Hồn hỡi hồn! Hồn dong chơi nơi mây bạc
Hồn hỡi hồn! Hồn lạc phương nao?
Dương Tử Giang
Trong kháng chiến chống Pháp tôi có hai ông bạn già: ông Thiếu Sơn và ông Dương Tử Giang.
Ông Thiếu Sơn công tác báo Cứu Quốc, ông Dương Tử Giang công tác văn nghệ.
Thuở ấy tôi còn trẻ lắm, mới ngoài hai mươi tuổi. Tôi khoái ngủ với ông Thiếu Sơn. Ông Thiếu Sơn mập mạp, tròn quay, bụng bự, nằm ôm ông vừa êm vừa mát. Tôi vỗ bụng ông nói:
- Chừng nào kháng chiến thành công về ông gả con gái cho tôi nghen.
- Ừ! Nó ưng tao gả. - Ông trả lời.
- Con gái ông mập như ông không? Mập quá, nằm ngủ quên, lăn đè tôi nhẹp ruột - còn gì!
Ông cười hả hả, ông già vui tánh!
Còn ông Dương Tử Giang thì ốm và cao lêu nghêu.
Hồi ở thành mới vô (khoảng năm 1950) ông có bộ pyjama màu xanh, cái áo bành tô màu xanh, cái bòng cũng màu xanh. Sau đó, không biết ai may cho ông một bộ bà ba vải trắng, ngắn củn cởn, mặc vào như đàn bà mặc áo túi.
Ông mặc pyjama dơ thì gùi lại, nhét vô bòng, lấy bộ bà ba ra mặc. Mặc bà ba dơ thì lại gùi nhét vô bòng, lấy pyjama ra mặc thay phiên “bộ nghiêm, bộ nghỉ”, như vậy, không cần giặt. Cũng cần nói rõ lúc ấy cơ quan đóng miệt U Minh. Nước sông mặn đắng. Tắm rửa giặt giũ rồi quần áo cũng rít trịt như con cá ăn muối. Xà bông chà vô bọt quến cục. Muốn gội đầu cứ móc cục bùn vò lên rồi chà xát. Bởi vậy lâu lâu, đợi có dịp đi công tác miệt sông sâu nước chảy, ông mới tổng tắm giặt một lần. Tắm rồi cũng không cần chải tóc, ông lấy năm ngón tay cào ba cái lên đầu là kể như xong.
Ông Dương Tử Giang có cái mùng rất rộng: mùng hai nóc đàng hoàng. “Rừng U Minh có tiếng muỗi nhiều”, thường ông làm việc trong mùng, ngày cũng như đêm. Năm đó đâu có dầu lửa, cơ quan chỉ đốt đèn dầu cặn, hoặc đốt hột mù u xắt mỏng phơi khô, khói mù mịt. Ông đốt đèn ở trong mùng sáng tác nên cái mùng vải trắng của ông cũng đóng khói, đen thui, hôi rình.
Nhưng tôi thích ngủ với ông để nghe ông nói chuyện đời và coi ông sáng tác. Lúc đó ông viết tuồng hát bội. Đêm nào ông cũng vừa viết vừa ngâm nga nho nhỏ. Ông viết có nhiều đoạn hay lắm, nghe ông ngâm qua tôi đã thuộc lòng.
Như tuồng Sạt-Tông, Lơ-Pai([1]). Khi tướng Tây Sạt-Tông râu ria lông ngực kéo quân lên trấn biên giới thì phất cờ dóng trống xưng danh:
Quân đi chật núi! Chật núi!
Ngựa uống nước cạn sông! Cạn sông!
Cờ đề chữ Sạt-Tông! Sạt-Tông!
Nhắm biên cương trực chỉ.
Oai phong biết mấy! Đó là lúc ra đi. Còn khi về thì quăng súng, lột mũ, xé áo, bứt râu giống y như Tào Tháo ở Huê Dung đạo, không còn ra cái thể thống gì cả.
Nhưng hay nhứt là cái lớp Nguyễn Trung Trực ra đi chiến đấu. Gần tới giờ hành quân mà cha già bịnh nặng, thổ huyết lâm ly. Nát tâm cang vì bị giằng xé giữa chữ trung, chữ hiếu, ông vừa khóc vừa gọi hồn cha:
Hồn hỡi hồn! Hồn dong chơi nơi mây bạc!
Hồn hỡi hồn! Hồn lạc phương nao!
Cõi giới ba. gió thảm mưa sầu!.
Rừng U Minh, tứ bề lau lách, đêm nghe mưa rơi lộp độp trên lá dừa nước, thêm ếch nhái ảnh ương kêu uềnh oang ảo não, mà nghe ông vừa ngâm nga vừa thổi kèn miệng ò e thật là buồn rã ruột. Diễn tới đoạn này, bà con nhứt là các má các chị đều sa nước mắt.
Đó là nhắc chuyện ở rừng.
Năm 1954, sau Hiệp định Genève chúng tôi được phân công về Sài Gòn công tác. Ông Thiếu Sơn và ông Dương Tử Giang về trước. Tôi về đợt chót vào khoảng cuối năm.
Từ Huyện Sử tôi ngồi tàu máy về Phụng Hiệp rồi từ Phụng Hiệp tôi đi xe đò về Sài Gòn, cùng đi một chuyến với anh Sơn Nam. Trước khi lên đường đồng chí lãnh đạo có dặn: “Về Sài Gòn trước hết là lo giấy tờ hợp pháp sau đó là lo cơ sở làm ăn sinh sống cho ổn định. Còn về mặt công tác thì sẽ có người của tổ chức đến “móc ráp” sau”.
Về tới nhà, ba má tôi vẫn còn đủ, các anh chị tôi vẫn bình an, các em tôi đã trưởng thành. Sau chín năm xa cách, hôm nay gia đình tôi được đoàn tụ tương đối đông đủ, chỉ còn thiếu người anh ruột của tôi kháng chiến ở miền Bắc, chưa về được.
Ba tôi tóc bạc trắng, mẹ tôi cái lưng còng xuống khá nhiều. Hai ông bà đều có vẻ lụm cụm. Tôi về, gia đình mừng lắm.
Ba má, các chị tôi bảo tôi cứ yên tâm nghỉ ngơi năm bảy tháng để dưỡng sức, còn việc làm ăn sinh sống rồi sẽ tính sau. Nhưng tôi nóng ruột lắm, muốn sớm ổn định cuộc sống, để rồi còn lo công tác.
Tôi về được bốn ngày. Xế chiều hôm ấy tôi đang nằm trong buồng nói chuyện với ba má tôi thì đứa em út chạy vào:
- Có ai kiếm anh Năm!
Ai vậy cà? Tôi nghĩ không ra. Tôi về đây, nhà cửa địa chỉ giấu biệt có cho ai biết đâu mà kiếm. Tôi nói:
- Em ra coi có phải công an, lính kín gì không?
Con em tôi chạy ra ngắm nghía một chút rồi trở vô:
- Coi có vẻ cũng đàng hoàng mà hơi lù khù như anh Năm vậy. chắc người ở trỏng.
Cái con nhỏ! Tôi vầy mà nó nói lù khù. Tôi uống hớp nước cho tỉnh mỉnh rồi bước ra. Tôi tính nếu là công an, mật vụ tới làm khó dễ thì tôi sẽ đấu lý với nó một trận cho biết tay nhau. Hiệp định Genève ký chưa ráo mực kia mà. Cái tụi này. hay ăn ngược nói ngạo.
Tôi vừa bước ra, bỗng có tiếng kêu mừng rỡ:
- Phương Viễn!
- Anh Giang! - Chúng tôi ôm chầm lấy nhau.
- Sao biết tôi ở đây mà đến? - Tôi hỏi
- Thì hồi dưới U Minh ông chỉ cho tôi nhà ở miệt nầy. Tôi đi kiếm hai ba ngày mới gặp.
- Nhà Bàn Cờ mà ông kiếm ra cũng hay. Đúng là thổ địa.
Ông đã ngồi xuống ghế. Tôi vừa rót nước, vừa ngắm ông: ốm hơn lúc ở trong rừng, ôm cạc táp, mặc đồ tây, bành tô, cà vạt, giày da tươm tất lắm.
- Bây giờ ông làm gì? - Tôi hỏi.
- Làm báo.
- Còn Bác Thiếu? (Tôi muốn hỏi Bác Thiếu Sơn).
- Ông làm hãng sơn Hải Âu (Albatros).
- Làm ăn khá không?
- Thiếu vốn quá mới chạy kiếm ông đây. Ở rừng về chân ướt chân ráo không có đồng xu dính túi mà phải tự lực cánh sinh ra cho được tờ báo thiệt “trần thân”.
Rồi ông vào đề ngay:
- Có tiền không, đưa vài chục (ý ông nói vài chục ngàn). Làm ăn khá mình đưa lại!
- Mới về ba bốn ngày, còn ăn chực ông ba đây!
- Ông già có tiền không? Bà con quen lớn gì ai có tiền cho vay cũng được! Cho cách mạng vay mà!
Tôi suy nghĩ một chút rồi đáp:
- Để hỏi lại coi.
Tôi bước vào trong kêu con Út:
- Út à! Em biết ba má có tiền dư không?
Út gãi gãi đầu rồi nói:
- Ba hưu trí rồi. Tiền hưu trí đủ ba xài. Má thì có ky cỏm mà em không biết được nhiều ít.
Tôi bước ra sau nói nho nhỏ với ba má tôi:
- Con có người bạn thân ở trong kháng chiến, bây giờ về đây ra báo mà không có vốn, muốn hỏi nhà mình có tiền cho mượn, ít nhiều cũng được, góp gió thành bão - Báo cách mạng mà!
Ba tôi hỏi :
- Ai vậy con?
- Thưa ba, anh Dương Tử Giang!
Mắt ba tôi sáng lên:
- Dương Tử Giang hả? Được lắm! Được lắm!
Ba tôi là công nhân Ba Son, thường đọc báo và biết tiếng anh Dương Tử Giang từ trước.
Nhưng rồi ba tôi nhìn sang má tôi, ngập ngừng:
- Bà có dành dụm được ít đỉnh gì không. giúp tụi nó, tui. tui nhậu hết.
Má tôi có vẻ suy nghĩ:
- Cũng có chút ít phòng khi ốm đau bất trắc.
- Chừng bao nhiêu má? - Tôi hỏi.
- Chắc được mười mấy ngàn.
- Thôi, cho tụi con mượn năm ngàn nghen má.
Má tôi gật đầu:
- Ờ được!
Ông Dương Tử Giang cầm năm ngàn đồng, từ giã ra đi, còn dặn với lại:
- Báo sắp ra đó. Ông ráng lo viết bài.
*
* *
Độ mười ngày sau, ông trở lại:
- Báo lên khuôn rồi! Có bài vở gì chưa đây!
- Báo tên gì? - Tôi hỏi.
- Công Lý! Ngon chưa?
- Mới ở dưới rừng về, còn lạ nước lạ cái.. với lại có biết tôn chỉ mục đích của tờ báo ông sao đâu mà viết?
- Thì cứ viết y theo đường lối văn nghệ cách mạng vậy, nhưng viết kỹ đừng để lộ. tụi nầy nó dám bắt bỏ tù lắm.
- Thì ông phải gợi ý cụ thể một chút, tôi mới viết được chớ. môi trường mới. hoàn cảnh mới. mà.
- Nè thì viết đấu tranh chống áp bức, bất công, đấu tranh đòi thống nhất Tổ quốc.
Tôi vẫn ngồi làm thinh.
Ông kéo ghế sát lại:
- Hay là như vầy. Bây giờ sách báo nó viết nhảm nhí quá, tình yêu lãng mạn, đồi trụy, khiêu dâm, rồi kiếm hiệp phi thân, phi kiếm, luyện phép, luyện đan nó đầu độc con em mình. Hại mấy đứa nhỏ quá! Ông ráng suy nghĩ viết một cái truyện thiếu nhi thật lành mạnh - Có ý nghĩa đấu tranh đàng hoàng. Mình viết giáo dục con nít thì ai cũng phải hoan nghinh.
Nói đến đây ông vỗ mạnh vào vế tôi:
- Được không nè?
Tôi giật mình:
- Được
Thế là tôi bắt đầu viết cái truyện thiếu nhi đầu tiên, nhan đề là “Loạn rừng xanh”. Đó là chuyện muông thú trong rừng vì bị chúa sơn lâm tàn sát quá dã man nên cùng nhau kết đoàn bàn mưu tính kế chống lại.
Cuối cùng nhờ sức mạnh đoàn kết và mưu trí của muôn loài, thú rừng đã dùng hỏa công đốt cháy chúa sơn lâm, đuổi nó chạy sang khu rừng hoang rậm khác.
Thì cũng là chuyện ngụ ngôn hàm ý chống áp bức bất công nói xỏ xiên việc chống chế độ độc tài bán nước vậy.
Tôi viết xong đợi ổng đến lấy. Nhưng nửa tháng trôi qua, không thấy bóng dáng ông. Tôi đem “Loạn rừng xanh” đưa cho Nhà xuất bản. Nhà xuất bản nhận in ngay và đưa qua xưởng quảng cáo Sài Gòn (Publicités Saigonnaises ở đường Sai Nhô nay là Tôn Thất Thiệp) cho các họa sĩ vẽ tranh minh họa và làm bản kẽm.
Xưởng quảng cáo nầy là do các anh Trần Tấn Thanh, Dũng Tiến, Lê Ba, Đào Hữu Phước ở Phòng Hội họa Sở Thông tin Nam Bộ về mở ra.
Độ ba hôm, anh Dương Tử Giang lọ mọ tới. Quần tây, nón nỉ, bành tô, cà vạt tươm tất.
Anh hỏi tôi:
- Sao? Viết xong chưa? Đưa đây?
Tôi xuýt xoa:
- Ông tới trễ quá, tôi đưa cho nhà xuất bản rồi.
Ông tức tối, cau có:
- Người ta “com măng”([2]) ông viết rồi đem đưa chỗ khác. Làm ăn gì kỳ lạ vậy? Bây giờ bài đâu đăng báo?
Tôi biết lỗi xuống nước:
- Thì thấy ông không tới, tưởng ông không dùng.
Ông nổi quạu:
- Không dùng com măng là chi? Tôi đang lo chạy tiền chạy bạc tối mặt tối mũi. tiền thầy tiền thợ, tiền giấy, tiền in. một mình tôi xoay trở. Thôi viết mấy chữ, tôi qua nhà xuất bản lấy lại đăng báo cho kịp số nầy.
- Lỡ rồi, người ta đưa đi làm “clisê” rồi, lấy lại coi kỳ quá. Thôi để thủng thẳng tôi viết truyện khác. - Tôi năn nỉ.
- Thôi ông viết ít chữ cho nhà xuất bản đi, tôi làm sao được tôi làm. “Ón” bài quá! Bài vở gởi tới thiếu gì, mà không có bài vừa ý.
Tôi còn một hy vọng cuối cùng để rút lui, liền nói “tháo ra”.
- Chưa chắc bài của tôi ông vừa ý.
Ông liền “siết vô”:
- Thôi cứ viết mấy chữ cho nhà xuất bản đi. Vừa ý hay không kệ tôi!
Năm hôm sau ông trở lại tươi cười hớn hở đưa tôi tờ báo mới:
- Bài khá! Thiên hạ chịu lắm.
Tôi giở ra xem. “Loạn rừng xanh” in trang giữa. Trình bày sáng sủa. Chỉ có mấy cái tranh minh họa sao nhìn hoài không ra cái hình thù gì hết.
Lúc đầu tôi tưởng nhà in xếp lộn, ngược đầu. Tôi trở tới trở lui cũng không nhìn ra hình ra vẻ gì cả.
Anh hiểu ý, cười cười nói:
- Nhà xuất bản tính in sách nên làm bản kẽm in ba màu, tôi đăng báo nên chỉ chạy một màu, nó ra như vậy.
Tôi nổi sùng:
- Thì thôi đừng in hình, chớ in kiểu này ai biết là cái gì? Con voi không ra con voi, con cọp không ra con cọp, con khỉ không ra con khỉ.
- Không có hình, chữ rậm ri coi tối trang báo, mất giá trị bài viết. Với lại bây giờ. ông để ý coi họa sĩ theo trường phái lập thể, tượng trưng gì đó, họ vẽ có hơn gì cái nầy. Đố ông coi mà hiểu được họ muốn vẽ cái gì.
Tôi nửa giận mà nửa buồn cười. Cái tác phẩm đầu tay mình ra mắt đồng bào thành phố mà ổng bôi bác quá. Nhưng ông đã nói lãng sang chuyện khác.
- Nè! Lấy mấy tờ báo để tặng người quen. Còn nhuận bút để thủng thẳng.
Cái “thủng thẳng” ấy không bao giờ đến cả.
(còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
|