Ruộng thì đầy gốc rạ - mà cố vấn Tư Liệt biểu phải bứng hết gốc rạ liệng lên bờ. Đầu mùa mưa trời nắng như đổ lửa, bứng từng cái gốc rạ vác chất lên trên bờ mẫu thật rầu còn hơn đẩy nhà vàng đi âm phủ.
Thằng Sự vừa đi, vừa cằn nhằn với tôi:
- Mấy thằng cha địa chủ ở Phú Hòa Đông toàn là họ Quỳnh. Ông Tư Liệt cũng dân Phú Hòa Đông cũng họ Quỳnh, không biết phải dòng địa chủ không mà đày đọa mình quá sá.
Tôi dỗ nó:
- Em đừng có nghĩ vậy. Vợ của ông là nông dân rặc ri, dân Thái Bình, quê hương năm tấn. Đất ngoài đó xấu lắm nhờ người ta làm kỹ như vầy mới trở thành quê hương năm tấn. Mình ráng làm kỹ dám được bảy tấn không chừng.
Má Bảy ở Bưng Còng về, từ dưới bếp đi lên, thấy anh em chúng tôi kẻ bưng, người vác khệ nệ, cồng kềnh, má đi lại réo hỏi:
- Anh em bây làm cái gì mà lụi hụi đó?
Tư Liệt đáp:
- Tụi con bưng gốc rạ dọn đất làm ruộng.
Má cười ngất:
- Cái đồ điên. Gốc rạ thì cuốc nó lên, đạp lút nó xuống sình, ít bữa nó mục thành phân. Bứng đem đâu cho hết!
Thằng Sự “nổ” ngay:
- Vậy mà ổng nói vợ ổng là dân quê hương năm tấn rặc ri.
Tư Liệt chống chế sượng ngắt:
- Thì tao nói vợ tao là nông dân rặc ri chớ tao có nói tao là nông dân đâu? Tại tao tưởng. chớ bộ.
Qua cái vụ bứng gốc rạ này cố vấn Tư Liệt mất uy tín dữ lắm. Từ đây mọi việc chúng tôi đi hỏi kinh nghiệm mấy ông nông dân chính cống, nhờ vậy mà lúa cấy xuống, lên phởn phơ.
Hai công lúa chúng tôi làm coi mòi tốt nhứt xóm. Không phải chúng tôi tài ba gì, nhưng được cái là anh em mê ruộng dữ lắm.
Ban đêm pháo như đốt ống khói, ban ngày, đầm già quần đảo từ sáng tới chiều vậy mà một ngày đúng hai cữ Tư Hạ, thằng Sự ra đồng thăm lúa.
Thằng Sự săm soi từng gốc lúa. Mỗi đêm chuột cắn mấy bụi nó đếm đủ, rồi đi nhổ mạ cấy dậm liền, năm nay, ruộng hoang nhiều quá nên chuột có chỗ ẩn núp, ban đêm ra phá lúa dữ lắm. Các anh nghiên cứu đường đi, nước bước của từng con chuột.
Bỗng Tư Hạ với Sự biến đâu mất mấy buổi trưa liền. Chiều ngày thứ ba hai anh em khiêng về trên ba mươi cái rập chuột. Thì ra anh em rủ nhau ra nền bót An Nhơn gỡ kẽm gai làm rập.
Nắm được quy luật đi đứng của dòng họ nhà chuột, thằng Sự đặt ba mươi rập là bắt đủ ba mươi con.
Thứ chuột đồng lột da muối sả sương sương đem nướng, mỡ tươm vàng tươi, thơm phức. Đãi hết du kích xóm này. Mấy tay sành nhậu nói hai ký thịt heo đổi một ký thịt chuột không ai thèm đổi.
Trời mưa trắng dã, Tư Hạ kêu Sự:
- Trời mưa thưa pháo, tranh thủ Sự ơi!
Hai anh em nhào ra ngoài mưa. Một hồi sau đã nghe tiếng Sự nói thơ Lục Vân Tiên.
“Trời mưa, trời gió đùng đùng
Cha con chú Thùng đi gánh cứt heo”.
Hai anh em đi gánh phân, qua ngang hầm, Tư Hạ réo:
- Xuống ruộng luôn ông Sáu ơi!
Đó là chủ trương của thằng Sự. Bữa nào Ba Tâm y tá cơ quan từ bên Hố Bò quảy túi thuốc qua nó cũng xề lại:
- Có thuốc gì bổ cho ít viên uống bậy chị Ba.
Ba Tâm làm thinh. Nó lãi nhãi:
- Viên xanh viên đỏ gì cũng được mà, cho ít viên uống đỡ.
Ba Tâm háy nó một cái:
- Ú ì mà đòi thuốc bổ.
- Ậy, không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc!
Ba Tâm trút cho mấy viên sinh tố, nó vóc vô miệng nhai rau ráu.
Bây giờ làm ruộng cũng vậy:
- Ráng phân tro cho nhiều, không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc. - Nó nói với tôi.
Mấy cái chuồng trâu, chuồng heo sập không yên được với nó. Nó moi, nó vét hết trọi, rồi tro bếp, urê. Tháng rồi lĩnh được mười lăm đồng phụ cấp, nó ra Xóm Trại mua phân ba màu đem về trút xuống ruộng rồi móc túi tôi lấy tiền mua thuốc hút.
Bữa trước nó đi vớt về một gánh bèo cám:
- Bèo hoa dâu! Đã quá anh Sáu ơi!
Tôi ngó qua rồi nói:
- Bèo cám đó, mày bỏ xuống cho chết lúa hết đi!
- Bèo hoa dâu thiệt mà! Tôi có coi hình vẽ trong sách giống y.
- Hổng tin hỏi Tư Liệt coi! - Tôi nói.
- Cái ông nông dân rặc ri đó, tôi tin hết nổi.
Tư Liệt không thèm tự ái, bước ra coi rồi nói:
- Cái thứ gì đâu chớ đâu phải bèo hoa dâu. Chị Tư mày có nuôi bèo hoa dâu, tao biết rành quá!
Nhờ nó bỏ đủ thứ phân nên lúa lên vượt vượt.
Cơm sáng xong là mất dạng thằng Sự nữa. Nó làm gì lục đục ở bên hầm. Chạng vạng mới thấy nó về cõng theo một thằng hình nhơn đầu đội ca lô, mặc đồ rằn ri, mang giày bốt đàng hoàng, giống y như thằng Nguyễn Cao Kỳ.
- Mầy làm cái gì ghê gớm vậy Sự? - Tôi hỏi có hơi quạu - Không ông nào chịu nấu cơm hết, bỏ thí cho tôi. Bộ hết cách chơi rồi sao?
Nó cười hề hề:
- Chơi đâu ông? Bắt nó đi giữ lúa. Lúc này két với dòng dọc nó xuống tước lúa dữ quá. vàng mơ mà không lo giữ, tới mùa không còn một hột nhổ râu.
- Mày đưa cái thằng hình nộm đó ra đồng, đầm già thấy, nó tưởng là du kích nó kêu phản lực đánh cho một trận thì cái đám ruộng kể như tiêu luôn.
- Ờ hén! Nó đực mặt ra, quên chớ. Một lúc sau nó hỏi:
- Rồi làm sao mà đuổi chim?
Tôi vừa xơ nồi cơm vừa nói:
- Thôi mày với Tư Hạ chịu khó ra bám hầm, chim xuống ráng la hét, lấy đất vụt cho nó sợ nó bay.
Hôm sau, Tư Hạ với Sự đi đuổi két. Anh em la hét quá, chiều về nói kháp kháp hết ra tiếng. Tôi phải đi vạt cỏ cây sún rắn cho hai người ngậm. Vừa sụp mặt trời, một bầy đạn pháo bay qua ào ào như cơn giông rồi nổ ầm ầm ngoài ruộng.
Thằng Sự bò lại, lào khào hỏi tôi:
- Tân Tây Lan là cái quân nào mà nó bày ra cái giàn pháo ác ôn vậy anh Sáu? Pháo gì mà bắn một lần cả trăm trái biết đường đâu mà tránh.
- Đó là nhiều giàn đậu lại, nhưng nó bắn nhiều mà trái lon con, mình có hầm kiên cố thì đâu có ngán. Sợ là thứ pháo dùi, pháo phá công sự.
Bỗng “ú ú ú” qua đầu rồi “chụụụt” một tiếng, kế nghe nổ “hực”, cái hầm rung rinh như có ai lắc.
- Đó! Nhắc nó là nó tới liền. Nghe nó nổ thấy ớn trong xương sống. - Sự vừa nói vừa bò về võng nó.
Rồi bỗng bốn phía nghe đùng đùng. Dầu Tiếng, Lai Khê, Đồng Dù, Trung Hòa, Bến Cát nhất tề chĩa mũi về đây mà bắn.
- Cha! Nó phát hiện cái gì mà bữa này nó bắn ấp mình dữ quá. - Tư Hạ nói.
- Hồi chiều ở ngoài ruộng tôi thấy bộ đội qua sông. - Thằng Sự trả lời.
Mọi người vẫn im lặng. Một sự im lặng nặng nề. Pháo vẫn ì ầm nổ phía trước, phía sau. Ánh lửa phựt lên sáng lóe, đỏ hồng, không khí nặc nồng thuốc pháo.
Chưa ai ngủ, nhưng chẳng ai nói lấy một lời. Những đôi mắt lặng lẽ nhìn lên nóc hầm, những đôi mắt lặng lẽ ngó ra cửa hầm. Có ai biết được số phận của mình trong vài phút tới.
Và thăm thẳm giữa tim mình, thoáng hiện những hình ảnh thương yêu.
Tư Hạ còn một mẹ già ở miệt quê xa. Đã có lần mẹ lặn lội đến đây thăm con mang theo mấy nải chuối ta, và một ơ cá hũng hĩnh kho xả. Mẹ ở lại với các con mấy ngày. Những ngày ấm áp nhất của mẹ và của chúng tôi.
Ngày mẹ về, chúng tôi đưa mẹ ra đến tận vành đai trắng. Mẹ nắm tay chúng tôi mà khóc. Biết còn có bao giờ mẹ con lại gặp nhau không? Rồi mẹ ra đi, nhỏ nhắn giữa vùng đất trắng mênh mông. rung rung như chiếc lá.
Ầu ơ. Mẹ già ở túp lều tranh.
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.
. Tôi có đứa con thơ, ngày tôi ra đi con vừa chập chững. Ngày nay, con đã biết hỏi mẹ rằng: “Mẹ ơi! Sao con chẳng có ba”. Và vợ tôi, người vợ hiền lành tần tảo tháng ngày. lo từng chén gạo nuôi con, đợi đến đêm về nhìn sao xanh mà đoán hướng nơi có giọt máu trái tim mình ở đó.
Trong ánh lửa chớp lóe chập chờn đang hiện ra những hình dáng xa xăm thương nhớ. Quanh tôi, pháo vẫn ì ầm.
Trong hầm lặng im, nặng trĩu. Vào khoảng nửa đêm tiếng pháo thưa dần và im bặt. Thằng Sự trở mình lên tiếng:
- Giỏi sao hổng bắn một hồi nữa cho cái nòng nó nóng nỏ chảy cong vòng như cây đèn cầy gặp nắng.
Tiếng Tư Hạ góc bên kia:
- Hồi chiều có ai xách cái tỉn xuống không?
Mọi người làm thinh.
Thằng Sự trách:
- Anh Sáu ở nhà mà không lo.
- Mắc lui cui nấu cơm, quên mất, tôi nhận khuyết điểm.
Tư Hạ vừa ngồi dậy vừa nói:
- Chịu khó ra ngoài một chút.
Tư Hạ bước xuống võng, chui qua dưới võng tôi, đi lại miệng hầm. Tôi vừa thò tay nắm Tư Hạ thì zúú. ầm! Cái hầm như lật nghiêng, Tư Hạ té ngửa. Đèn tắt phụt. Cát đất ào ào đổ xuống.
Tư Hạ vừa lồm cồm ngồi dậy vừa nói:
- Cha! Nó nổ sát một bên!
Thuốc pháo bay mịt mù, khét nghẹt. Tôi mò mò trong ba lô, móc cái bọc ni lông mới để đành đựng cơm vắt chống càn đưa cho Tư Hạ.
- Nè! Tiểu đỡ trong này đi, mai đem vụt.
Gần sáng nó mới dứt bắn.
Sự bò qua, khều khều tôi:
- Em đi thăm ruộng nghen anh Sáu. Đêm nay nó bắn dữ quá. Mình ở trong hầm mà còn rêm, huống hồ ba cây lúa ở ngoài ruộng.
Tôi bật cười:
- Lỡ pháo nó bắn trúng ruộng thì mình cũng đành thôi, chớ mày ra sớm rồi có cõng được miếng ruộng đi bệnh viện không nè!
Sự làm thinh bò về, leo lên võng. Cái giấc gần sáng ngủ thật ngon, khi tôi thức dậy thì Sự đã đi đâu mất rồi.
Tư Hạ nhóm lửa. Tôi vo cơm. Bỗng thằng Sự chạy về mếu máo:
- Tiêu hết rồi anh Sáu ơi!
- Sao? Sao? - Tư Hạ hỏi lia.
- Bị hai trái cực nhanh, nát hết rồi!
Nó chỉ nói bấy nhiêu rồi ngồi xuống đất xuôi xị như người thất chí. Cái mặt Tư Hạ tảng sáng đang tươi rói, bỗng ỉu xìu xuống, nhăn đùn lại như đít trái dừa khô.
*
* *
Coi vậy mà mùa lúa năm nay trúng dữ lắm. Tuy bị bom pháo mà bông lúa sai quằn, hột no nưởng. Riêng phần ruộng cơ quan chúng tôi, gặt đập xong xuôi phơi được trên ba đệm. Thằng Sự nói tệ cũng được mười hai giạ. Tôi ước chừng tám giạ, cao lắm là mười giạ mà không dám nói ra, nói ít nó rầy.
Nó làm cực lắm. Nó gặt không sót một bông. Nó đập không sót một hột. Nó lượm từng hột lúa rơi. Một đêm nó thức năm ba lần đuổi chuột.
Tin giặc bố lớn đã lan cùng. Nó tập trung quân ở Bến Cát, Bình Dương, tập trung tàu mặt dựng ở Phú Hòa Đông. Nó tập trung xe tăng thiết giáp ở Trung Hòa, tăng cường mấy chục cây pháo lớn ở Lai Khê, Đồng Dù. Nó đã thả biệt kích xuống An Nhơn, Bến Súc, rừng Lộc Thuận, Đường Long.
Thằng Sự xúc lúa đổ vô bao định vác xuống địa đạo cho chắc ăn. Nó làm như vàng. Ai cản, nó cự. Nó nói mồ hôi xương máu của tập thể.
Tư Hạ đi vẽ phong cảnh về, quăng cây cọ với hộp màu vô góc hầm rồi nói:
- Má Năm mới về thăm nền nhà cũ ở dưới.
- Sao không mời má lên chơi? - Tư Liệt hỏi.
Sự mừng quýnh chạy đi đón má. Chập sau má vô hầm ngồi ngó chúng tôi một lượt, má nói:
- Tụi bây đứa nào cũng xanh mướt.
Tôi nhìn má:
- Thì má cũng xanh như tụi con.
- Mà sao tóc bạc nhiều quá vậy má? - Tư Liệt hỏi.
- Tao nào có biết. Má đưa tay vuốt mái tóc bạc. Bàn tay má bây giờ hơi run run.
- Má ở đây nghỉ rồi ăn cơm với con nghen má. Con đi kiếm rau nấu cho má nồi canh, nồi canh rau rừng ngọt ngất. - Thằng Sự vừa nói vừa đứng dậy.
- Còn má có cần gì thì biểu tụi con làm cho. - Tư Hạ nói.
- Có làm gì đâu. Má nhớ thì má về, với lại tính nhổ mì đem qua cho mấy em bây nó ăn.
Tư Liệt nói:
- Đám mì của má con mới làm cỏ tuần trước. Củ mới bằng cẳng cái má nhổ chi cho uổng.
Sự nắm tay má giật giật:
- Bộ hết gạo rồi sao bà?
- Ừ, hết gạo mấy bữa nay rồi. - Má vừa cười vừa nói.
Tư Hạ đổ quạu, cái mặt nhăn nhăn:
- Sao hết gạo mà má không nhắn.
- Nói với bây chi cho bây lo.
- Vậy hồi đó sao con hết gạo con nói với má? - Tư Liệt hỏi vặn.
- Hồi đó khác, bây giờ khác, hồi đó còn vườn còn tược, lúa chín vàng đồng. Còn bây giờ ngó khắp vùng này tao thấy có vạt ruộng của bây thôi. tao tính.
- Tính vậy mà cũng tính. - Tư Hạ ngắt ngang.
- Tổ cha bây chớ cằn rằn tao. - Má vừa ngoáy trầu vừa nói.
Cơm trưa xong má biểu Sự:
- Con đi nhổ mì cho má đi. Nhổ chừng hai phần thúng, nhiều má đội không nổi.
Tư Hạ nói:
- “Con đi nhổ tiếp thằng Sự” - Và nháy tôi một cái.
Đã xế dài, má vẫn chưa muốn về. Năm mẹ con cứ nằm thủ thỉ.
Thằng Sự phải nhắc má:
- Thôi, má về đi, để tối sợ pháo.
Má bỗng ứa nước mắt:
- Ruồng bố tới nữa rồi đó, anh em bây ráng mà giữ gìn. Ở bên sông, đêm nghe pháo bắn bên này, má không ngủ được, má nhớ tụi bây, má ra bờ sông má ngồi.
Chúng tôi nghe má nói, nghẹn ngào. Thằng Sự đưa thúng mì cho má.
Má lom khom ra cửa. Tụi tôi chen ra theo.
Ngoài cửa hầm, Tư Hạ và Sự đã để sẵn bốn bao lúa: Tụi tôi mỗi đứa xốc một bao lên vai đi theo má.
Má quay lại:
- Tụi bây làm cái gì vậy?
Tư Hạ, Sự cười lớn:
- Vác lúa xuống bến cho má!
Má bỗng đứng lại:
- Tao không có lấy. Để tụi bây chống càn.
Tư Liệt đáp ngay:
- Chống càn còn gạo thiếu gì!
- Đậu xanh cả bao. - Thằng Sự khoe.
- Rồi còn đám mì của má đó. Đói đâu mà sợ. - Tư Hạ nói, tỉnh rụi.
Coi bộ chúng tôi kiên quyết lắm, má xuống nước nài nỉ:
- Nói vậy chớ má cũng còn gạo, có thiếu thốn gì bà con cũng đùm bọc giúp đỡ. Các con để dành phòng khi thắt ngặt.
Sự dọa má:
- Bà cứ đứng nói hoài lỡ pháo nó bắn trúng tụi tui thì bà phải đền nhơn mạng đó!
Tư Hạ nói tiếp:
- Má không lấy thì mai tụi con cũng phải vác qua cho má thôi.
Má lại năn nỉ:
- Thôi má lấy đỡ một bao thôi con.
Thằng Sự xụ mặt:
- Tại cái xuồng nhỏ sợ chìm nên mới vác bốn bao, chớ nếu xuồng lớn thì vác hết mười bao.
Tôi năn nỉ má:
- Má ơi! Má thương con thì má đi chớ má coi con vác bao lúa đứng nãy giờ muốn xỉu rồi đây nè. má coi run giò hết.
Má bật cười:
- Mẹ. cha bây! Ai biểu bây vác.
Rồi má đi mau mau, sợ tôi xỉu thật. Chúng tôi bốn đứa theo má.
Xuống tới bờ sông thì thấy trong xuồng má đã có hai bao rồi. Thì ra Tư Hạ và Sự đã vác xuống trước hai bao. Chất thêm bốn bao nữa thì chiếc xuồng mấp mé.
Má không chịu chống xuồng ra, lại nài nỉ:
- Xuồng khẩm đừ, thôi để bớt lại ít bao đi con, má sợ chìm.
- Tụi con lội giỏi lắm, có chìm tụi con lội ra vớt má. Thằng Sự vừa nói vừa đẩy chiếc xuồng ra. Má đứng lên vừa chống xuồng vừa khóc. Anh em tôi đứng trên bến vỗ tay cố cười ha hả cho má vui.
Đợi xuồng má qua đến bên kia bờ, khuất vào ven cây trong rạch, anh em tôi mới trở về, lòng nao nao, nghèn nghẹn.
Có mấy trái pháo nổ vu vơ trên đường đấp, chắc trong hoàng hôn, má đang dừng chèo ứa nước mắt trông sang.
Rút từ tập Truyện, ký: Quê hương địa đạo. Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I.
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007. |