Đứa ngã xuống bên bờ sông Vàm Cỏ
(Câu thơ lẻ loi cuối cùng của Lê Anh Xuân)
Qua khỏi cầu Bến Lức độ bảy tám trăm thước, nhìn phía trái thấy một cánh đồng gò nổng nhấp nhô, rải rác mấy ngôi mộ đã cổ xưa, rêu phong, cỏ bám.
Sau cánh đồng ấy, nổi lên một rặng cây xanh biếc, đó là rặng dừa nước mọc viền một con rạch cong queo. Ẩn hiện sau rặng dừa xanh là mấy mái lá đơn sơ ấm cúng.
Một cây cầu ván ghập ghềnh lắc lẻo bắc ngang con rạch nhỏ. Sáng chiều, những tà áo trắng phất phơ lả lướt qua cầu. Ấy là bóng dáng những em nữ sinh hôm sớm đến trường.
Đó là xóm Cầu Sa hiền hòa.
Nơi ấy, ngày xưa, anh chị em công tác văn nghệ nội thành chúng tôi đã đóng tạm một thời gian chờ đợi đợt hai Tổng công kích Mậu Thân, tiến vào thành phố.
Thuở ấy chúng tôi chỉ có mấy người: Anh Nguyễn Văn Bổng, anh Rum Bảo Việt, anh Hoàng Hà phụ trách văn nghệ đô thị. Vài anh chị em cán bộ nội thành mới ra, nhà văn trẻ Lê Văn Thảo ở R vừa xuống và tôi, phụ trách văn nghệ nông thôn, xuống đường vào đô thị. Ngoài ra có vài anh chị bảo vệ và giao liên công khai.
Chúng tôi đóng rải rác trong nhà dân. Ở đây cách lộ Bốn chỉ độ một ngàn mét. Từ sau rặng cây xanh, nhìn ra lộ chúng tôi thấy rõ mồn một đồn bót giăng giăng, xe hàng, xe nhà binh tấp nập, xe tăng, xe thiết giáp chở lính tráng di chuyển tới lui, rậm rịt suốt ngày.
Đêm đêm, du kích và bảo vệ mò lên đường, ém đồn bót cho dân quân đắp mô ngăn lộ gần đầu cầu Bến Lức. Sáng ra xe cộ từ Sài Gòn xuống, từ lục tỉnh lên gặp những mô, những ụ, sợ mìn trái, không dám chạy qua đã đậu dồn cục hàng chuỗi dài đôi ba trăm chiếc. Mãi đến nửa trưa, xe công binh đến ủi sạch, gỡ hết mìn, đường mới thông, xe mới chạy được.
Từ trước đến nay vùng ven lộ này là vùng đất do địch hoàn toàn kiểm soát. Chúng xem đây là sân sau, nhà bếp của chúng.
Đất này là “đất quốc gia”, dân này là “dân quốc gia”. Chúng xem đây là vành đai thịt bảo vệ cho chúng. Chúng hết sức “tranh thủ trái tim khối óc của đồng bào” và hết sức tránh phóng bom, nã pháo vào vùng “đất quốc gia” của chúng.
Từ Tổng công kích, lực lượng ta tràn về chiếm lĩnh đóng chật vùng này. Quân gặp dân như cá gặp nước, dân gặp quân như hạn gặp mưa. Vùng đất mà trước đây chúng ngỡ là vành đai thịt bảo vệ cho chúng thì giờ đây bỗng hóa thành vành đai thép siết chặt lấy cổ chúng. Chúng chợt hiểu rằng ngoài những đồn bót cheo leo đóng dọc theo bờ lộ, ngoài những tên Việt gian bán nước, những tên khát máu ác ôn, ngày đêm náu mình trong hang ổ như con cú, con vọ, con sói, con lang thì kỳ dư bao nhiêu làng mạc, xóm thôn, bao nhiêu trẻ già, gái trai đều là những người Việt Nam yêu nước và sẵn sàng hy sinh vì đất nước.
Rồi trong cơn điên cuồng uất ức chúng vùng vẫy, lồng lộn, dòng máu đen của chúng đã sủi bọt đục ngầu và chiếc mặt nạ nghĩa nhân rơi xuống, lộ rõ mặt hung tàn, chúng đã tuôn bom nã pháo vào xóm, vào dân. Người chết như rạ.
Đồng bào ở đây, những làng xóm thuộc vùng ven, sát lộ, từ bao nhiêu năm đã sống trong cảnh thái bình giả tạo ngoài tầm pháo giặc, tai nghe súng nổ ngoài xa mà không hề biết đạn biết bom. Đạn pháo chưa hề ghé qua đây, máu xương chưa đổ, nên chưa ai nghĩ đến việc đào hầm đào hố. Bây giờ bỗng dưng bom tuôn vào xóm, pháo rớt vào nhà, người chết giữa bữa cơm, người chết trong giấc ngủ, nhà tan, cửa nát bi thảm vô cùng.
Để hạn chế bớt tổn thất cho dân, anh chị em chúng tôi đã lập tức ra sức cùng nhân dân đào hầm đào hố. Điều khó khăn là đất ở đây rất thấp, chỉ đào xuống mấy tấc là nước đã trào lên, phải chặt bập dừa nước làm đà, đắp những chiếc hầm nổi thô sơ, những chiếc hầm dã chiến mà người ngồi trong, ngẩng mặt có thể thấy trời.
Tổng công kích đợt hai sắp đến.
Theo dự kiến, đợt này tôi và Lê Văn Thảo tiến vào thành phố từ cửa ngõ phía Nam, cùng đi với đoàn của một đồng chí thường vụ Thành ủy.
Chúng tôi nôn nao chờ đợi.
Ở đây ngày và đêm, súng vẫn nổ. Quân địch qua cơn choáng váng đã dần dần hồi tỉnh và tập trung sức phản kích ác liệt vô cùng.
Lúc ấy, chúng tôi được tin, anh Giang Nam, anh Anh Đức, anh Đinh Quang Nhã, anh Lê Anh Xuân đã đến vùng Mỏ Vẹt (biên giới Ba Thu) và định sẽ xuống đường cùng chúng tôi tham gia đợt hai Tổng công kích.
Nhận thức tất cả những khó khăn của tình hình lúc ấy, dự kiến được những tổn thất, những thiệt hại có thể xảy ra nếu anh em liều lĩnh lao xuống chiến trường, anh Nguyễn Văn Bổng, lúc ấy chúng tôi gọi anh là anh Tám Nhàn đã điện về báo với các anh tình hình ác liệt của chiến trường và đề nghị các anh tạm thời khoan xuống.
Điện đánh đi bữa trước, trưa hôm sau chúng tôi bỗng nhận được bức thư nhỏ của Lê Anh Xuân từ trạm giao liên gởi qua, thơ chỉ vỏn vẹn mấy hàng “Em và Hồng Tân đã xuống tới, hiện đang ở trạm cuối. Xin các anh cho người qua đón tụi em”.
Các anh bàn bạc: “Kế hoạch xuống đường đã bố trí: Viễn Phương và Lê Văn Thảo sẽ đi sâu vào mũi nhọn. Tình hình hết sức nguy hiểm, nên hạn chế người đi tới mức tối thiểu để tránh những tổn thất không cần thiết. Lê Anh Xuân và Hồng Tân phải lập tức trở về R. Khi nào tình thế thuận lợi hơn, các anh sẽ điện cho biết”.
Các anh viết thư cho Lê Anh Xuân và Hồng Tân phân tích kỹ càng lợi hại và khuyên hai anh em phải tức tốc trở lại Ba Thu. Vì sự an toàn cho các em, chúng tôi không thể tiếp nhận các em về cái căn cứ tạm quá mong manh giữa bốn bề quân giặc này.
Độ hai giờ sau, cậu giao liên về tới cầm theo cái thơ của Lê Anh Xuân viết trên mảnh giấy bao thuốc ARA. Thơ viết vô cùng tha thiết đại ý nói rằng: “Chúng em đã xuống đến đây rồi, không thể nào trở về không cho được. Xin các anh cho chúng em đi một chuyến ngắn, một chuyến rất ngắn, chỉ vài ngày thôi để biết được hơi thở của chiến trường rồi chúng em sẽ trở về căn cứ. Không đi xuống vùng sâu thì không thể nào em có được tác phẩm tốt về cuộc Tổng công kích lịch sử này. Chúng em vẫn bám ở trạm đây và chờ các anh cho người qua đón”.
Tuy hết sức băn khoăn nhưng cuối cùng các anh cũng phải nhượng bộ trước cái yêu sách quyết liệt của đôi bạn trẻ.
“Tụi nó ham chiến trường quá! Thôi thì cho nó đi thử lửa một phen”.
Giao liên phải qua trạm đón các bạn về ngay vì nằm trạm đợi chờ buồn rã ruột. Hơn nữa những cái trạm đường dây miệt này đã “hôi ổ”([1]) lánh xa sớm được giờ nào hay giờ nấy.
Anh Bổng cũng thay quần áo ra cầu Sa leo lên Honda dọt về Sài Gòn. Anh hoạt động hợp pháp giữa Sài Gòn, có đầy đủ giấy tờ nên việc đi lại như mọi người dân sống công khai ở vùng này vậy.
Tối hôm ấy, khi nồi cháo vịt béo ngậy vừa chín thì anh Bổng cũng vừa về cầm theo một chai rượu Tây thứ thượng hảo hạng.
Chén chú chén anh tới khuya, cuối cùng các anh quyết định:
- Trận nầy để Lê Anh Xuân với Hồng Tân xuống đường cùng Lê Văn Thảo. Vì Lê Văn Thảo rành rẽ chiến trường. Còn Viễn Phương thì ở lại chờ chuyến khác.
Lê Anh Xuân tánh vốn cù mỳ, củ mỷ. Rượu vào không đỏ mặt, ngược lại mặt hơi tái đi một chút, cũng không hề nói lớn tiếng, luôn luôn điềm tĩnh.
Khi chai rượu đã cạn. Anh Bổng hỏi:
- Như vầy đã đủ chưa?
Lê Anh Xuân mỉm cười, đáp:
- Hình như còn thiếu một chút.
Anh Bỗng cũng cười hẹn khi về khao quân sẽ rôm rả hơn còn bây giờ mới xuất quân, hãy tàm tạm vậy.
Đêm ấy là đêm 19 tháng 5 năm 1968.
Ngày hôm sau Lê Anh Xuân, Lê Văn thảo và Hồng Tân lên đường.
Buổi tiễn đưa chỉ có những cái bắt tay nồng nàn - và những nụ cười vui vẻ. Trời vẫn còn mùa xuân, không ai nghĩ đến một áng mây đen, một cơn bão táp. Hơn nữa chuyến đi với đồng chí Phó bí thư Thành ủy, chắc rằng sẽ được bảo vệ chu đáo, an toàn. Chỉ tiễn đưa nhau với lời chúc thành công, may mắn.
Không nhiều quyến luyến vì chỉ tạm biệt mấy ngày thôi rồi sẽ gặp nhau trong buổi “khao quân” rôm rả.
Thật ra thì cũng có một thoáng buồn khi bỗng dưng vắng đi những tiếng nói cười hồn nhiên trong sáng. Nhưng rồi mọi người phải lao ngay vào cuộc chiến đấu ngày càng trở nên gay go ác liệt vô cùng.
Vùng chúng tôi trú đóng là một vạt dừa nước mong manh nằm giữa bên lộ, bên đồng. Nếu chúng cả gan, chỉ cần mười phút là bọn lính các bót nằm dọc lộ Bốn phía Nam cầu Bến Lức có thể xông thẳng vào chỗ chúng tôi nằm. Nếu cả gan, chỉ cần năm phút thôi, bọn trực thăng có thể hạ cánh ngoài bờ ruộng đổ quân sục vào tận nơi chúng tôi đang ngồi họp. Gần đây, mỗi ngày trực thăng thường đáp xuống bắt người ven xóm. Đây có thể là một thủ đoạn bọn chúng thăm dò thực lực của chúng tôi.
Ban đêm pháo bắn liên hồi. Có những hôm chúng cho máy bay quần đảo thả pháo sáng suốt đêm trên vùng chúng tôi trú đóng, làm như chúng muốn phóng một cuộc càn trực thăng vận ngay giữa đêm khuya. Chúng tôi sống những ngày đêm cực kỳ căng thẳng, không nói các đồng chí bảo vệ giao liên, anh chị em cầm bút chúng tôi cũng không một phút rời vũ khí. Chỉ một mệnh lệnh truyền ra là chúng tôi có thể xông lên quyết chiến với kẻ thù.
Hôm ấy vào khoảng sáu giờ chiều. Cơm nước đã xong xuôi từ sớm. Trong hoàng hôn chập choạng, mỗi người ngồi riêng một gốc im lìm. Hình như ở mỗi người đều có một nỗi buồn nhớ riêng tư và vào lúc màn đêm dần xuống, nỗi buồn lại trào dâng man mác.
Nhưng lý do chủ yếu khiến cho ngôi nhà bao trùm im lặng là vì, vào giờ này địch từ các hướng thường nã pháo vu vơ và mọi người đều ngồi im lắng tai để theo dõi hướng đi của pháo.
Chiều ấy tất cả đều im lặng. Bỗng có một bóng người lách qua cửa, bước vào. Con mực hực một tiếng nhưng rồi nó không sủa mà chạy theo ngoắc đuôi mừng rỡ.
- Ủa! Ai như Lê Văn Thảo? Sao về sớm vậy? Tiếng ai đó hỏi.
Thảo không trả lời mà hỏi lại:
- Anh Tám đâu rồi?
Tôi chỉ ra bệ cửa sau. Anh Tám đang ngồi im lặng nhìn ra cánh đồng xa. Lê Văn Thảo đến nói gì nho nhỏ. Chỉ nghe anh Tám Nhàn kêu “Trời ơi!”, rồi hai người dắt nhau ra bờ dừa nước. Anh Rum Bảo Việt lật đật chạy theo. Tôi nghĩ ngay đến một việc chẳng lành.
Mười lăm phút sau các anh trở vào. Anh Tám Nhàn đến kề tai tôi nói nhỏ:
- Lê Anh Xuân và Hồng Tân đã hy sinh cả rồi!
Như nghe tiếng sấm nổ rền, tôi thất thần, im lìm, đứng sững.
Chưa quá 8 giờ, đèn đuốc trong nhà tắt ngấm. Những ngọn đèn khuya sẽ gợi sự chú ý của kẻ thù. Trong bóng tối dày đặc thỉnh thoảng lóe lên một vệt sáng đèn dù. Quây quần trên bộ ngựa dưới nhà bếp, chúng tôi nghe Thảo kể lại câu chuyện đau lòng.
“Đến Phước Lợi, một ấp gần sông Vàm Cỏ, vào lúc nửa đêm, đoàn dừng lại nghỉ, định tối hôm sau lại tiếp tục lên đường. Vùng nầy đồn bót dày đặc như mắc lưới, trực thăng rình chụp suốt ngày nên đường giao liên phải hoạt động chủ yếu về đêm. Cũng những ngôi nhà dân đơn sơ nằm cạnh con rạch nhỏ lưa thưa dừa nước.
Tuy đêm rồi phải thức rất khuya nhưng trời tờ mờ đoàn đã thức dậy lo ăn cơm, cơm vắt và chuẩn bị chống càn. Ở vùng này, từ sau Tổng công kích đợt một đến nay, giặc càn như cơm bữa.
Khoảng bảy giờ rưỡi sáng, có ba phát súng nổ từ xa: báo hiệu giặc ra khỏi bót. Mười lăm phút sau có tin báo giặc hành quân về hướng ấp này. Tất cả rút ra bờ rạch.
Du kích hướng dẫn ra hầm bí mật, những chiếc hầm đào rải rác cách xa nhau dưới lán dừa nước. Hầm của Lê Anh Xuân ở rìa xa nhất. Từ giờ phút này, nếu gặp bất trắc, mỗi người sẽ tự quyết định lấy số phận mình.
Ở đây đất thấp, xắn xuống mấy lưỡi len, nước đã ứa trào, nên phải lấy cái “mái vú” ([2]) chôn xuống làm hầm. Ở chiến trường này, đào được một cái hầm bí mật thật hết sức công phu, mà có được một cái hầm cũng thật là hạnh phúc. Thảo lui cui chuẩn bị chiếc hầm bí mật của mình.
Trước tiên phải giở nắp hầm cho tan chướng khí, sau đó phải soi cho thông mấy cái lỗ hơi rồi chui thử xuống hầm đậy kín nắp lại xem có ngộp không? Nếu mọi sự đều ổn bấy giờ mới leo lên xem kỹ nắp hầm và kiểm tra cành lá ngụy trang. Mọi việc đều phải chuẩn bị hết sức chu đáo, vì lúc này một sơ suất nhỏ có thể đưa đến một tai họa khôn lường. Vì một khi đã xuống hầm rồi thì đẩy nắp trồi lên đâu phải là đơn giản. Xuống hầm rồi là ở vào thế hết sức bất lợi, ở vào thế hoàn toàn bị động và tách rời hẳn mọi liên hệ với mặt đất. Không nắm được tình hình bên trên mà đẩy nắp chui lên là một việc quá phiêu lưu, liều lĩnh.
Thảo đang tẩn mẩn xoi mấy cái lỗ hơi bỗng nghe sột soạt. Thảo nhìn lên. Qua kẽ lá một chiếc áo rằn ri thoáng hiện “Giặc!”.
Giặc đã vào!
Mặt lạnh như thần chết, chúng lùng sục, soi mói, kiếm tìm.
Thời gian trôi qua. chậm chạp, nặng nề, im lặng.
*
* *
Bốn giờ chiều.
Có lịnh báo an của du kích.
Anh em hú nhau, lục tục kéo vào xóm.
Mười lăm phút sau, mọi người vào đông đủ. Vẫn chưa thấy Lê Anh Xuân với Hồng Tân. Vô cùng lo lắng, Thảo vội vã cùng du kích chạy ra hầm tìm bạn.
Nắp hầm vẫn đậy kín. Khắp chung quanh lẩm nhẩm dấu chân thù.
Anh em vội kéo bật nắp hầm lên.
Trời ơi! Lê Anh Xuân và Hồng Tâm đã chết tự bao giờ.
Mọi người đều cúi đầu lặng im trong đêm tối.
Ước rằng đây chỉ là một giấc mơ.
Ước rằng chút nữa đây tôi sẽ giật mình tỉnh dậy. và trước mắt tôi là vầng mặt trời tháng năm rực rỡ sắc vàng. Nhưng đau đớn thay. đây là một sự thật, một sự thật hết sức phũ phàng. Trong chiến tranh, mạng sống con người nhẹ như chiếc lá.
Những gì ta nâng niu, những gì ta trân trọng, những gì ta quý mến suốt đời, chỉ một khắc, một giây tất cả tan tành trong máu lửa.
Bao nhiêu tài năng đã bị vùi dập trong bom đạn. Bao nhiêu tinh hoa đã bị chôn vùi trong bùn đất. Giặc Mỹ và chiến tranh! Chính nó là kẻ thù của loài người, của hạnh phúc.
*
* *
Đâu phải Lê Anh Xuân không biết rằng đi chiến trường là vô cùng nguy hiểm, là có thể hy sinh. Nhưng Xuân cũng biết rất rõ rằng những bài thơ hay, những bông hoa đẹp không thể nở giữa căn nhà ấm áp thơm ngát phong lan của mình ở giữa khu rừng biên giới, mà phải nở giữa những vùng xoáy của cuộc đời, nở giữa chiến trường khói lửa và có khi nở trong chính dòng máu rất nóng của trái tim mình.
*
* *
Ôi! Có một thời mỗi bản nhạc, mỗi bài thơ, mỗi áng văn đều được làm bằng máu, những dòng máu rất tinh khiết của bạn bè đồng chí chúng ta.
Thời ấy đã qua rồi, nhưng chúng ta không được quyền quên máu.
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
|