Tôi nói với Tư Hạ:
- Ông coi, Tám Hòa ở thành mới vô kháng chiến, bom đạn như vầy mà ông phân công con gái người ta một thân, một mình ra Xóm Trại cõng cái thùng nước mắm hai mươi lít về. Nửa đường cái thùng nó hở hàn, nước mắm chảy xối trên lưng chảy xuống. Gặp tôi, tôi đá hất vô lùm rồi tôi bỏ đi luôn. Còn nó, nó cắn răng cõng cái thùng về tới nhà, mình mẩy ướt đầm nước mắm như con cá lóc kho, vậy mà chớ nghe nó hé miệng than một tiếng. Hỏi vậy ông còn chê chỗ nào nữa chớ?
Tư Hạ đuối lý, nói cà lăm:
- Tôi đâu có chê. mà điều. mà điều.
Thằng Sự cắt ngang:
- Nè! Chị Tám ca bản Tây hay lắm nghen! Bữa nào nhà vắng vẻ một mình, chị Tám vừa ca, vừa hút gió, vừa búng ngón tay tróc tróc nghe hay ác!. Còn hay hơn Tường Vi nữa nghen!.
Tư Hạ như trực nhớ, nhổm dậy:
- Đó! Tôi ớn là ớn chỗ đó đó. làm cái gì mà miệng hút gió, tay búng tróc tróc rồi còn giựt giựt hai cái giò nữa chớ, in mắc phong xù.
Thằng Sự bật cười:
- Ông chưa già mà còn xưa hơn “tía” ông Bành Tổ.
Tôi vả lại:
- Nó là thanh niên học sinh thì nó thích ca thích hát. Không lẽ ông bắt nó ngồi cú xụ uống trà tối ngày như ông già sao?
Thằng Sự trách:
- Mà anh có dạy cho chị Tám hát bài cách mạng nào chưa? Cứ bắt đào hầm, tải gạo hoài mà còn chê nữa.
Tư Hạ chống chế:
- Tao chê hồi nào?. mà điều. mà điều. chưa xin ý kiến Đảng ủy.
- Trời đất! - Thằng sự đứng dậy phủi đít cái phạch - Cưới vợ chớ bộ.
Tôi biết tánh ông này, chưa có ý kiến chánh thức của Đảng ủy thì ổng chưa dám xôm vô đâu.
Thế nên tôi “dĩ hòa vi quý”.
- Thì mai ông đi Hố Bò hỏi Sáu Râu đi!
Sáng sớm hôm sau, Tư Hạ mang súng lên đường qua Hố Bò xin phép Đảng ủy cưới vợ.
Chạng vạng ông mới về tới. Thằng Sự và tôi kè ông ra bìa rừng thúc cùi chỏ vô hông ông hỏi:
- Sao?
- Thế nào?
- Đồng ý “mạnh”! - Tư Hạ cười phấn khởi.
- Vậy chớ sao? Già rồi cưới vợ chớ bộ. - Sự nói.
- Mà. bây giờ mới khó. Không biết làm sao nữa đây?. - Tư Hạ ngập ngừng hỏi.
Tôi nói với Sự:
- Nè! Tao coi ông Tư Hạ gần bốn chục tuổi đầu rồi chớ ổng chưa có chạm tới bàn tay con gái nghen Sự. Mầy coi giúp đỡ ổng, chớ tao nói thiệt, cái gì tao còn khá, chớ cái “môn” này tao “yếu” lắm.
*
* *
Sáng hôm sau, Sự phân công lao động:
- Chú Bảy với anh Sáu đi đốn cây đà làm hầm. Anh Tư, chị Tám với tôi đào địa đạo. Chị Ba Tâm lo cơm nước như thường lệ. Chịu khó ra sông hái rau mớp về làm dưa, có thứ đó ăn được cơm lắm.
Cái thằng! Bộ nó không biết tôi cụp xương sống hơn nửa tháng nay hay sao mà phân công ác vậy. Đã làm hầm thì phải lựa cây lớn, bốn năm gang tay bề hoành, làm sao tôi vác cho nổi. Tôi vừa muốn lên tiếng cự lại, thì nó nháy nhó làm hiệu. Tôi biết ý nín khe.
Một lát sau, Bảy Tranh với tôi xách cưa rựa, mang bình toong trà quạu đi luồn rừng đốn cây, qua ngang chỗ miệng địa đạo thấy nó đang đứng hè hụi kéo đất.
Gặp chúng tôi, nó nheo mắt nói nhỏ:
- Ém hai ông bà xuống dưới để họ mặc sức mà tâm tình.
Thằng nhỏ tuổi mà lắm mưu nhiều kế!
Rồi nó nói tiếp:
- Chú Bảy với anh Sáu đốn cây bỏ đó, đừng có vác, vác cụp xương sống nữa đa! Để trưa chiều, cháu rảnh cháu tranh thủ.
Thằng nhỏ mà thiệt là chu đáo, ăn ở có nghĩa có tình.
. . .
Độ mười ngày qua.
Một bữa, Tư Hạ, tôi và Sự ra suối tắm.
Tôi hỏi Tư Hạ:
- Tình hình bữa nay biến chuyển tới đâu rồi ông Tư?
Tư Hạ mau mắn:
- Được năm mươi phần trăm rồi!
- Khá quá ha! - Tôi có ý mừng.
Tư Hạ tiếp:
- Năm chục phần trăm là về phần tôi đó, còn phía người ta coi bộ chưa có “đờ rê” nào hết.
Thằng Sự cười ha hả:
- Anh Sáu coi, bữa nào hai người cũng thi đua đào, có mình em kéo đất muốn chết. Chừng chun lên, mệt thở hào hển, mồ hôi mồ kê ướt nhẹp, đầu cổ mặt mũi đất cát tèm lem như con chồn chó vật. Còn thêm khói đèn nó đóng theo lỗ mũi có cục như con ma cà rồng. Mắt người nào người nấy ngó như mặt quỷ, đực rựa như tôi thấy còn phát ớn huống chị Tám Hòa.
Tôi nói an ủi một câu:
- Coi vậy chớ “Chí công mài sắt” chầy ngày nên kim!
- Mài kiểu này chắc râu dài tới rún mới nên cây lẹm đa anh Sáu.
Cái thằng nói theo điệu “Thất bại chủ nghĩa”!
Sáng bữa sau, thằng Sự phân công lại. Nó đổi chiến thuật:
- Bữa nay đổi phiên: Anh Tư với chị Tám đi đốn cây làm hầm, chú Bảy, anh Sáu với chị Ba đi đào địa đạo. Em ở nhà “cải hoạt” nấu cơm.
Bữa nay, thằng Sự đòi “cải hoạt”, chắc nó tính đi tát ao, tát vũng gì đây.
- Không có đi xa nghen mậy! Lúc này biệt kích nó hay xuống ẩu lắm đó, lơ mơ nó “lấy họng”.
Ba Tâm nói vậy rồi bỏ vô bếp pha trà. Ba Tâm biết ý anh Bảy, có cữ trà sớm tăng năng suất ba mươi phần trăm, không có trà cứ ngồi ngáp vắn, ngáp dài.
Thằng Sự nói nho nhỏ:
- Bữa nay cho hai ông bà nhởn nhơ trong rừng rậm như công chúa với hoàng tử.
Thằng nhỏ thiệt đa mưu túc trí.
Đã nửa tháng qua.
Ngày ngày “công chúa với hoàng tử” vác rựa vô rừng vừa đốn cây vừa “xem huê dạo kiểng”.
Lúc này tôi thấy tình ý hai người có khác. Thằng Sự với Ba Tâm cũng báo cáo tình hình cho chúng tôi chính xác từng ngày:
- Hôm qua, Tám nó thức tới nửa đêm, mạng cái áo cho Tư Hạ. - Ba Tâm nói.
- Mấy ngày nay, anh Tư bỏ ngủ trưa, gò gẵm làm cái đèn “ancônđờmăng” cho Tám Hòa. Ở trong có để cái bông hoa nổi màu đỏ, đẹp hết biết! - Sự báo.
- Tám Hòa thêu cho anh Tư cái khăn “mù soa” đẹp hết chỗ nói. Có thêu hai chữ H quấn lấy nhau. - Lại Ba Tâm.
- Ông Tư đêm nào cũng lọ mọ thức chép cho bà Tám tập bài hát đẹp lắm, có vẽ hình minh họa nữa nghen! - Sự cho biết.
Trong cơ quan ai cũng chăm chút mối tình này và niềm vui của chúng tôi cũng lặng lẽ tăng lên theo mức độ tình cảm của đôi bạn. Hạnh phúc của hai người thành như là hạnh phúc chung.
Một bữa ra bờ sông hái rau rừng, tôi hỏi Tư Hạ:
- Bữa nay tình hình tới đâu rồi ông Tư?
- Coi bộ kết quả cũng khá khá.
- Mà cổ có hứa gì với ông chưa?
- Mình có hỏi dò thì người ta nói: “Em phục anh lắm, nhưng em thương như thương người anh vậy thôi, chớ em chưa yêu”. - Rồi Tư Hạ lắc đầu - Cha! Nói in tiểu thuyết xã hội tâm lý tình cảm.
Tôi vỗ đùi:
- Vậy là chắc ăn rồi. Phấn khởi “tơi bời” rồi! Con gái mà nói như vậy chắc như “ghịt” rồi đó.
Tư Hạ mỉm cười, mắt sáng trưng, mặt mày rạng rỡ.
*
* *
Bữa đó Ba Tâm, Sự với anh Bảy đi ra Xóm Trại để móc gạo, kết hợp móc gia đình.
Ở nhà chỉ còn tôi, Tư Hạ với Tám Hòa.
Trời mưa từ chiều - “Trời này mà cùng người yêu rỉ rả tâm tình thì thật là tuyệt cú”.
Nghĩ như vậy nên trời vừa chạng vạng, tôi lên tiếng trước:
- Tối nay tôi lo sáng tác cho rồi bài thơ. Hai người cứ giăng võng ngủ trước nghen.
Nói vậy rồi tôi trèo lên nóc hầm ngồi cheo leo một mình.
Nóc hầm có cái mái “tôn” thấp thấp cho mưa đừng thấm dột xuống hầm. Tôi có thói quen khi sáng tác thì thích im lặng, vắng vẻ một mình. Nhiều người nói năng chộn rộn, qua lại chàng ràng tôi mất hứng.
Tôi ngồi trên nóc hầm, ngoài trời mưa rơi lách tách.
Tôi muốn làm thơ mà sao tâm trí cứ nghĩ chuyện gì đâu không.
Tôi nghĩ: “Cha. trời này mà có tô “hoành thánh” nóng hổi khói lên nghi ngút. Mưa rơi trên mái tôn lộp độp, sao tôi nghe y như tiếng gõ nhịp của xe mì chú Gồ, hồi nhỏ. “Lắc cắc cụp! Lắc cắc cụp! Chú Gồ ngủ gục!”. Thế nào má mình cũng kêu cho tô “hoành thánh”.
Nước miếng tuôn ra đầy miệng, tôi nuốt cái ực.
Bỗng hu. hu. Hai trái pháo bay qua đầu rồi rớt nổ cách tôi chừng năm trăm thước.
Tư Hạ trồi lên:
- Thôi xuống ngủ, pháo bắt đầu bắn rồi đó.
Tôi nói, có hơi gắt:
- Thôi, ông để tôi yên đi mà! Nó bắn xa lơ.
Tư Hạ nhìn tôi, mặt nhăn nhăn:
- Sáng tác sao không có giấy viết gì hết!
Tôi cự:
- Thì người ta đang chờ hứng.
Nghe nói tôi đang chờ hứng, ông vội vã chui xuống hầm.
Ông là họa sĩ, cũng dân sáng tác nên rất thông cảm anh em. Có lần tôi đang làm thơ mà ông cứ theo nhằn tôi về vụ làm bể hũ mắm mục. Tôi buồn bã lắc đầu nói:
- Đang làm thơ mà cứ theo lằng nhằng hoài, viết không ra câu nào hết.
Ông Bảy Tranh tiếp theo:
- Tôi mà bực bội thì vẽ cũng ra hình, mà toàn hình nộm.
Từ đó, ông không có cằn nhằn anh em nữa, mà nghe nói tới sáng tác là ổng lo lắng chiều chuộng từng chút.
Nhưng bữa nay tôi có bực bội gì đâu, mà hứng cũng không thấy tới, chỉ nghĩ toàn món ăn ngon.
Tôm càng nướng. chả giò. bánh hỏi thịt quay.
Phở!. Cha! Cái ông bán phở ở xóm hàng Xáo rao tiếng phở. nghe lảnh lót, còn hay hơn các cô văn công Xóm Chùa luyện giọng. Tôi đang gật gà mơ mộng bỗng bạch. bạch. bạch.
Tiếng “bạch bạch” từ bờ sông vang lên rồi thấy ánh đèn chiếu sáng. Trực thăng đi soi đây. Đêm nào cũng vậy, vào giờ này là hai thằng “cá lẹp” bay dọc bờ sông, bật đèn pha rọi sáng như ban ngày. Nó sợ bộ đội vượt sông Sài Gòn. Bay một hồi, ngứa tay nó xổ 12 ly 7 bắn dài theo sông. Những viên đạn đỏ lừ nối đuôi nhau chạy hàng đàn trong đêm tối. Đôi lúc hứng, nó quật mũi súng vô rừng. Nhớ tới đây, tôi vội thổi tắt đèn, tuột lẹ xuống hầm. Mình cảnh giác mà mấy đứa nhỏ nó nói mình “Phoón”! Kệ nó! Kỹ lưỡng chắc ăn! Nhiều tay mất cảnh giác bị lạc đạn chết oan.
Tôi tuột xuống hầm nhè nhẹ, nhè nhẹ, sợ làm vỡ tan cái khắc giây êm ái của đôi bạn.
Bỗng tôi nghe tiếng Tư Hạ thao thao hùng biện:
- Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản giãy chết là vì chủ nghĩa đế quốc đẩy các mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đến tột cùng mà vượt quá đó thì cách mạng bùng nổ, nhất định bùng nổ, không cách gì ngăn cản nổi. Em có biết những mâu thuẫn đó không? Có ba mâu thuẫn mà chúng ta.
Tôi phát quạu. Uổng công nãy giờ ngồi trên nóc hầm trân mình chịu pháo, chịu muỗi. Tôi nói hơi gắt:
- Thôi khuya rồi, ngủ đi ông ơi! Làm cái gì mà hăng dữ vậy.
Tôi xuống hầm, căng võng, giăng mùng. Rồi kề tai Tư Hạ nói nhỏ:
- Nè! Người ta tạo điều kiện cho ông tâm tình mà mắc cái chứng gì ông nói chính trị không vậy? Tư bản giãy chết thì có liên quan gì tới ông với Tám Hòa.
Tư Hạ nói nho nhỏ:
- Thì tranh thủ bồi dưỡng cho cô ấy một mớ chính trị. không bổ bề ngang, cũng bổ bề dọc mà. Với lại cái này dễ nói hơn cái kia. mình không quen!.
Thiệt hết chỗ nói cái ông Tư Hạ này.
Tôi nhìn qua, thấy Tám Hòa che mặt, hình như cố nén nụ cười.
*
* *
Ngày 20 tháng 4 năm 196. Khoảng 3 giờ chiều.
Sau cơn mưa đầu mùa, nắng vàng lên rực rỡ. Cơn mưa lớn như cuốn đi tất cả cái oi bức của mùa hè. Tiếng ve kêu vang rừng. Mọi người đều khoan khoái.
Từ ba hôm nay, Ba Tâm, anh Bảy và Tám Hòa đều đi vắng. Ba người lo đi móc gạo ở Trung Hòa.
Tư Hạ, tôi và Sự ở nhà lo hoàn thành gấp địa đạo. Cả cơ quan nỗ lực chuẩn bị chống càn: hầm hố và gạo muối.
Mấy hôm rày, biệt kích đổ lung tung.
Chúng tôi đang hốt lá nghi trang cái địa đạo mới hoàn thành, vừa làm việc vừa trò chuyện vui vẻ.
Mặt trời càng xế xuống thì Tư Hạ càng lộ vẻ nóng lòng:
- Sao giờ này mà mấy người đó chưa về?
Sự trêu chọc, liếng thoắng:
- Người nào? Nói cho rõ! Cha! Mới đi vắng mấy bữa mà coi bộ nhớ quýnh ha!
Tư Hạ vẫn chân thật:
- Không phải nhớ, mà sao lo quá!
Vừa lúc ấy bỗng nghe tiếng trực thăng nổ rền.
Sự nhảy lên mô đất ngóng nhìn rồi nhào xuống la:
- Núp! Núp! Nó bay ngang đây! Thấp lắm!
Sự chưa dứt tiếng thì đã nghe tiếng máy nổ ầm ầm ngay trên đầu. Trực thăng rà sát ngọn cây, gió thổi ào ào, rừng chồi quặt quặt. Chúng tôi nhảy tót xuống công sự. Bầy trực thăng đảo qua một vòng, đáp xuống phía lộ làng, rồi tất cả im lìm.
Mấy phút sau cả bọn ầm ầm cất cánh.
Khu rừng lại hoàn toàn im lặng. Một im lặng nặng nề, căng thẳng.
- Nó đổ biệt kích trước mặt mình rồi đó. - Sự nói.
Tư Hạ lo lắng lộ ra mặt.
Tôi hiểu. Giờ này, anh chị em ngoài Xóm Trại sắp về, không khéo sẽ lọt vào vòng phục kích của giặc.
Tư Hạ nhìn chúng tôi, mắt long lanh:
- Phải diệt sạch bọn biệt kích này mới được!
- Nhưng chưa rõ lực lượng chúng bao nhiêu, cũng chưa biết nó triển khai làm sao. - Tôi nói.
- Đừng nóng, anh Tư, để em đi nắm tình hình. Đợi em trở về sẽ tính.
Không đợi Tư Hạ trả lời, Sự chụp khẩu AK bá xếp nhảy đi thoăn thoắt như con sóc giữa cây rừng, không nghe tiếng xạc xào của lá úa dưới chân.
Tư Hạ phờ phạc, bồn chồn đi tới đi lui một lúc rồi dừng lại, nói:
- Phải yểm trợ thằng nhỏ mới được. Ông ở nhà giữ cứ. Thật tôi chẳng yên lòng.
Tôi nắm tay anh:
- Chưa có việc gì đâu, chờ Sự về xem tình hình ra sao? Nếu quả có địch, ta sẽ nổ súng báo động.
Tư Hạ không nói gì, anh nhìn tôi, mặt hơi ửng đỏ. Hàm răng nghiến chặt. Anh cầm khẩu AK lặng lẽ đi về phía bìa rừng.
Không cản anh được đâu. Tôi nghĩ.
Mười lăm phút qua. Vẫn im lặng.
Giờ này, chắc anh Bảy, Ba Tâm, Tám Hòa về sắp tới. Tôi nghĩ và nhói trong lòng.
Tôi ngồi đây giữ cứ? Có gì đâu mà giữ. Vắng người cứ chỉ còn là một hầm đất vô tri. Tôi gom đồ đạc đút vào trong ngách, nghi trang kỹ rồi cầm súng bước ra khỏi hầm.
Tôi đi từng bước một, thật êm ái, thật nhẹ nhàng, không gây một tiếng động nhỏ.
Có lẽ bọn biệt kích đã triển khai rồi. Có lẽ nó đang nằm rình mình đâu đó. Mình đang là mục tiêu di động - rất dễ bị phát hiện. Tôi núp vào một đống gò mối, đứng im một phút rồi tiếp tục đi, vẫn êm ái, nhẹ nhàng.
Vẫn chưa thấy Tư Hạ. Vẫn chưa thấy Sự.
Vẫn im lặng đến rợn người.
Còn độ ba mươi thước nữa đến bìa rừng. Tôi dừng lại, núp sau đám chùm hôi quan sát:
Con đường nhỏ chạy cặp theo bưng, sau cơn mưa được rửa sạch, cát trắng phau. Nghe tiếng nước chảy róc rách trong con suối nhỏ. Nắng chiều nay dìu dịu. Gió thổi lao xao, đong đưa những bông lau trắng ngoài bưng xa, nghiêng ngả những bóng hoa mua tím nhạt ven rừng vắng. Vẫn cảnh êm ả như mọi ngày, không thấy dấu hiệu gì của chiến tranh. Không thấy dấu vết gì của biệt kích. Một con sóc từ trên cây nhảy xuống, luýnh quýnh chạy băng qua đường.
Im lặng.
Bỗng nghe tiếng cười nói từ phía chòm mả. Hai cô gái vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ. Một cô mang ba lô đi dép râu, một cô tay xách giỏ, tay cầm mấy đóa hoa rừng. Trong giỏ có mấy chùm sim chín. Không còn im lặng nữa nhưng vẫn cảnh yên tĩnh hàng ngày.
Có lẽ không có chuyện gì xảy ra. Có lẽ không có biệt kích. Có lẽ tại mình quá lo. Có lẽ trực thăng rà quan sát cái gì đó rồi cất lên thôi. Tôi hy vọng và thấy vui vui trong lòng.
Hai cô vẫn bước đi, tươi tắn, nhẹ nhàng, không gợn một mảy may lo âu như cánh chim đang bay trên trời kia, như đóa hoa đang rung rinh trước gió kia.
(còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007. |