Chuyện ông Dương Tử Giang làm bầu hát bội
Hồi kháng chiến chống Pháp, vùng giải phóng khu 9 rộng mênh mông. Từ Cần Thơ xuống ngã Ba Đình sông Cái Lớn, qua Ngang Trâu - Ngang Dừa, xuống Chắc Băng Cạnh Đền, qua Huyện Sử Đầm Bà Tường, xuôi sông Trẹm vô Tân Bằng Cán Gáo, thẳng xuống Đá Bạc Kim Quy, hoặc theo dòng Bảy Háp xuống Đầm Chim, Đầm Dơi, Đồng Cùng, theo sông Gành Hào xuống tuốt Năm Căn, sức tôi chèo mười ngày đi chưa giáp - là nói cái sức trai hồi mười bảy, mười tám, cái thuở:
“Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo”.
Còn như bây giờ, vác cặp chèo đi một trăm bước đã thở dốc rồi, nói chuyện chèo chống chi cho mệt.
Quy luật của muôn đời: “Lão lai tài tận” là vậy.
Thuở ấy, vùng giải phóng khu 9 bao la, mênh mông. U Minh đất rộng người thưa, rừng vàng biển bạc. Gạo thóc dư thừa, vào ngày mùa, một ngày làm, một tháng ăn, mà ăn đâu có hết. Dưới sông, dưới biển, cứ nhảy xuống là đụng cá, đụng tôm. Hai tay quơ cũng mò bắt được cá, còn cua ốc thì khỏi nói - xuống miệt Long Điền vác cào mà cào con nghêu, con hến, xuống rừng đước Năm Căn mà bắt con vọp, con ba khía - bắt đầy xuồng đầy nghe - mệt nghỉ.
Người dân sống sung túc, nhà ngủ không đóng cửa. Đường không lượm của rơi. Chèo ghe đi công tác, đêm lỡ độ đường, lủi vô nhà nào lật nóp ngủ cũng được; lỡ đói bụng, tấp vô nhà nào cũng có cơm ăn.
Thật là đời Nghiêu Thuấn, tuy vậy người dân thuở ấy có một thiếu thốn lớn, đó là thiếu thốn thưởng thức văn nghệ, khao khát thưởng thức văn nghệ.
Sách báo không có mà đọc. Điện ảnh thì chưa có, thỉnh thoảng mới được xem một lần triển lãm mấy tấm ảnh cũ mèm, treo trong chuồng trâu hoặc vựa lúa. Còn cải lương, kịch nói, âm nhạc, lâu, lâu lắm gặp ngày lễ lớn mới có một lần tổ chức mít tinh, diễn kịch, đồng bào ở xa đôi ba chục cây số cũng chèo nghe tới xem.
Khao khát văn nghệ đến như vậy. Lại có chủ trương cấm ca vọng cổ cho nó là bài ca ủy mỵ âu sầu, sanh ra trong thời vong quốc.
Cấm ca! Thật là ấu trĩ! Bây giờ thì nói vậy. Chớ hồi đó, nghe các ông lãnh đạo “thuyết” mình cũng có phần hữu lý, cũng lọt lỗ nhĩ, bùi lỗ tai lắm. Báo hại mấy ông nông dân mê vọng cổ, thèm 6 câu quá! Không biết làm sao, bèn lén lén chống xuồng vô tuốt trong bưng sâu, trong đầm vắng, ca vọng cổ đã đời rồi tới khuya chống xuồng về nhà ngủ.
Được một cái là các ông nông dân thành phần cơ bản mê vọng cổ là mê thiệt, mê vọng cổ “chay” mà thôi, hát đã đời thỏa mãn tình cảm rồi về ngủ một giấc tới sáng thức dậy đi cày chớ không có như thời tân tiến bây giờ, chế biến ra ba cái vụ đèn mờ, Đường sơn quán, Karaoké ôm.
Lúc đó ông Dương Tử Giang hoạt động ở nội thành bị bể bạc mới vô vùng giải phóng. Lúc đầu, ông ở báo Cứu Quốc với ông Thiếu Sơn, do ông Năm Nguyễn (Nguyễn Văn Nguyễn) lãnh đạo.
Ở báo một lúc, thấy buồn, ông qua văn nghệ. Ông thấy rất rõ nhu cầu thưởng thức văn nghệ của bà con cô bác.
Kịch thì đã có đoàn của ông Bảy Bạch (Nguyễn ngọc Bạch). Cải lương thì đã có đoàn của ông Lưu Chi Lăng. Ông Dương Tử Giang quyết mở con đường mới lập gánh hát bội. Ông nói: “Nông dân Nam Bộ mình mê hát bội dữ lắm”. Ông bà có câu: “Hát bội hành tội người ta”. Nghe tiếng trống phách, bận gì thì bận, bỏ đó đi xem hát đã!
Hát mấy đêm coi đủ mấy đêm.
Nghe dưới sông Bảy Háp, miệt Vườn Cò, Bà Hính, Điền quốc gia có hát bội rã gánh ở đó hồi mới bắt đầu kháng chiến, ông lần mò tìm tới.
Xuống đến nơi, ông bắt rễ ngay với ông Chín đờn cò. Ông nầy đã già, năm ấy gần 60 tuổi, gia đình làm ruộng, mà ông thì mê đàn hát lắm.
Tiếng đàn của ông thật quỷ khóc thần sầu. Ngày thường vào chập tối, cơm nước xong, ông đốt đèn ngồi đàn một mình. Trong xóm có tiếng đồn, ông đờn hay quá nên có bữa Bà giáng, đỏ rực một vùng trời. Chuyện đó có không chẳng biết nhưng quả thật ông đờn hay lắm. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, ông Dương Tử Giang và ông Chín đờn cò gặp nhau tương đắc lắm.
Kế hoạch lập gánh hát bội đề ra được bà con cả xóm ủng hộ, vỗ tay rầm rầm. Ai cũng đồng ý góp tiền, góp gạo để nuôi nghệ sĩ ăn tập. Người khá giả thì góp năm mười giạ lúa, người nghèo cũng cúng vào nửa táo, một giạ.
Ông Chín đờn cò lo đi tìm đào kép, ông Dương Tử Giang lo phần kịch bản. Mỗi người một tay, một chân.
Vở đầu tiên là tuồng Trương Phi thủ Cổ thành. Đêm đêm, ông Dương Tử Giang đốt đèn dầu cá trong mùng mà sáng tác. Vùng nầy muỗi dữ lắm. Ở ngoài muỗi như vãi trấu. Ông Chín chèo ghe đi gần nửa tháng, lùng khắp U Minh Thượng, U Minh Hạ rước được hai ông kép và một cô đào chánh. Thành phần cốt cán như vậy là đủ rồi. Còn các vai phụ cứ tìm chọn trong số trai tráng trong xóm.
Ông Chín về tới thì ông Giang soạn tuồng cũng vừa xong. Ông họp đoàn lại, đọc cho cả xóm nghe, người góp ý nầy, kẻ thêm ý nọ nhưng ai cũng nhận là tuồng viết rất chỉnh chứng tỏ tác giả không phải tay mơ. Ông Dương Tử Giang được cử làm bầu gánh, kiêm soạn giả, kiêm đạo diễn, kiêm diễn viên phụ. Ông Chín đờn cò lãnh phần chỉ đạo nghệ thuật kiêm nhạc trưởng, kiêm “ông nhưn”, kiêm trưởng ban kinh tài, chủ yếu do vận động tiền bạc, gạo thóc.
Đoàn lao vào tập dượt. Dạo ấy, ấp Bến Bào vui như ngày hội. Chiều chiều cơm nước xong, nghe tiếng kèn tiếng trống nổi lên là ghe xuồng tấp nập bơi tới.
Mới tập tuồng thôi, chưa có y trang, chưa dậm mặt mà ai xem cũng mê mệt. Trời ơi! Ở đâu mà tìm được bà nhị tẩu đẹp “tiên sa cá lặn”. Ở cái xứ U Minh trèm trẹm nước mặn đồng chua nầy mà ông Chín đờn cò tìm đâu ra một bà “nhị tẩu” mình hạc xương mai, mặt hoa da tuyết, môi đỏ như son, con mắt lá răm, chân mày lá liễu, má lúm đồng tiền. Mỗi lần cổ cười chúm chím, hai cái đồng tiền sâu hóm, có duyên hết biết, trông thấy thương liền. (Đó là chuyện hồi 18, 20 tuổi kia. Chớ còn bây giờ, già rồi có bốn đồng tiền cũng không thương nữa chớ nói chi chỉ có hai đồng).
Bây giờ nhớ lại mà so sánh, đem cô này đọ với Ngọc Huyền thì cũng cỡ một mười một tám (mà cũng chưa biết ai mười ai tám đó nghen?).
Đó là nói cô đào chánh Cam phu nhân. Còn bà Mê phu nhân thì hơi già, mặt rỗ nhưng trét phấn vô, đèn khí đá lờ mờ ai thấy mà sợ.
Còn ông Trương Phi cũng hết xẩy. Chưa hóa trang mà mặt mày coi đã hầm hứ rồi. Chừng vẽ mặt mang râu vô, đàn bà con nít không dám lại gần. Ổng uống rượu say rồi đá giáp nhai râu, la hét, chửi rủa, ổng đẩy, ổng xô, ổng vật thằng Sầm thằng Lảnh như mèo vật chuột. Nghe nói ông Quan Công bỏ Tào, “quá ngũ quan” về tới, ổng nổi cơn thịnh nộ, ổng hét vang như sấm, ổng hươi xà mâu lục lạc khua rổn rảng, đàn bà con gái hết hồn, chạy dạt ra xa lắc.
Còn ông Quan Công mới thật là độc đáo. Mặt đỏ như chậu huyết. Râu năm chòm suông đuột. Con mắt ngó thẳng, đứng tròng. Tay cầm thanh long đao bước đi tề chỉnh. Khi ông xuất hiện, uy nghi lẫm liệt, khán giả đều sợ hãi, im lặng, nín hơi, không dám thở.
Khi bị Trương Phi la hét chất vấn về việc đầu Tào, ông giựt mình cái tròng con mắt nhảy nhảy theo nhịp kèn trống. Mấy ông già trầm trồ khen ngợi:
“Thiệt giỏi! Thiệt giỏi! Ăn hết ba trăm dạ lúa chưa chắc đã tập được cái thuật nhảy tròng con mắt nầy”.
Đoàn chưa chính thức trình diễn mà tiếng tăm đã nổi như cồn. Lúa thóc, quyên góp ví đã mấy bồ ăn tới Tết còn chưa hết.
Đêm ra mắt, bà con mấy xã bơi xuồng tựu tập về đen nghẹt, có lẽ đến nửa vạn người.
Các cấp lãnh đạo xã huyện, tỉnh, Nam Bộ, trung ương đều đến dự đông đủ.
Hàng quà hàng bánh bày ra đủ thứ. Trên bến dưới thuyền đèn đuốc giăng giăng như sao chẳng khác hội hoa đăng.
Đêm biểu diễn thành công ngoài tưởng tượng.
Đồng bào vỗ tay hoan hô quên nghỉ.
Các đồng chí lãnh đạo cũng khen tấm tắc, thấm thía nhất là cái mục “cảnh giác”.
Ông Quan Công ổng đánh thua Tào Tháo rồi ổng làm cái tờ cam đoan “đầu Hán bất đầu Tào”. Rồi ổng ở lại với Tào. Tào Tháo đối xử với ông như thượng khách: tam nhật tiểu yến, thất nhật đại yến, thượng mã đề kim, hạ mã đề ngân, nào tặng cho túi gấm bọc râu, nào dâng áo cẩm bào phòng rét. Còn ban cho ngựa xích thố, phong ấn Hán thọ đình hầu.
Rồi bây giờ ổng về đây, ổng tự xưng là Việt kiều yêu nước, ủa quên! Hoa kiều. Hán kiều gì đó.
Ai mà tin ổng được kìa? Ai mà mở cửa ải cho ổng vô kìa?
Trương Phi thịnh nộ, cật vấn ổng là phải. Ổng phải chứng minh bằng hành động cụ thể chớ. Phải cầm thương lên ngựa giết giặc lập công chớ.
Trương Phi tánh tình nóng nảy mà thật vững quan điểm lập trường. vân vân và vân vân. Nghe tới đâu bầu Giang nở ruột tới đó.
Từ đó, đoàn đi biểu diễn liên tục. Hết xã này rước, đến huyện kia rước. Gạo thóc, cá mắm, bạc tiền đâu thiếu.
Phấn khởi tơi bời, thừa thắng xông lên, ông bầu Giang hạ quyết tâm sáng tác tiếp vở tuồng “Nguyễn Trung Trực quy thần”. Vở nầy cũng rất ăn khách. Bầu Giang lên sân khấu đóng vai ông già của Nguyễn Trung Trực. Ông Quan Công bây giờ đóng vai Nguyễn Trung Trực, còn bà nhị tẩu thủ vai vợ Nguyễn Trung Trực.
Cái lớp lâm ly cảm động nhất là khi Nguyễn Trung Trực chuẩn bị ra quân diệt giặc mà ông bố là Dương Tử Giang đang lâm trọng bệnh. Quân Pháp hò reo vang dội tứ bề. Trong lúc ông Dương Tử Giang đang trợn trừng trợn trạc thổ huyết lâm ly thì bà nhị tẩu cất tiếng than ảo não, nước mắt rơi lã chã đầy hai cái lúm đồng tiền. Dưới hàng khán giả, các bà các chị, các cô sụt sịt đều, nước mắt rơi lộp độp.
Từ buổi ấy, đoàn hát bội của ông Giang muốn gì được nấy, muốn gà có gà, muốn vịt có vịt, muốn heo có heo. Còn loài bò sát như rắn, rùa, lươn, ếch, tôm càng thì mặc sức. (Xin lỗi, đối với dân nhậu thì ếch với tôm càng thuộc loại bò sát, vì thứ nầy nhậu cũng đã lắm).
Đào kép được nuôi nấng kỹ, ai cũng mập béo phổng phao. Bà nhị tẩu đôi má đỏ hồng, càng ngày càng đẹp phây phây ra đó.
Ông bầu Giang cũng bắt đầu thắm da đỏ thịt. Việc làm ăn đang xuôi chèo mát mái, uy tín đoàn hát bội Bến Bào đang lên như diều gặp gió thì sự cố bỗng nổ bùng như trái bom nguyên tử:
Ông Quan Công ổng dẫn bà nhị tẩu bỏ đoàn trốn đâu mất.
Nghe tin như sét đánh ngang đầu, tôi vội vã nhảy xuống xuồng, từ Tân Đức chèo một mạch qua Bà Hính tìm gặp ông bầu Giang cho tường sự việc.
Tôi đến nhà ông Chín đờn cò, gặp ông Giang đang ngồi đó, mặt méo xẹo như cái bánh bao chiều.
Tôi hỏi vỗ về:
- Bộ không có triệu chứng gì trước hay sao mà để sự việc phát tác ra tồi tệ đến vậy?
Ông Giang lắc đầu, thiểu não:
- Thì tôi thấy thằng Tư Lù (tên cúng cơm ông Quan Công) nó chăm sóc con Út Lủng (tên cúng cơm bà Nhị Tẩu) tôi tưởng là chú cháu lo lắng cho nhau.
Bà Chín đang ngồi chải đầu bên kia liền vọt miệng đâm xẹt qua:
- Chú chó chớ chú cháu. Thằng Lù nó lớn hơn con Lủng có trên 20 tuổi mà nó làm bậy bạ.
Hình như bà nầy cũng đang đổ ghè tương, nói xỉa xói ông Chín hay ai đó.
Thấy thế hơi căng tôi vội vã rút êm xuống xuồng. Bà Chín nói vói theo:
- Ở ăn cơm chú Sáu.
Tôi cũng “dạ dạ” rồi đi luôn. Cơm nước gì? Đoàn hát như cái đám ma. lại còn ghè tương muốn đổ nữa, ở đó mà cơm với cháo - coi chừng vạ lây.
. . .
Nghe nói ông Chín đờn cò tức lắm, ông chèo ghe đi kiếm khắp nơi. mà tìm kiếm ích gì, ở cái xứ rừng U Minh trèm trẹm nầy, hồi xưa, tù vượt ngục, dân trốn xâu lậu thuế, cướp của, giết người trốn xuống đây. Tây tà, mật thám làng lính còn phải chịu thua. Có tìm gặp nó, nổ một phát súng, nó lủi vô rừng mất dạng. Có ông trời kiếm.
Đó là chưa nói nó ẩn núp đâu đó trong bụi trong bờ, thừa lúc sơ ý nó rẹt cho một mũi phi tiêu, nó phóng cho một ngọn xà búp, không rồi đời cũng đổ ruột. Đó là chưa kể đến các thứ bùa ngải, nọc rắn nanh hùm, thư ếm, trù ẻo ghê gớm lắm.
Lại một tin mừng nữa nghe bắt rụng rời: “Ông Sơn Ngọc Minh, lãnh tụ cách mạng Campuchia xuống thăm Việt Nam”. Cấp trên chỉ thị đoàn hát bội phải trình diễn phục vụ. Chết cha rồi!
Đào chánh kép chánh đi theo ông Phạm Lãi hết rồi! Lấy ai mà diễn. Trời đất ơi! Ông Sơn Ngọc Minh ơi! Sao ông không xuống sớm giùm mười bữa nửa tháng cho con nhờ. Đợi cho tụi nó trốn hết rồi ông mới xuống!? Tình thế nầy chỉ còn một nước: cắn lưỡi hay thắt cổ cho xong! Nhưng ông Dương Tử Giang có bao giờ chịu thua. Ông quyết vượt mọi khó khăn, đạp bằng mọi trở lực.
Thôi đó là phần ông. Còn tôi, tôi phải chèo xuồng đi ngao du một chuyến Kim Quy, Đá Bạc, thở gió biển, ăn cá biển cho lại sức. Con gái An Biên được tiếng là đẹp nhất xứ đó.
. . .
Độ nửa tháng sau, tôi được tin ngày mổ. tháng mổ. đoàn hát bội của Dương Tử Giang sẽ trình diễn phục vụ ông Sơn Ngọc Minh tại ấp mổ, huyện mổ. Tin nầy là bí mật lắm nhưng mà ở Kim Quy Đá Bạc ai cũng biết. Dân mình có cái đó giỏi, cái bí mật nào rồi cũng bật mí được hết.
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007. |