tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
29.06.2009
Viễn Phương
Cõi Tây phương (1)

Trời vừa hửng sáng. Tôi nằm trong mùng tập dưỡng sinh bác sĩ Hưởng, vừa tới động tác “con bò cào trời” thì nghe vỗ cửa rầm rầm.


Vợ tôi nằm giường bên nói vói qua: “Ông Chín tới rồi”.


Tôi lồm cồm bò dậy chạy ra mở cửa.


Tiếng cậu tôi nói vọng vào:


- “Đi uống cà phê, Hai ơi!”.


Tôi vừa vặn khóa cửa, vừa nói:


- Cậu vào ngồi chơi! Cháu đi rửa sơ cái mặt.


Tôi đi ra sau. Qua ngang giường, vợ tôi, vốn rất quan tâm đến sức khỏe của tôi cằn nhằn:


- Bữa nào ổng cũng đến rủ đi sớm quá, hết tập dưỡng sinh.


Tôi dã lã:


- Ý đừng nói vậy! Một ly cà phê sữa, một tô phở “Hòa Cựu” bổ bằng mười bữa tập.


Vợ tôi tỏ vẻ thấm ý, mỉm cười. Thật ra, bữa nào có tô phở lót dạ tôi thấy lên sức ngay, cần chi luyện tập.


Sáng sớm, khí trời mát mẻ trong lành, hai cậu cháu lai rai quốc bộ.


Tôi nói:


- Sáng nào cậu cũng dậy sớm quá.


Cậu đáp:


- Già rồi, ngủ sớm dậy sớm, bữa nào cũng đi tập dưỡng sinh ngoài Tao Đàn.


Tôi cười:


- Cậu tập chuyên cần quá! Thấy nói ngoài đó có mấy bà sồn sồn coi còn đặng đến.


Cậu tôi cũng cười:


- Ý đừng nói vậy. Mợ con bã nghe. bã “nổi thầu lậu”.


Tánh cậu Chín tôi, tôi biết. Bây giờ già rồi, cũng có đỡ. Hồi còn trẻ thiệt hết biết. Ông nói:


- Hồi đó bên Bình Thủy có đội banh nữ, bên Cái Răng có đội banh nam. Trận đá nào tao cũng tham gia, tao giữ “gôn” số dách. Mấy bã “alaxô”([1]) xuống, tao nhào lên chụp đại, đụng đâu quơ đó. Mấy bả la oải oải. vừa cười vừa bỏ chạy, “ọt gôn” sao nổi.


- Rồi trọng tài không phạt cậu sao?


- Mấy bã miễn khiếu nại, trọng tài phạt sao được? Mà thấy tao “hốt ẩu” trọng tài cũng khoái. mà mấy bã coi bộ cũng khoái.


Cậu Chín tôi lại cười hà hà.


Đó là chuyện hồi còn trẻ. Còn bây giờ cậu mợ tôi đã già lắm rồi. Bà: đúng cổ lai hy - Ông: cổ lai hy cộng, con cái đều đã thành nhơn. Sau 1975, bốn trai một gái lần lượt vượt biên ráo trọi.


Mà cũng nực cười cho các ông công an nhà mình. Làm hùm hùm hổ hổ mà đi đứa nào lọt đứa nấy. Đố có bắt được một tên làm thuốc.


Báo hại, cậu mợ tôi còn ở lại một mình, mấy cái nhà của con “lươn lẹo, luồn lách”, lớp bán, lớp cho, gom được trên 200 cây vàng. Tiền bạc xài không hết. Phần gởi qua Tây cho thằng Út đang học tiến sĩ. Còn dư, để lại vài chục “cây” xài chơi. Hai ông bà sáng sáng chiều chiều, ngồi xích lô đi dạo, thỉnh thoảng ghé lại rủ tôi đi uống cà phê, ăn hủ tiếu.


- Phở đặc biệt! Hai hột gà nghen.


Cậu tôi ra lịnh. Tôi móc miếng giấy pơluya trong túi ra lau muỗng, lau đũa hỏi:


- Mợ Chín đâu? Sao mấy bữa rày không thấy?


Thường hai ông bà đi đâu cũng có cặp như sam. Mợ Chín tôi máu ghen còn hơn bà Hoạn. Cậu tôi trước sau chịu lép một bề. Bữa nào được tự do đi một mình, cậu tôi phấn khởi như cọp sút chuồng.


Cậu nhướng mắt:


- Mấy bữa rày bã chạy đằng Ngoại vụ, Ngoại kiều gì đó. Lo cái việc sum họp gia đình.


- Có nghe nhúc nhích gì chưa cậu?


Cậu tôi chưa kịp trả lời, tôi đã cằn nhằn:


- Hai ông bà ở bên này sướng như tiên. Nước mình mình ở qua bên đó làm chi cho mệt. Cháu có đi nước ngoài rồi, cháu biết. Tuần đầu: vui vui, tuần thứ hai: bắt đầu nhớ nhà, tuần thứ ba: rầu thúi ruột.


Cậu tôi vừa húp nước “xuýt” vừa tỏ vẻ chạnh lòng:


- Ừ. Thì cậu có muốn đi đâu. Mà ngặt, mợ con thương nhớ mấy em. Rồi ông nói ngập ngừng: .Không chừng mợ Chín con đi. cậu ở lại.


Xóm tôi có mấy trường hợp như vậy. Bà đi, ông ở lại, lần hồi kiếm bà khác. Như ông bác sĩ Răng, ông kỹ sư Rọt.


Tôi cười. muốn sặc. ớt cay quá.


Tôi nghĩ: “Còn lâu mợ Chín mới để ông ở lại một mình với cô bồ nhí.”. Cái vụ này tôi giữ bí mật cho cậu tôi dữ lắm nhưng không biết nó “bật mí” từ đâu mà mợ Chín tôi cứ hỏi đon hỏi ren, cật vấn tôi hoài.


Nhưng đi, ở đâu phải là do ý muốn của mình. Nó tùy thuộc chủ yếu ở ông Nguyễn Du (là nói ông công an duyệt hồ sơ đi nước ngoài đóng ở đường Nguyễn Du). Cậu Chín tôi thì nói nó không nhúc nhích và thật lòng, cậu tôi cũng không muốn nó nhúc nhích sớm. Nó nhúc nhích thì còn gì cô “bồ nhí mi nhon”. Nhưng mà mợ Chín tôi thì vận động ráo riết quá nên đùng một cái nó không chỉ nhúc nhích mà nó chuyển động ầm ầm. Tiền với vàng cái trớn nó mạnh lắm. Hai ông bà có giấy xuất cảnh hợp pháp đàng hoàng. Mộc tròn, một vuông dấu xanh dấu đỏ đủ hết.


Kể từ bữa ấy, cậu mợ tôi bận bịu tíu tít suốt ngày. Mối bận thứ nhất: lo thanh toán đồ đạc. Cái nào bán, cái nào cho, cái nào gói đem đi. Sao bây giờ, sắp rời quê hương, đồ đạc thứ nào thấy cũng thương quá, thứ nào cầm lên cũng gợi cho ông bà bao nhiêu là kỷ niệm.


Cái tô kiểu có tranh “trúc lâm thất hiền” nầy không biết nó được làm ra từ đời Càn Long, Khang Hy gì đó, tuy cái miệng đã mẻ một miếng và đã được bịt bạc vá lại, nhưng đối với cậu Chín tôi nó thật quý giá vô cùng vì đó là cái tô uống nước trà Huế của ông ngoại tôi dùng gần suốt cuộc đời. Còn cái đồng hồ treo tường hiệu con ngựa này, tuy cái trứng dái của nó lắc nghe cọc cạch cọc cạch, vang nhà khiến người khó tánh không sao ngủ được và cứ hai ngày nó chạy trễ một tiếng, nhưng nó là món quà cưới quý nhất của ông bà cách đây trên năm mươi năm. Đến nay người bạn tặng quà, ông bác vật Hỷ đã qua đời lâu rồi, không gói đem theo sao đành dạ. Rồi tấm gương tróc thủy, tấm hình hai ông bà kề đầu trong ngày cưới được phóng to, cái nhìn của tân lang rất đỗi dịu dàng và nụ cười của tân giai nhân mới hiền dịu làm sao? Tìm đâu ra một cặp vợ chồng trẻ đẹp đôi đến thế? Tất cả cái gì sao ông bà cũng muốn đóng thùng đóng gói chở theo, mặc dù ông bà biết là giá chuyên chở máy bay đắt như cắt cổ.


Rồi còn một bận rộn lớn lao nữa là phải từ giã bạn bè, thân quyến. Tuổi đã ngoài bảy mươi rồi, ra đi biết có còn gặp lại. Mà bạn bè, cố hữu thì đông biết bao nhiêu, nhiều biết bao nhiêu, kể sao cho xiết.


Suốt trên 45 năm dạy học, thuyên chuyển từ trường này sang trường khác, từ tỉnh này sang tỉnh khác, đến đâu cũng có bạn, có bè. Lại nữa tính cậu mợ tôi chân chất hiền lương nên đồng nghiệp bạn bè ai cũng quý mến.


Cậu mợ tôi đi giã từ bè bạn suốt ngày, tiền xích lô, nếu cho tôi ăn hủ tiếu chắc vài ba năm chưa hết. Gặp bạn bè là mợ tôi khóc lê mê, đôi mắt sưng bụp. Còn cậu tôi, ngoài thời gian cùng mợ tôi đi giã từ bè bạn người thân, cậu còn tranh thủ những giờ trống để đi nói lời từ biệt với “Cô bồ nhí mi nhon”. Chắc rằng nước mắt biệt ly cũng ào ào xối xả.


Buổi ông bà ra đi, tôi đã ra tận sân bay đưa tiễn cho phải đạo cháu con. Cậu mợ tôi, hai người, hai tâm trạng. Mợ tôi thì hết ôm hôn người này khóc lại ôm hôn người kia khóc. Tuy ngoài mặt bi ai dường ấy nhưng tôi hiểu rõ mợ tôi vui như mở cờ trong bụng. Mà lý do cũng chính đáng thôi: chỉ còn mười mấy giờ nữa là bà sẽ được gặp lại những người con nhớ nhung xa cách, năm người con thương yêu, năm hòn ngọc quý và cũng là lẽ sống suốt đời bà.


Còn cậu Chín tôi, ôi! Ông cậu đáng thương của tôi! Thì ngoài mặt phải giữ vẻ bình tĩnh cho đúng trang “nam nhi chi chí” để mợ Chín tôi khỏi sinh nghi, để ông còn chớp thời cơ tranh thủ. nhưng ruột ông thật nát như tương tàu, tơ vò chín khúc. Lợi dụng lúc mợ tôi quá đỗi bi ai, ông bung vòng lớn ra ngoài, tôi đảo mắt trông theo thì thấy cô “bồ nhí mi nhon” đang ngồi sụt sùi bên quầy giải khát đằng kia.


Lòng tôi chợt thấy thương cậu tôi vô hạn, ôi! Sinh ly có phải là tử biệt? Ra đi phen này biết có còn trở lại gặp nàng? Và tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ hết sức chân thành: “Giá mà ông cậu tôi đồng ý “ủy thác” cô “bồ nhí mi nhon” lại cho tôi, thì tôi sẽ tận tâm chăm sóc nàng với tất cả tinh thần trách nhiệm”.


Nhưng tiếc thay, ông cậu tôi vẫn giữ kín miệng bình.


*


*           *


Thế rồi, hai ông bà sang Pháp.


Những bức thư đầu tiên gởi về là những bức thư dạt dào phấn khởi. Nào là tiệc đoàn tụ gia đình, nào là tiệc tái ngộ bằng hữu, rồi liên hoan đồng hương, liên hoan thi hữu. và. Tiếp theo là những cuộc du ngoạn tham quan nào Viện bảo tàng Le Louvre, nào điện Panthéon, nào tháp Eiffel nổi tiếng, nào Nhà thờ Đức Bà đã đi vào lịch sử. Sau đó là những ngày nghỉ mát ở miền Nam nước Pháp. Kèm theo thơ là những bức ảnh sang trọng của gia đình, của Pari hoa lệ.


Nói chung là cuộc sống của ông bà giờ thật “vạn sự như ý”. Chỉ có một điều ông cậu tôi chê trách là Tây tuy văn minh vậy mà khờ, không biết làm ra chiếc xe xích lô như ở Việt Nam. Chiếc xe xích lô đơn sơ mà tiện lợi vô cùng, giá lại quá rẻ. Ở Sài Gòn muốn đi đâu cứ: “Ê! Xích lô”, bước lên, ngồi êm ái mà sang trọng, cứ xì ra năm ba ngàn là đi đâu cũng tới. Còn bên Tây bước ra là Taxi, mắc như cắt cổ, đi một cuốc tốn vài ba chục, cả trăm quan là việc thường.


Xe nhà thì cũng có, có điều con cái đều bận bịu, làm ăn sinh sống đâu có thời giờ rảnh rang lái cho mình đi chơi hoài. Bên này làm ra đồng tiền cũng vất vả lắm.


Tóm lại, qua mấy tháng ở bên Tây, cậu tôi kết luận: Tây chỉ thua mình ở cái mục xích lô, còn tất cả đều ăn đứt. Sống ở cái phương Tây này thật sung sướng chẳng khác nào sống ở cõi Tây Phương.


*


*           *


Bẵng đi một dạo, sao tôi chẳng được thư từ gì của cậu mợ tôi hết. Có lẽ là tại tôi ít viết thơ qua bển. Phải biết: Bánh sáp đi bánh quy lại, có đi có lại mới toại lòng nhau. Người ta gởi thơ, gởi hình cho mình mà mình ít trả lời, có vẻ lơ là thì người ta giận, người ta cúp chớ sao? Đó là cái lẽ đương nhiên ở đời. Nhưng cậu mợ cũng phải thông cảm cho con chớ. Thơ gởi đi Tây mỗi bức năm sáu ngàn đồng. Con gởi cho cậu mợ gần chục cái rồi. Kể như đi đứt tháng lương “trợ lý”, thế mà chưa thấy có thùng nào gởi lại. Như thế thì làm sao toại lòng nhau cho được.


Nhưng dầu sao tôi cũng ráng nhịn ăn sáng một tuần, lấy tiền gởi một bức thư thăm viếng, tả cảnh sống khó khăn trong nước: vàng lên, giá cả đều lên, chỉ có lương là bình chân như vại.


Thì cũng một kiểu thả câu dầm xem có dính được cái “thùng lớn, thùng nhỏ” nào không. Nhưng rồi cũng bặt vô âm tín. Thấy hơi lạ, mà cũng lo cho sức khỏe của hai ông bà. Xuân qua, hè lại, thu tới, đông sang rồi. Bên Tây mùa này lạnh lắm liệu hai ông bà có chịu nổi hay không? Tội nghiệp cho tấm thân già, mùa đông, tứ bề tuyết giá, ngồi trong nhà nhìn qua cửa sổ hai ba lớp kiếng, thấy cây vườn trơ trụi lá, đường sá vắng tanh, chắc ông bà nhớ cái quê hương bốn mùa nắng ấm của mình lắm.


Tôi có thằng em út đang du học bên ấy. Tôi liền viết thơ cho nó, thăm hỏi tình hình. Tôi trông chờ mãi. Gần tháng sau mới được thư trả lời. Nó nói, cậu mợ lúc này có lắm chuyện buồn. Chuyện buồn bắt đầu từ cái buổi họp gia đình để bàn tính xem ai chịu trách nhiệm nuôi nấng chăm sóc mẹ yếu, cha già.


Từ ngày qua Tây đến nay cậu mợ tôi phải ở lưu động nhà này mười ngày, nhà kia nửa tháng. Mấy đứa con tranh nhau, hết đứa này đón đến đứa kia mời. Nhưng bây giờ qua cái giai đoạn tạm bợ buổi đầu rồi. Đông lại sắp sang. Cha mẹ sống với ai? Ai nuôi cha mẹ đó là điều phải phân công rành mạch tính toán cho sòng phẳng kỹ càng. Các con phải thỏa thuận nhứt trí với nhau.


Nhứt thiết phải có hội nghị gia đình.


Cậu mợ tôi có tất cả năm người con, bốn trai, một gái, tất cả đều thành nhân.


Đó là Hai Phong, Ba Tống, Tư Đằng, Năm Vương, Út Các; đặt tên theo câu chữ: Phong Tống Đằng Vương Các có nghĩa là gió thổi đưa đến gác Đằng Vương lấy điển tích Vương Bột đời Đường, 16 tuổi có tài làm thơ, một hôm đi thăm cha, vừa xuống thuyền, trời nổi trận cuồng phong, gió thổi buồm căng, thuyền chạy băng băng - đi tới sáng đến Đằng Vương Các, gặp vua mở hội thi thơ, Vương Bộ ứng thí, họa bài thơ Đằng Vương Các quá hay. Vua ban thưởng, lại cưới được vợ giàu, vang danh khắp thiên hạ. Đó là ý cậu tôi muốn con mình sau này chẳng khác gì Vương Bột.


Lúc đầu, các con tính thay phiên nhau, mỗi người nuôi cha mẹ ít tháng, nhưng tới chừng vô cụ thể thì thấy rối ren lắm. Diễn biến cuộc họp gia đình có thể ghi tóm tắt như sau:


Hai Phong (bác sĩ):


- Thưa ba mẹ, lẽ ra con là trưởng nam, con phải lo phụng dưỡng mẹ cha cho tròn chữ hiếu. Nhưng ba mẹ đã biết, con qua bên này từ ngày Sài Gòn thất thủ, con có vợ đầm. Mà vợ đầm thì nó có biết tam tùng tứ đức, công dung ngôn hạnh, tam cang ngũ thường gì đâu. Ăn cơm rồi nó còn sanh nạnh con rửa chén. Làm sao nó phụng dưỡng mẹ cha chu đáo cho được.


Cậu tôi: - Trời đất! Con đầm già đó mà mày nói chuyện phụng dưỡng mẹ cha. Tao thấy nó chỉ ham gây lộn với mầy thôi. Nó lớn hơn mầy mấy tuổi Phong?


Hai Phong: - Dạ thưa có 8 tuổi.


Cậu tôi: - Bộ trên trái đất này hết vợ rồi sao Phong?


Hai Phong: - Dạ thưa ba nó nhiều tiền lắm.


Cậu tôi: - Mầy ham tiền thì mầy ở với nó, tao với mẹ mầy không có về ở với nó được đâu!


Hai Phong: (thở ra nhẹ nhõm) - Dạ cái đó tùy ba mẹ!


Ba Tống (kỹ sư) tiếp lời: - Thôi! Ba mẹ về ở với tụi con.


Mợ tôi: (mát ruột) - Ờ! Má thấy vợ thằng Ba nó biết kính trên nhường dưới, chìu chồng nuôi con. Thôi để ba mẹ về ở với thằng Ba.


Ba Tống: - Nhưng mà con cũng xin thưa thiệt với ba má nếu mọi thủ tục hoàn thành sớm, nếu không có gì trục trặc lớn lao, độ cuối tháng sau, gia đình con đi Mỹ.


Mợ Chín tôi bỗng bù lu bù loa:


- Trời đất ơi! Ba mẹ nhớ thương tụi bây, chạy chọt sáu bảy năm trường. Bây giờ con tính bỏ ba mẹ, con đi là lý làm sao vậy con?


Ba Tống trả lời tỉnh rụi:


- Có lý lẽ gì đâu mẹ. Lúa thóc đâu bồ câu đến đó. Việt Nam là quê hương, con còn từ dứt, còn cái xứ Gaulois nầy đối với con nó có là cái gì mà con nắm níu? Ở bên Mỹ dễ làm ăn lắm. Con có điều tra kỹ rồi. Cái nghề kỹ sư xây dựng của con qua bên đó mua đất cất nhà, gạ gẫm bán cho tụi da đen, chẳng mấy chốc mà làm giàu. Còn ở xứ nầy có còng lưng làm việc đến chết cũng chưa chắc dư được một triệu franc. Thôi! Bắt đầu ngày mai, ba mẹ về ở với con ít bữa.


Hai Phong vốn là người kỹ lưỡng, căn cơ vội góp ý:


- Thì đó cũng là kế tạm. mình nên bàn cái chuyện dài lâu. Chớ ít bữa mày đi Mỹ yên phận mầy rồi, ở nhà phải họp hành bàn bạc nữa lộn xộn lắm.


Cậu mợ tôi chán nản làm thinh.


Hai Phong hỏi:


- Còn thằng Đằng sao mậy?


Tư Đằng tướng bệ vệ, có râu bao hàm chậm rãi nói:


-          Làm con mà ai không thương cha mẹ. Không thương cha mẹ thì có là loài cầm thú. Tư Đằng mở đầu nghe đạo lý quá.


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.







([1]) A l’assuat: tấn công.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »