Dọc các triền sông thường có các bến nước đẹp đến mê hồn. Nhưng ấn tượng lạ lùng thì chắc chỉ có bến sông châu thổ dọc theo con sông Ninh Cơ này mà tôi vừa đi qua mới có. Không hẳn do phong thổ, trời nước gió lộng khác thường quanh năm mà còn do nhiều điều mà tôi chưa biết. Anh xe ôm cưỡi trên chiếc cúp Nhật tróc sơn đời cũ mèm nhưng “máy vẫn chạy tốt”, phi như bay trên con đường nhựa nhỏ như sợi chỉ lượn dọc sông phập phồng gió đồng, những đỉnh nhà thờ xa mờ chỉ như ngón tay trỏ thẳng lên trời, quay cổ lại nói như gào trong gió: “Cánh xe ôm chúng em không hay lừa xạo khách đường đâu. Buổi sáng, bên kia sông bắt xe dễ hơn bên này. Hết buổi lại phải chờ đến chiều tối đấy”. Lại nói: “Để anh sang ngay bến phà này thì cũng phải cuốc bộ dọc đồng gần cây số. Tiện thể đi ăn giỗ bên vợ, em đưa anh lên bến đò khuất có khối chuyện là để ông anh biết thêm sông nước quê em!”. Nhận tiền phóng xe đi rồi còn ngoái cổ lại: “Qua đò ông anh nhớ mặc thêm áo dài tay. Bến lạnh lắm đấy!”.
Người lái đò không rõ tuổi, không rõ cả tướng mạo hiền hay dữ. Con đò không ra xuồng, không ra thuyền máy. Nó cũ, gá lắp đủ thứ và có nét đỏm dáng. Hớt cái mũ cát phê màu nâu lên tận chóp đầu, lộ đầy vẻ phong sương, sông nước, nói tình cảm như người xích lô ban nãy: “Anh mặc áo dài vào. Qua bến lần đầu phải không?”. Một đò, một bến, một khách giữa gió trời rần rật, cả hai cảm thấy rờn rợn bèn hỏi nhau: “Xa kia người ta đắp đá?”. “Vâng, chúng em làm phà, đón xe con”. “Đúng, mai đây người ta qua lại nhiều?”. “Ông anh nói phải, chậm chạp là ăn cám cả lũ”… Chuyện bắt đầu ấm áp giữa sông. Kéo cái mũ cụp xuống như người dọa trẻ con: “Ông anh qua bến này lần đầu phải không? Qua lần đầu thì không biết đâu!”. Cách nói ráo hoảnh, làm như ai qua đây một lần về là không có lần quay lại nữa. Khiếp quá!
Đò rung một cái, như đụng vào quái vật. Anh lái lại tỏ vẻ bình tĩnh. Giọng lại rất tình cảm: “Muốn đưa ông anh vào cái luồng kia cho đỡ mỏi chân. Nhưng thôi, ghé vào bờ vậy. Vả lại em cũng ngại vào…”.
- Sao lại ngại?
- Trước thì không. Sau mùa nước vừa rồi quả có ngại, còn sợ nữa!
Đường bên bến đất sánh, màu mỡ hết chỗ nói, ngỡ như cái bàn chân mình đặt xuống cũng lên mầm được. Gió dàn dạt lạ lùng. Anh xe ôm nói đúng, trên đường nhựa chỉ sáng là nhiều xe, quá ngọ là phải đợi đến chiều tối. Mấy cây bông to nhỏ phất lên như múa sư tử. Có hai ba cái lều chơ vơ. Chủ lều bày dăm thứ hàng kẹo, thuốc, bụi phủ đầy, ở giữa là cái can rượu trắng to tướng. Ai ngồi bán hàng cũng trùm chăn, tựa xứ đạo gì anh em chú bác với đạo Hồi ở xứ của Bin Laden!
Nói đùa, quanh năm lều quán như cái tủ lạnh. Ăn cái kẹo lạc ê cả răng, như ăn kem. Anh lái xe lỡ đường dừng đây gọi là “lều tủ lạnh”. Lấy một chai bia địa phương sản xuất để lưu cữu, bà chủ quẹt áo lau hết bụi rồi lắc lắc, ghè răng mở nắp thì phụt lên toàn bọt, chẳng còn chút bia nào…
Ba lều quán thì hai lều bên xơ xác quá. Khách dừng chân không chịu được gió lạnh. Hai người đàn bà linh tính có khách thì tung chăn dậy, dù đang giờ ngọ dễ thiếp đi. Họ không giành giật nhau như ở thành phố. Khách hỏi: “Có bánh chưng mới luộc không, xin một chiếc, đói quá”. Người đàn bà lều phải: “Em không có. Chỉ quấy quả. Buồn lắm anh ạ”. Người đàn bà lều trái quàng cả chiếc chăn hoa ra cửa lều, thì thào: “Chỉ quán cô May có dăm chiếc. Bác vào đó. Có cả rượu nữa đấy”. Nhìn vào mái lều chỉn chu, mái thấp lợp ngói xi măng rất chắc chắn, tường gạch nâu có chừa đều đặn mấy viên nhìn xuống sông. Chiếc võng gai trắng buộc trên nền gạch vuông vức có trải chiếu. Chiếc ghế con đóng những ba thanh gỗ đều tắp, đặt đúng bàn chân đưa võng. Đấy là ghế cô May ngồi bán hàng. Đặt bàn chân vào thấy còn ấm, chứng tỏ cô chủ vừa đi đâu đấy. Nước khoáng, bia chai, kẹo giấy bóng, can rượu trắng… thảy xếp gọn giữa hai hàng ghế hai bên xếp bằng gạch, có phủ tấm nhựa bố trắng. Người đàn bà lều bên trái giục tôi: “Chị em cả. Cô May tạt sang nhà. Anh cứ vào võng mà nghỉ”. Đang định tiến vào thì người đàn bà lều trái vẫy tay vào để nói nhỏ điều gì rất bí mật: “Anh là khách lạ, đừng vào đấy. Chị em chả ganh tị gì sất. Nhìn vào ông anh cứ thật thà là”. Gió quật lên kinh khủng. Tôi mạnh bạo ghé tai người đàn bà trùm khăn:
- Sao vậy hả?
- Anh không thấy hai nấm mồ to, nhỏ ngay sau lều ấy à?
- Là thế nào cơ chứ?
- Chồng và con trai cô ấy!
Tôi như bị ma đẩy vào quán của người đàn bà thật thà này để hỏi chuyện cho rõ. Được biết chồng cô May đi chiến đấu biền biệt bao nhiêu năm, sau ngày chiến thắng trở về, tưởng xuống bến sông quê bơi lội cho thỏa thích, chẳng ngờ chết đuối. Hôm ấy bão nổi lên, cô May có mang lần ấy, chôn chồng xong thì năm sau đẻ được thằng con trai xinh xắn. Đến tuổi lớn, nó thương mẹ, không chịu học lên dù học rất giỏi, sắm thuyền đi chở cát kiếm tiền giúp mẹ. Chẳng ngờ vừa đi được dăm chuyến, một lần về qua thì đắm thuyền, xác trôi vào bờ. Con thuyền hơn một triệu nằm lại dưới lòng sông. Mồ cháu bên mồ bố nó.
Tôi vốn trọng tâm linh nhưng không ngại tâm linh, đã thế thì vào võng nằm chờ cô May. Phải nói căn lều chắc chắn và chỉn chu. Mỗi nuột lạt bền chặt hết sức. Phía nam gió lộng thì được gạch bít kín chắc chắn. Mạch vữa cũng rất chắc. Phía bắc lặng gió thì mở ra ba viên nhìn xuống sông. Cô May suốt ngày nhìn qua đấy. Người ta bảo: “Nhìn thẳng xuống là đúng nơi chồng và con cô bị sóng nhấn chìm…”.
Tôi cẩn thận đặt tay nải gối đầu, chủ động thiếp đi. Đã cảnh này thì cứ ngủ với ma quỉ, đến đâu thì đến. Nhìn ra đường lượn vòng cua nhỏ, tháp nhà thờ màu vàng gần đấy, ở xóm bên. Kiến trúc nhà thờ cũng cách điệu, không giống các nhà thờ xứ mà tôi đã gặp.
Đang ngủ thì có tiếng chân người từ bến lên. Tiếng rít điếu sòng sọc và tiếng cốc thủy tinh va nhau. Tôi bàng hoàng mở mắt thì nhận ra người lái đò nhìn tôi rất thương bảo: “Anh ngủ đi. Chờ xe đến mồng thất. Em biết ông anh thế nào cũng vào đây”. Anh lại tự tiện rót rượu đầy ba chén nhỏ, mời tôi rồi từ tốn uống từng chén một. Một chốc thì vất xạch cái mũ cát xuống nền gạch có trải chiếu cạnh tôi, đưa tay gãi đầu, nói hồn nhiên: “Em phải tợp đến chục coóng”. Anh này cầm cái chén nhỏ, đưa lên, tôi mới biết ở đây người ta gọi là coóng. Một chốc thì thầm, sặc mùi rượu:
- Ông anh biết chuyện gì chưa?
- Chưa?
- Chưa sao dám vào nằm? To gan thế?
- Bé gan thôi. Nhưng ham cái lạ!
- Hiểu rồi, chịu ông anh. Vậy thì ông anh buộc thêm nuột lạt vào đấy cho chắc?
- Sao phải làm vậy?
- Người đàn ông nào qua đây cũng thương cô May, buộc lại quán cho cô!
Tôi hết hẳn buồn ngủ, mê câu chuyện của anh lái đò. Anh lái đò bảo: “Đây là bến Lạnh. Nghe nói tên xưa gọi là bến Heo May”.
Tôi hiểu: tên cô chủ chắc gọi từ cái bến lạnh khủng khiếp này.
Chuông nhà thờ gióng. Người lái đò biến đi từ lúc nào. Hoàng hôn đổ xuống mấy ngọn cây bông. Tôi thiếp đi thì có bàn tay lay vào võng: “Anh ơi, dậy đi. Tối rồi. Chỉ còn chiếc xe công nông lên thị xã thôi!”.
Người phụ nữ tựa như từ các bức tranh xứ Chúa bước ra. Tóc búi gọn phả mùi hương ngải có đính vào chiếc vòng tóc đen nhưng nhức. Đôi mắt đẹp mở to như cười như khóc. Cô đưa cánh tay rất ấm đỡ đầu tôi dậy làm tôi ngượng ngùng, rồi rút cái tay nải gối đầu đeo vào vai cho tôi, kéo vội ra cửa: “Anh Công Nông ới, em gửi nhé”. Rồi quay lại: “Dù công nông cọc cạch, anh phải đi chuyến này thôi. Tối rồi mà! Chẳng còn chuyến xe khách nào đâu!”.
Cô đưa hai tay lên khuôn ngực đầy của mình, như làm dấu Thánh tiễn biệt.
Tên cô là May, ở bến Heo May.
Sông Ninh Cơ - Phố Hồ, 18-10-2001
PCV
Nguồn: Rút từ Biển trinh nguyên, tập Truyện ngắn chọn lọc của Phan Cung Việt. Triệu Xuân tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.
trieuxuan.info |