tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
18.06.2009
Viễn Phương
Anh Tư Bù Tọt và bà mẹ Củ Chi

Để nhớ má Sáu và anh Trang Thế Hy


 


Trời sẫm tối, mây là sà xuống thấp, mưa lất phất bay. Tư Sâm vụt chiếc tàn thuốc ra ngoài mái giọt nghe cái xèo rồi đứng dậy, lấy tấm ni lông choàng vào mình, xách đèn lồng bước ra cửa. Tôi cũng xỏ áo mưa vào rồi cầm cái bòng cũ bước theo.


Má Sáu nãy giờ đang nằm trên chiếc võng căng qua hai cây cột giữa nhà, nhai trầu nhóc nhách, bỗng ngồi nhổm dậy:


- Thằng Tư với thằng Sáu đi đâu đó?


Tư Sâm ngó má cười cười.


Má bước đến bên chúng tôi nói:


- Tao nói không có vô đồng Chà Dơ nghe không. Bây không có cãi tao nghe không.


Tôi hỏi:


- Sao vậy má?


Má nói nho nhỏ như sợ ai nghe:


- Hồi chín năm Tây nó giết người ta trong đó biết bao nhiêu. Cái gò nào mà không có xương. Cái giếng nào mà không có năm ba cái xác ở dưới. Bây giờ đỡ lắm rồi đó. Mấy năm trước, trời chuyển mưa vần vũ là ma quỷ nó hiện về, vừa sụp tối là ma đuốc bay lấp la lấp lánh. Ban ngày cũng không ai dám léo hánh tới đó.


Tư Sâm ngó má nheo mắt:


- Con có vô trỏng làm chi má. Đi quanh quanh đây kiếm vài ba con. mai má con mình lai rai.


- Ừ! - Má nói - Đừng có vô đồng Chà Dơ bắt cái thứ “bù tọt” ma đó, tao không có đụng đũa tới đâu.


Tư Sâm xách đèn vòng ra sau hè, lội xuống bưng đi tắt lên Ri rồi đâm thẳng vô hướng Chà Dơ.


Tôi hỏi:


- Bộ tính vô Chà Dơ sao anh Tư?


Tư Sâm không ngoảnh lại:


- Ở ngoài nầy mấy bữa nay mình “tận sát” rồi! Không vô Chà Dơ ngày mai ăn muối.


Tư Sâm ngừng một chút, lắng tai nghe:


- Đọ đọ! Ông nghe không? Ếch, nhái, bù tọt ở trỏng nó kêu rân. vô đó chắc chắn đầy bòng.


Đang đi, bỗng anh cúi xuống, quơ tay chộp nhanh một cái, miệng nói:


- Một trự!


Tôi vạch miệng túi, anh bỏ con bù tọt vào, tôi thắc mắc:


- Tôi ngó chẳng thấy gì hết mà sao ông chộp đâu dính đó?


Anh Tư cười giải thích:


- Phải có kinh nghiệm - Trời tối, căng mắt ngó thấy cái cổ trăng trắng phập phồng là biết nó chuẩn bị nhảy. Chụp ngay xuống, nó phóng tới thì hụt liền. Phải chụp trừ hao phía trước đầu, nó lao tới, lọt trọn vô lòng bàn tay mình. Thì như bộ đội bắn máy bay vậy mà. Tính toán tốc độ rồi bắn trừ hao trước đầu cách vài thân thì. trúng “tệnh” liền.


Do anh bắt bù tọt có kỹ thuật, có lý luận đàng hoàng nên bà con Xóm Thuốc nầy gọi anh thành danh là Tư Bù Tọt.


Vô gần tới đồng Chà Dơ, bù tọt nhiều vô kể, anh chụp lia lịa. Vùng này đêm hôm ít ai dám tới. Bỗng gió nổi ào ào, sấm chớp ầm ầm, trời mưa như trút, tôi lạnh cóng, lại nhớ bà con nói vùng đồng hoang này có nhiều ma, thứ “ma rốc” chết hồi đánh Tây, tôi hơi ớn xương sống.


Đồng Chà Dơ đêm mưa trông có vẻ ma quái huyền bí lắm. Mấy cây cao su bị pháo bắn bứt ngọn trông như con ma cụt đầu. Những cái gò mối đen thui, như ai xõa tóc ngồi sù sụ. Thỉnh thoảng một con đom đóm đực lóe sáng lên như ánh lửa ma trơi bay ngoằn ngoèo rồi tắt ngấm. Quờ quạng bước trong đồng nước, đạp nhằm cành cây, hòn đá cũng giật mình, không biết có phải là dẫm nhằm sọ người hay xương ống.


Nghe cái bòng cũng đã hơi nằng nặng. Tôi nói với anh Tư giọng run run:


- Thôi về! Đi xa quá, lạc hướng, pháo bắn không biết đường chạy đa anh Tư.


Như đoán được ý tôi, anh cười mũi:


- Sợ ma rồi phải không?


Tôi không thèm trả lời.


*


*           *


Sáng sớm, anh Tư lo lột da bù tọt. Tôi ra quán mua xị rượu, hai đồng mỡ nước. Anh Tư rô ti mấy con bù tọt vàng rộm chất đầy một đĩa. Anh dọn lên phản, mời má Sáu ra - má một ly, con một ly không khách sáo gì - Thứ nầy nhậu “bắt” lắm. Anh Tư đảm bảo ngon hơn ếch chiên ở nhà hàng Tây. Má Sáu đã gần bảy mươi tuổi, tóc bạc trắng mà đấu tranh chính trị còn hăng lắm. Ở đây, các má đều như vậy - không một ai cầu an. Hễ giặc vô ruồng bố má mua một xị đế để sẵn trên giường thờ.


- Có thứ nầy vô “sần sần” tao gan lắm - Bất kỳ Mỹ ngụy vô đây cướp giật, phá phách bắt vịt, bắt gà, đốt nhà, xúc lúa tao xông ra đánh đại, chửi đùa.


Thấy tôi gắp con bù tọt vàng tươi, cắn một miếng nhỏ rồi để xuống, anh cự nự:


- Con nhái nhỏ xíu, tôi chiên vàng tươi, bỏ nguyên con vô miệng nhai rụm rụm vừa miếng ăn, mới đúng “đô”([1]), mới ngon, mới đã. Cắn ra từng miếng, nhai lọt kẽ răng còn ngon lành gì nữa.


Tôi cãi lại:


- Thì cũng phải “kiệm ước” ăn nhín nhín, một con bù tọt ăn được hết chén cơm. Còn nhường cho má cho anh nhậu chớ. Ăn coi nồi, ngồi coi hướng.


Anh không nói gì, gắp nguyên con bù tọt bỏ vô miệng nhai rốp rốp, “cười ruồi” một cái thách thức, rồi nâng ly làm cái “tróc”. Chắc anh chê tôi con nhà bần tiện, dĩ hòa vi quý, cãi lẫy làm gì.


Bữa nay ăn một nửa. Còn phân nửa đem nhốt dưới hầm “tù binh” để dành khi thắt ngặt. Anh Tư có đào cái hầm sâu hóm ngoài gốc tre để dành nhốt ếch, nhái, bù tọt.


Tôi nói: “Giam kiểu đó nó nhảy mất hết”. - Anh Tư cãi: “Hầm sâu làm sao vượt ngục nổi. Tôi không thích giam kiểu này. Tôi nhớ hồi ở tù Phú Lợi cũng bị Ngô Đình Diệm nhốt dưới “hầm gai” y như vậy. Ác ôn quá!”.


Anh Tư trề môi: “Thiên sanh vật dưỡng nhơn”.


*


*           *


Bữa nào cực ăn, anh Tư Bù Tọt rủ tôi:


- Nè! Đi với tôi một chút!


“Chánh kiến” thì có khác nhau, nhưng anh em ít cãi cọ, tánh tôi khéo nhịn nên đi đâu không có rời anh Tư. Anh kêu tôi đi là để có bạn cho đỡ buồn chớ ổng thừa biết tôi chẳng làm được cái tích sự gì trong vụ bắt bù tọt này. Tôi nhào chụp mười con trật hết mười, có khi còn té rách quần, lả đầu gối.


Ra tới cái giếng sau hè, anh Tư đứng chăm chú dòm xuống. Tôi cũng nhìn chăm chú. Cái giếng tốt quá. Nước trong như mắt mèo. Tôi nghĩ:


“May mà hôm đó má Sáu làm dữ không cho tụi Mỹ ra vườn, chớ nó mà phát hiện được cái giếng, nó đánh sụp, hoặc liệng xuống vài con chó chết, heo sình thì không biết bữa nay lấy nước đâu mà dùng”.


Bỗng nghe: “Quệt! Quệt!”


Ủa! Trời nắng mà ếch kêu, lạ he!


Bỗng lại nghe dưới giếng: “Quệt! Quệt!”


Rồi thì ở trên: “Quệt! Quệt!”


Lại dưới giếng: “Quệt! Quệt!”


Tôi day lại. Té ra anh Tư đang nhại giọng con ếch cái kêu: “Quệt! Quệt!”.


Con ếch đực dưới giếng tưởng “bồ nhí” đến tìm, lên tiếng trả lời: “Quệt! Quệt!”.


Anh Tư quan sát kỹ rồi cười hề hề, nói giọng âu yếm:


- “Thấy rồi! Ở đó phải không? Được! Được! Chờ chút nghen!”. Anh mở cái túi đồ nghề treo bên hông, chọn một cái lưỡi câu vừa vừa, có cột sẵn sợi nhợ dài. Lưỡi câu lớn để dành cho loại ếch bà, cóc kẹ. Anh móc mồi vào lưỡi câu, thả xuống, nhử nhử.


Ếch ta tưởng bở, nhào ra đớp. Anh giựt mạnh: “Một trự!”


 Anh gỡ đưa tôi cầm, nhiệm vụ tôi chỉ có vậy. Thấy cũng tội nghiệp. Mình lấy tiếng nói “ái tình” gạt gẫm dụ dỗ người ta, rồi bắt người ta làm thịt nhậu.


Nhưng mà: “Thiên sanh vật dưỡng nhơn”. Tôi nhớ lời anh Tư dặn.


Anh em lại đi tìm chỗ khác.


Thường ngày, rảnh rang anh Tư hay đi quan sát, lục lọi. Ở xóm này, bờ tre, hóc suối, mội nước, lung lầy, chỗ nào có ếch nhái trú ẩn anh đều rành rẽ.


Bữa nào cực ăn, anh ngoắc tôi đi.


Không cần nhiều, kiếm năm ba con - Còn để dành bữa khác chớ.


- Kháng chiến dài dài mà! Đem về, bầm xả ớt, bỏ muối kha khá kho khô kho mặn, ăn được cơm lắm - Còn hơn là “mắm đuôi”([2])!


Ở chung với anh Tư ít khi phải ăn cực. Kiếm được con thác lác bằng bàn tay, anh cũng làm được món chả. Có trái khóm bằng cườm chân, trái ổi chín bằng nắm tay anh cũng làm được món mứt, mứt ổi, mứt khóm, bỏ vào chai “pênixilin”. Ăn cơm rồi, lấy cây tăm tre vít cho mỗi người một chút ăn “la xét”([3]) ngọt ngọt thơm thơm cho đỡ tanh miệng, vừa quý phái, vừa văn minh.


 


*


*           *


Lúc này giặc đánh dữ quá: Bom đìa, bom trộn, bom lửa, bom bi, pháo bầy, phản lực, B52 đủ kiểu - Chế ra được thứ gì nó đem xài thử ở đây hết. Cái đồ ác đức!


Mỹ nó vô ủi sơ một cái, tróc cái chợ Bến Súc - Mở trận càn Cédar Falls (bốc vỏ quả đất) nó ủi sạch khu rừng Phú Hòa Đông cạnh Mội Nước Nhỉ. Rừng cao su bạt ngàn nó rải chất độc cho rụng lá, héo khô rồi rải xăng đặc, thảy napan đốt cháy rừng rực suốt mấy tháng trường. Vùng tự do oanh kích, bom pháo đánh liên tục suốt ngày đêm, hăm bốn trên hăm bốn.


Cấp trên có lịnh điều anh Tư về R. Phải đem đi cất bớt cái vốn quý chớ. Thời chiến tranh ác liệt, nhà văn “chịu chơi” vô rừng chiến đấu đâu có mấy người, đếm được trên đầu ngón tay. Phải giữ gìn cho kỹ. Để lạng quạng ở chiến trường có ngày rụm hết như Nguyễn Thi, Hoàng Việt, Lê Anh Xuân, Hồng Tân. đó.


Anh Tư đi rồi tôi ở lại cu ky, bơ vơ cũng buồn lắm. Nhưng cách mạng đâu cần thì mình ở đó.


*


*           *


Độ nửa tháng sau giặc càn bố lớn. Pháo cấp tập, pháo bầy dọn bãi. Trực thăng ầm ầm đổ quân, xe tăng xe bọc thép ào ào tràn tới. Trận càn này có đến nửa vạn quân.


Má Sáu tu nửa xị rượu. Hơi “ba ngù” má xông ra cản đầu xe tăng, quyết ăn thua đủ với  tụi nó.


Má chỉ mặt mấy thằng Mỹ quát:


- Bà con ở đây toàn là dân làm ăn lương thiện, mấy người không được đốt nhà, cướp của bắt vịt bắt gà, bắn heo bắn chó. đồ quân ăn cướp.


Má la hét dữ dội lắm nhưng mấy thằng Mỹ nó có nghe gì, nó có hiểu gì. Chẳng thèm nói rằng gì cả, nó lừ lừ bước tới đạp má một đạp nhào lăn rồi hô to “xì xồ” mấy tiếng như ngỗng kêu. Bốn năm thằng Mỹ xốc tới nắm tay chân bà già, khiêng vụt lên trực thăng như vụt bao lúa, rồi chở thẳng về ấp chiến lược. Má không lọi tay, gãy cổ cũng là may. Cái nhà nó châm lửa đốt tiêu, cái giếng nó đánh mìn sập tuốt. Con heo nái nó bắn. Bầy heo con nó liệng xuống giếng. Sau trận càn xóm làng tiêu điều xơ xác.


Tôi bám theo du kích đào hầm, vét giếng, tu sửa địa đạo, tiếp tục chiến đấu giữ đất, giữ làng. Thỉnh thoảng bà con ở ấp chiến lược trốn về thăm làng thăm xóm. Thương nhớ lắm. Nhờ đó tôi được biết ít nhiều tin tức về má Sáu.


Từ ngày bị gom vô ấp, má buồn lắm. Má cứ khóc hoài. Nghe trực thăng cất cánh ầm ầm, má khóc nói tụi nó đi đốt nhà má, đi giết con má. Chiều tối nghe nhắc nhen kêu, má khóc, không biết tụi du kích no đói thế nào. Trời mưa nghe ễnh ương kêu uềnh oang, má nhớ thằng Tư Bù Tọt, má lại khóc.


Một buổi chiều, mưa sụt sùi, má cũng đang ngồi sụt sùi, bỗng dưng má đứng dậy chạy ra đạp hàng rào ấp chiến lược rồi đi xâm xâm ra cổng.


Ai kêu cũng không đáp. Ai hỏi cũng không thưa. Ai níu cũng không dừng.


Thằng dân vệ gác cổng dang tay cản lại, má xô nó té ngửa.


Nó vội chạy vào thưa với thằng trung sĩ Mỹ. Thằng lính Mỹ cầm cây AR15 sãi sãi đi ra. Mặt nó còn non choẹt, mép đầy lông măng, mủm mỉm như con gái. Nó vừa đi vừa cười như đang có chuyện gì vui lắm. Nó khoát tay ý biểu cứ để cho bà già đi đi. Phải rồi! Trời sanh con người có đôi chân là để tự do đi đứng - Chức năng đôi chân là để đi đây đi  đó, đi khắp nơi trên trái đất nầy. Cản trở người ta sao phải. Nó vẫn cười cười khoát khoát tay.


Má Sáu nào có để ý đến nó - Má đi thẳng ra đồng, vừa đi vừa khóc.


Thằng Mỹ đứng lại ngay cổng chậm rãi nâng cây AR15 lên, mở khóa, áp má ngắm, điều chỉnh.


Má Sáu bỗng đứng lại lựng xựng. Có lẽ má không biết phải đi hướng nào?


Thằng Mỹ cũng hạ súng xuống.


Má lại khóc và lững thững đi tới. Thằng Mỹ lại nâng súng lên, chỉnh thước ngắm.


Má đang ở cách nó độ hai trăm thước.


Bỗng má đứng dừng lại, ngó đông, ngó tây, có lẽ má đang định hướng tìm đường. Nó lại hạ súng xuống, vẫn cười.


Kìa, hình như má đang tìm ra hướng. Má chạy nhanh về phía bờ sông.


Thằng Mỹ nâng súng lên. Một loạt đạn nổ chát chúa.


Má Sáu ngã vật xuống. Không một tiếng kêu.


Bà con trong ấp chiến lược chạy túa ra - Hãi hùng.


Má nằm sấp trên đất. Máu ở cổ trào ọc ọc.


Loạt đạn bắn đứt tiện cần cổ - Cái đầu văng đâu mất. Chỉ còn cái xác nằm sấp trên bãi cỏ sũng nước. Bà con ráp khiêng vào.


Thằng Mỹ cười hô hố rất vui vẻ. Nó nói tiếng Việt lơ lớ như con nít mới bập bẹ. Đại ý: “Nó tập bắn mục tiêu di động. Nó đợi mụ già chạy nó mới nổ súng - Nó khen nó bắn giỏi quá, bắn trúng ngay cổ một loạt, bay mất cái đầu”.


“Toi bán. gioi. gioi lam.”, nó tự khen, rồi bỏ thêm viên kẹo cao su vô miệng, nó nhai nhóc nhách, quay lưng đi vô, miệng cười tươi rói, như có chuyện gì vui lắm.


Má Sáu đã chết từ lâu rồi.


Má chết vậy đó. 


Tôi và Tư Bù Tọt vẫn còn sống đây, sống mãi đến bây giờ.


Tư Bù Tọt cũng chẳng ai xa lạ. Đó là anh Tư Sâm, tức Phạm Võ, tức Văn Phụng Mỹ, tức nhà văn Trang Thế Hy - nhà văn quen thuộc của thành phố mình.


 


 Tháng 9-1992


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


 







([1]) Đúng đô (dose): đúng liều.




([2]) Mắm đuôi: muối đâm (nói lái).




([3]) Laxét: tráng miệng (dessert).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »