tía, sau xanh dần, và chừng mươi hôm sau đã trở thành một cây xanh tốt, tua tủa những chồi non mập mạp. Rồi những nụ hoa xuất hiện. Rồi những bông hoa đẹp lạ lùng tỏa hương thơm dìu dịu…
Cây hồng dại cố nở những bông hoa thật to, thật lộng lẫy với hy vọng giúp cho ông lão làm vườn được vui. Ông lão hiền lành tốt bụng quá. Chẳng mấy ai cần cù chịu khó như ông. Luôn chân luôn tay, suốt ngày ông bận bịu vì những luống hoa. Chính vì thế mà chẳng mấy khi ông rảnh rang để mà ngắm những bông hồng dại. Hoa có nở đẹp đến mấy, ông cũng chẳng có lúc nào được thanh thản mà thưởng ngoạn.
Cây hồng dại buồn lắm. Vẻ đẹp kiêu sa lộng lẫy của nó phỏng có ích gì cho ông lão? Có mấy khi ông ngơi tay mà ngắm hoa? Chỉ có về khuya ông lão mới được ngả lưng trên chiếc chõng tre kê ở đầu hè, phe phẩy chiếc quạt nan, tay chân được thư giãn đôi chút. Những giờ phút nghỉ ngơi hiếm hoi ấy, ông có thể bình tâm mà ngắm hoa, nhưng khổ nỗi, đêm đen dày đặc, làm sao ông có thể nhận ra vẻ đẹp lạ lùng hiếm có của những bông hồng? Mà đặc điểm của loài hoa hồng dại này là bông rất đẹp, màu sắc rất rực rỡ nhưng hương thơm chỉ dìu dịu thoảng qua.
Càng nghĩ, cây hồng dại càng thấy thương ông lão. Giá có một phép màu nhiệm nhỉ? Phép màu đó có thể cho phép cây hồng dại biến thành một loài cây khác có khả năng đem lại niềm vui cho ông lão ngay cả trong đêm tối đen mù mịt. Hoặc là loài cây đó có những bông hoa phát sáng để ông lão có thể nhìn thấy hoa trong đêm tối một cách rõ ràng. Hoặc là loài cây đó có hương thơm kỳ diệu để ông lão có thể thưởng thức hương thơm thay vì thưởng thức màu sắc của hoa. Hương thơm sẽ an ủi ông lão, sẽ vỗ về ông, đưa ông vào trong giấc ngủ bình yên…
Cây hồng dại đau đáu nung nấu ý nghĩ ấy hết đêm này qua đêm khác. Ý nghĩ cháy bỏng đến mức đôi khi buột thốt lên thành lời. Cây hồng dại cứ lặp đi lặp lại lời khẩn cầu: Ước gì mình biến thành một loài hoa có hương thơm ngào ngạt về đêm…
Điều khẩn cầu của cây hồng dại cuối cùng cũng thấu tới được Bà Chúa của các loài hoa. Bà cảm động trước tấm lòng nhân ái của cây hồng dại nên vui lòng chấp thuận lời cầu xin của cây hồng. Bà hỏi lại cây hồng dại một lần cuối:
- Con đã suy nghĩ thật kỹ chưa? Ta sẽ cho con biến thành một loài hoa có hương thơm ngào ngạt về đêm, nhưng loài hoa đó sẽ không có vẻ đẹp lộng lẫy như con bây giờ đâu. Đó chỉ là một loài hoa nhỏ bé, trông rất bình thường, người qua lại không mấy ai để ý, liệu con có bằng lòng không?
- Con rất bằng lòng, thưa bà Chúa Hoa nhân từ. Không còn sắc đẹp như cũ, con cũng buồn, cũng tiếc lắm. Nhưng con chỉ mong sao có hương thật thơm để đem lại niềm vui cho ông lão làm vườn tốt bụng kia…
Và thế là từ đó xuất hiện một loài hoa mới: Hoa Dạ Lan Hương, giống hoa chỉ tỏa hương thơm lạ lùng vào ban đêm. Những bông hoa nhỏ xíu, màu trắng phớt xanh, nở từng chùm, từng chùm tỏa hương ngào ngạt. Hương thơm của hoa Dạ Lan tỏa nồng nàn, đắm đuối, rất ngọt, rất sâu và bay đi rất xa…
Ông lão làm vườn suốt ngày vất vả. Chỉ về khuya, ông mới thảnh thơi mà nằm tận hưởng làn hương thơm dịu ngọt của cây Dạ Lan Hương bé bỏng rất đỗi thân thiết đối với ông kia. Cây hoa trông thật mảnh mai bình dị mà có một tâm hồn thanh khiết đến lạ lùng, có một hương thơm dịu dàng và đắm đuối đến lạ lùng…
Mỵ nương
Ngày nào cũng vậy, cứ vào khoảng tám chín giờ sáng, lại vẳng đến tai tôi tiếng hót hay lạ lùng của một loài chim tôi không biết tên. Tiếng hót trong ngần, lúc khoan lúc nhặt từ khu vườn xa vọng lại. Từng chuỗi từng chuỗi âm thanh ríu rít reo vui, kế đến từng giọt thánh thót nhỏ dần, nhỏ dần rồi tan trong gió thoảng. Chỉ vang lên vài ba đợt như thế rồi im lặng hẳn cho tới sáng hôm sau, đúng vào giờ ấy, không gian lại xao xuyến tiếng chim ngân.
Không chỉ tôi chờ đợi tiếng chim mà cả em gái nhỏ của tôi cũng say mê. Sắp đến tầm chim hót, cả hai anh em cùng phấp phỏng ngóng chờ. Vừa thấy tiếng hót cả hai cùng reo lên mừng rỡ rồi lập tức yên lặng, nín thở nghe như uống lấy từng chút, từng chút âm thanh quý giá.
Suốt mấy tháng trời như thế, hai anh em tôi đâm “nghiện” tiếng chim. Ngày nào cũng trông chờ. Ngày nào cũng chăm chú lắng nghe, hễ dứt tiếng chim là lại tiếc ngẩn tiếc ngơ. Chỉ buồn một nỗi là chưa một lần nào được trông thấy bóng chim. Tiếng hót xa lắm vẳng lại, mãi trong khu vườn xoài bên kia sông. Cả hai anh em tôi đều chắc mẩm con chim này phải đẹp lắm thì mới có tiếng hót hay đến thế.
Tôi hỏi ông lão hàng xóm về giống chim lạ. Nghe tiếng hót, ông lão gật gù, bảo ông có biết loài chim ấy, đã từng bắt được nó, nhưng tên gì thì ông chịu. Anh em tôi cùng nài nỉ ông lão cố tìm bắt hoặc mua giúp cho một con.
Ít lâu sau ông lão vui vẻ mang chiếc lồng chim đến cho anh em tôi. Trong lồng, một chú chim đang nhảy loạn xạ, rúc hết kẽ này đến khe khác, cố tìm cách bay thoát. Ông lão cười nhỏ nhẹ bảo đó chính là con chim có tiếng hót cực hay mà anh em tôi trông chờ. Tôi không tin lời ông lão, nhưng không dám nói ra. Cả em gái tôi cũng vậy. Nó mở to mắt ngạc nhiên, hết nhìn con chim lại nhìn tôi. Sao lại có thể như thế được! Giữa tiếng hót trong ngần kia và con chim nhỏ bé có bộ lông màu xám nhạt điểm những đốm đen chẳng lấy gì làm đẹp đẽ này hầu như chẳng có gì liên quan với nhau. Chắc là ông lão nhầm. Giữ phép lịch sự, tôi cảm ơn ông lão rồi treo lồng chim bên hiên nhà. Tôi trông đợi vào một hy vọng cuối cùng: cố gắng chờ đến tầm tám chín giờ xem sao?
Đúng tầm ấy, từ phía vườn xa lại khoan nhặt vang lên tiếng chim hót. Anh em tôi ngơ ngẩn vì tiếng chim, nhưng cũng không quên căng mắt ra quan sát con chim trong lồng. Hai anh em phấp phỏng chờ đợi nhưng hoàn toàn thất vọng. Chẳng có một âm thanh nào cất lên ngoài tiếng lạch cạch của cánh chim va đập vào thành lồng. Tiếng chim bên ngoài càng ngân nga dìu dặt bao nhiêu, tiếng va đập càng bấn loạn bấy nhiêu.
Bẵng đi mấy hôm. Đột nhiên, khoảng đến ngày thứ năm thứ sáu, anh em tôi đang lúi húi làm cỏ ngoài vườn thì tiếng chim lảnh lót cất lên. Không phải từ phía vườn xa vọng lại mà ngay ở gần đâu đây. Nhìn về phía cuối hàng hiên, anh em tôi bắt gặp con chim nhỏ đang nhướng cổ lên hót. Chiếc mỏ nhấp nhấp, ngực chim phập phồng, từ đó từng chuỗi âm thanh trong vắt thoát ra lúc nhặt lúc khoan. Cùng lúc đó, từ bên kia sông cũng bắt đầu vang lên dìu dặt tiếng hót quen thuộc.
Em gái tôi mừng cuống lên. Nó kéo tôi chạy đến bên lồng chim, miệng liến láu. Con chim đã thôi hót, đang lách chách nhảy hết góc này sang góc khác. Chẳng thể nào ngờ được chính nó đã thốt lên những tiếng vàng tiếng bạc vừa rồi. Vừa rắc thêm vừng cho chim ăn, tôi vừa mỉm cười vừa kể cho em gái nghe câu chuyện về chàng Trương Chi xấu số thuở xưa - chàng Trương Chi “người thì cực xấu hát thì cực hay”. Em gái tôi tỏ ra rất thích câu chuyện. Nghe xong, nó chép miệng như người lớn: “Cái cô Mỵ Nương ấy không tốt, anh nhỉ. Đáng lẽ cô ấy càng phải yêu quý Trương Chi hơn mới đúng chứ! Người xấu xí vậy mà vẫn hát cực hay! Cũng giống như con chim này! Hôm trước nghe tiếng hót, em cứ ngỡ nó phải đẹp lắm kia. Không ngờ nó chẳng hơn gì con chim sẻ. Vậy mà em có buồn chán như cái cô Mỵ Nương kia đâu? Càng thấy chim xấu xí, em càng thương nó hơn, anh ạ”.
Nghe em gái tía lia cái miệng, tôi thấy yêu nó quá, cái cô Mỵ - Nương - thế - kỷ - hai - mươi của tôi!
Nguồn: Truyện chọn lọc Trần Hoài Dương. Triệu Xuân sưu tầm, chọn lọc, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.
|