tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
19.07.2009
Phan Cung Việt
Xóm mổ (1)

1. Phòng mổ chó


Người đàn bà nói, giọng buồn buồn: “Anh viết cái gì khác lạ cho vui lên một chút chứ. Sao cứ viết về cái phòng mổ chó này mãi vậy”. Nhưng hắn, người viết văn mà phần lớn thời gian hắn tá túc ở đây, thì biết mình chưa thể làm khác được…


Phòng mổ chó, ba tiếng ấy tận cùng của sự thô sơ, nhưng người ta không biết rằng nó là cái tế bào trung tâm nhất của y học từ xưa đến nay. Nếu không có nó thì không có bất cứ một thành tựu y học nào. Mổ chó rồi mới đến mổ người. Mọi cố gắng để cứu sống con người đều được bắt đầu nghiên cứu từ chó. Bài học nhập môn của nhà phẫu thuật là mổ chó. Cũng gây tê, gây mê. Cũng dẫn lưu. Cũng hồi sức. Từ cấp cứu chấn thương cầm máu, buộc garô, tiêm trợ tim… đến các đề tài hiện đại ghép gan, thay thận, ghép tim đều làm từ chó trước. Có thành công ở chó mới thành công ở người. Rõ ràng là con chó đã nêu một nghĩa cử cao nhất mà cuộc sống mà nhiều người không biết. Con chó đã làm vật hy sinh để “cứu” con người… Hắn suy nghĩ mông lung, ý nghĩ nhập vào một lãnh đạo cao quý về y học… và tự cười, cái vùng vừa nghĩ tới có tầm vĩ mô, đầy tính nhân đạo và nhân văn. Cách nghĩ của một người cầm bút, mổ xẻ số phận con người.


Già nửa đời người vẫn chưa yên ấm. Hắn tá túc với người vợ là bác sĩ phẫu thuật thực hành, làm ở phòng mổ chó này đã khá lâu.


Nếu kể cuộc sống như một giáo đường thì ngành y như là hộp nhà đầy rêu phía trong cùng. Trong giáo đường nhỏ rêu phong này thì khoa phẫu thuật lại ở góc trong cùng, nơi có đầy những bàn mổ cũ mới đủ loại, những bóng đèn xanh đỏ đủ loại. Phòng mổ chó lại đặt ở nơi khuất nhất của góc này, thường xếp với nhà để xác.


Nhưng dù khuất vắng hiu hắt đến đâu thì ở trong nó vẫn có cả thế giới thu nhỏ đã tả trong nhiều truyện vẫn chưa thấm thoát gì. Gió hoang dại quanh năm gào hú quanh khu nhà mổ. Những lối lên bằng xi măng, cốt dành cho những chiếc xe đẩy, nhiều quãng đầy rêu. Mấy bể nước khổng lồ trước để trần nay đổ nắp bằng xi măng, gợi cảnh mồ huyệt từ cổ xưa. Nghe đâu có những chú cá sống lưu cữu trong đó. Đáng nói là cuộc sống ngay kề nó, áp sát vào nó. Mấy ao rau muống xanh quanh năm. Dân địa phương trồng rau, bẫy chim. Mùa hạ có con tu hú kêu khàn từ một rặng cây xa. Mùa mưa thì lại nhiều tiếng ếch cất dàn đồng ca rất trẻ trung. Tóm lại là sự sống đích thực có nét hoang dã. Sự hiu hắt cô quạnh thường được đền bù như vậy.


Trong nó có đủ loại phòng và phải nói nó có nhiều phòng hơn bất cứ một hộp nhà nào. Ngoài cùng hướng Nam là mấy phòng ngăn nắp như các lớp học có treo biển hẳn hoi. Hướng Tây cũng có mấy phòng nhỏ để trống. Giữa là hành lang dài rộng như là một bệnh viện lớn, với mấy đèn đỏ áp lên trần, sáng kín đáo. Cái ruột của nó mới chính là phòng phẫu thuật thực hành, như hội trường, mấy bể nước, rãnh thoát nước ở giữa, bàn mổ trắng cao lêu đêu, đèn mổ phát vuông theo từng cặp như đôi mắt bác sĩ mổ nhìn xuống. Hướng Đông cũng có một phòng lớn, như là cái kho, xếp đầy cũi chó, đủ loại. Chuột cũng “tá túc” ở đây.


Hắn thích nhất các phòng đặt cũi chó nửa sáng nửa tối này, bởi vì đây là nơi có sự yên tĩnh đến tận cùng. Có cái cũi chó, có thể nói đã được đặt yên tĩnh hàng trăm năm. Giữa cuộc sống ồn ã, xô lấn mọi nơi mọi lúc này, phòng đặt cũi chó này như là cái gác yên tĩnh duy nhất còn sót lại. Vậy thì đó chính là nơi cuộc sống dành riêng cho hắn. Hắn nhẩm tính: Kể từ ngày “khai sinh lập quốc” ngành y của nước này, khi có những ông đốc tờ Tây đầu tiên tìm đến, chính từ đây, từ cái phòng nửa sáng nửa tối này, đã có đến con số trăm nghìn vạn bác sĩ phẫu thuật đi qua đây. Và hàng triệu chú chó từ đây hiến dâng cao cả cho sự sống của con người. Thật xúc cảm.


Hắn thường tìm sự yên tĩnh tận cùng, cũng ở đây. Đặt tạm tấm ván hoặc tấm foócmica lên cái mũi chó cỡ vừa, vậy là thành hai cái bàn viết. Phòng hẹp ẩm mốc và có cái mùi khắm lạ lùng này cũng chia làm hai. Nửa bên trong, cũi chó đủ loại chất cao đến trần nhà. Cái nan vuông, cái nan tròn, cái nắp trên, cái nắp dưới. Có cái nghe đâu từ Pháp đưa sang. Thật lạ, người ta vất đủ thứ, nhưng lại không muốn vất cái cũi chó đi. Thế hệ bác sĩ này đến thế hệ bác sĩ khác, giáo sư lứa này đến giáo sư lứa khác, thực tập xong, cũi chó nằm lại. Năm mười năm, hai mươi năm. Hắn lơ đễnh nhìn lên mấy tầng cũi chó chất cao, ngẫm nghĩ cái chiều mặt đích thực nhất của thời gian. Hắn đưa tay phác lên trước mặt, như giáo sư giảng bài trước bàn phẫu thuật, trước khi đặt bút lên trang giấy viết những dòng văn và hắn viết.


Từ những năm kháng chiến đầu tiên thì không biết, chứ lứa sau thì lâu nhất phải kể đến chị Hạnh. Chị làm ở đây từ tuổi 18. Nhiều năm chỉ có chị trực, nên chị sợ nhất cái vắng lặng ở đây. Mỗi cái sợ, vận vào một trắc trở trong cuộc đời. Thí dụ như khi người chồng trước của chị bị chết đuối, thì chị sợ nhất là mấy cái bể nước, rồi sợ tiếng gió hoang gào hú quanh phòng, tiếng chuột chạy loạn xạ. Vậy mà cả đời chị đã gắn với cái phòng mổ chó này thật là trọn vẹn.


 Sau chị Hạnh là đến thằng Huỳnh, nghe đâu từ trong Nghệ trôi dạt đến đây, nhưng làm ít lâu thấy sợ rồi biến luôn.


Hai buồng phía Tây vốn để không vì còn phải dành khi thêm bàn mổ cho sinh viên. Vả lại chị Hạnh không muốn đặt gì ở đó, mấy lần nghĩ lại chị bị bóng đè ghê gớm lắm. Cô Ngà vào loại có bằng cấp trình độ, nghe đâu nhỡ nhàng giữa y sĩ và bác sĩ, từ đâu đến làm việc ở trường, bộ môn phôi người. Đặc điểm là khéo có tiếng, cũng trở mặt có tiếng. Ban đầu tình cảm chị em, tán tỉnh mượn tạm cho bộ môn mình, dần dà chiếm luôn. Cô bỏ chồng, mắt ve, luôn cười ngậm miệng, có một con trai. Ả có biệt tài cưa đàn ông. Bây giờ lối ấy đặt mấy cái tủ chắn lối vào. Vậy là phòng mổ chó mất đứt hai phòng phía Tây. Nhìn về lối ấy, cảm thấy nghẽn tắc một cái gì đấy, buồn.


Bây giờ phòng mổ có thêm cán bộ là thằng Lức. Gã đàn ông ma lanh và ốm yếu, ngoài ba mươi tuổi, một con. Trước Lức phiêu bạt tận đâu, phòng mổ đã xin nó về và cưu mang nó. Về phòng mổ, nó chỉ xăng xái được mấy ngày, khi đã lọt được vào biên chế rồi thì bất kể gì nữa. Nhanh như chuột, hay ốm vặt. Nó khạc nhổ khắp phòng mổ chó, tàn thuốc và bã chè cũng vất khắp nơi. Các giáo sư, bác sĩ dạy mổ không còn biết đường nào mà nhắc nhở. Đặc điểm thứ hai của thằng Lức là sự vơ vét, từ mấy bàn ghế gỗ đến chổi cùn, rẻ rách, tưởng như rỗng cả cái phòng mổ chó này. Cái xe đạp của nó khi về nhà hướng Hà Tây bao giờ cũng chất đầy thứ này thứ kia, nặng đến vài chục ký. Chỉ có mấy cái cũi chó là thằng Lức chưa “bày” ra cách lấy làm của riêng, đưa về nhà.


Có hai việc vừa xảy ra, một việc thì chính người viết ất ơ như hắn bực lắm, còn cô vợ bác sĩ của hắn thì giận đến tím mặt. Đó là mấy cái bể nước, niềm vui hiếm hoi của hắn ngồi viết, hơi nước tỏa ra mát rượi. Các giáo sư quyết định làm nắp đậy cho sạch. Đáng lẽ làm bằng kẽm trắng, nhẹ, thì thằng Lức lựa khi cả bộ môn đi vắng, rủ ngay mấy thợ vôi vữa đổ xi măng, tiền thừa dùng đánh chén rượu với thịt chó. Việc thứ hai vừa mới xảy ra. Trước đó cái cửa đẩy phía Đông, mình nó độc quyền để thui chó, mổ chó xả thịt. Giờ cô Ngà chiếm mất cửa phía Tây, mọi người mà trước hết là chị Hạnh và mấy người đàn bà phải đi qua đấy… Vậy là lần thui chó nào nó cũng để máu chó vương vãi, bẩn thỉu. Máu chó đỏ bầm vón thành cục ngay lối ra vào. Chị Hạnh yếu bóng vía chắc là sợ, người khác thì ngại đi qua. Nó cũng chiếm luôn cái cửa phía Đông, mình nó đi lại.


Nhân tình thế thái trong cái nơi khuất vắng nhất này, kể cũng đáng viết ra, đáng phanh phui từng thân phận lắm chứ. Hắn cầm bút ngẫm nghĩ, vừa muốn viết ngay những trang truyện, vừa động lòng trắc ẩn, không muốn viết. Ai ở đâu, Chí Phèo ở đâu, chứ cái thằng Lức, cô Ngà ở góc khuất này, dù có nét giống nhau là sự đểu cáng, lừa lọc, chẳng tình nghĩa trước sau, nhưng xét cho cùng vẫn là loại người đáng thương hại. Hơn nữa hắn là thằng nhà văn tá túc, chỉ kê nhờ trên cái cũi chó để viết. Thế thôi. Buồn làm gì. Nhưng với thời gian, hắn thấy cô vợ bác sĩ của hắn có nét đượm buồn rất khó tả. Cô ta ít nói, chỉ sau mỗi phiên trực, tối về kể cho hắn nghe chuyện vu vơ, những con chó. Kể ngay bên mấy cái cũi chó. Mỗi ngày một chuyện về mỗi con chó đen, trắng, vàng, cụ thể ở cũi này cũi nọ. Thực ra cô không có chủ tâm gì như mấy anh viết lách thích mổ xẻ tâm lý nhân vật. Cũng chẳng phải yêu mến quí trọng gì cái anh chồng “kém phận” lủi thủi viết lách. Đàn ông mà như thế thì chẳng đáng gì mà phụng sự cái nghiệp “vinh quang cay đắng” kia. Cuối ngày cô chưa vội cởi cái áo blu trắng, giữa mùi cồn và những thứ mùi gì mà chỉ có phòng mổ chó mới có, cô đứng bên hắn, một tay vịn vào cái cũi chó nơi hắn đặt tạm cái ván làm bàn viết, cứ kể về từng con chó trên bàn mổ như lúc giảng bài… Đúng rồi, cuộc đời có những chuyện như là khởi nguồn của bệnh lý, chẳng có một ý tưởng gì sáng sủa cả. Có chăng, chỉ nghiêng về phía những nỗi u ẩn, những stress nhỏ xíu, như nỗi buồn lâu nay của cô. Hắn suy tưởng: chắc nỗi buồn về những con người sống quanh mình, chắc trong cô lâu nay muốn vượt lên tư duy ngành y của mình, lách vào cõi nhân văn, như hắn so sánh cái này với cái kia, là sự chợt tỉnh, chợt phát hiện về những gì kỳ lạ ở con chó. Con chó lên bàn mổ không chịu mê khi nhìn thấy người chăn nuôi mình đứng cạnh. Con chó vẫy đuôi mãi, mổ xong khi nhìn thấy người cho nó ăn bữa sáng, rồi tru lên rồi gục xuống chết. Cô muốn nói một điều gì đó so sánh hệ trọng lắm mà cái nghề phẫu thuật của cô không diễn tả nổi. Cái dao mổ dù sắc đến mấy cũng không thay được cây bút viết hay cô nhờ hắn, người viết văn, mổ xẻ thật sâu về nhân tình thế thái, về cái thu nhỏ trong cái phòng mổ chó này.


Người đàn bà làm nghề y, vốn làm cái việc cao cả là cứu người, nên không nỡ xúc phạm con người, và trong thâm tâm cũng không muốn nói quá cái tầm hiểu biết về con người vốn không phải là sở trường của ngành mình. Nhưng hắn, cái nghề cầm cây bút viết như một con dao mổ xẻ thì hiểu thấu cái điều thị muốn nói, cái nỗi u ẩn lâu nay trong lòng vợ hắn. Nói thẳng ra là: “Sao những con chó lại tình cảm thủy chung đến vậy, mà con người càng về sau càng lắm gian manh, lừa lọc, không xứng làm người?”. Những câu hỏi u ẩn ấy lâu ngày không được giải tỏa thì ắt sinh ra nỗi buồn. Hắn hiểu nỗi buồn lâu nay là khởi phát một bệnh lý trong tâm hồn và con người vợ hắn. Nỗi buồn dạng ấy khó chữa mà cũng khó viết ra thành văn, hắn bèn thắp cây hương đặt lên cũi chó. Và từ đó hắn luôn làm như vậy, trước khi đặt bút viết…


 


2. Tiếng chó tru


Chị Hạnh cứ nghĩ rằng ngôi nhà này có ma. Nhất là nó ở khu bệnh viện, khu phẫu thuật, với những dao kéo. Nhuần bảo: “Em hiểu chị ấy”. Chị vào nghề thuốc, cái nghề dao kéo này từ hồi mới còn là cô gái Hà thành thanh tao, hàng ngày nhìn sang một tòa soạn báo đầy những phóng viên trẻ nhanh nhảu, liếc mắt sang nhà chị loang loáng. Nay đã bà nội ngoại, gần hưu. Chị hiểu khu phẫu thuật này hơn ai hết, hơn cả giáo sư phẫu thuật ở khắp các bệnh viện. Tính ra có đến hàng nghìn ít ra là đội ngũ hàng trăm bác sĩ phẫu thuật từ đây tỏa đến khắp các vùng quê.


Hắn bảo: “Đây là phần cuối cuộc đời”. Nó thường ở khuất đằng sau các khu bệnh viện, trường thuốc. Một sự tĩnh lặng lạ lùng, không ở đâu có. Chùa chiền, giáo đường vậy mà còn chất dương, ngay các bãi tha ma cũng vậy, vì cái dương đụng vào. Đây là siêu âm. Ai thích tìm một sự tĩnh lặng thật lạ lùng thì hãy đến đây, nhất là các nhà tu hành. Tĩnh mịch đến từng lá cây, ngọn cỏ, tường rêu xanh rất lạ. Các lối nhỏ xả nước xung quanh như những con sông lấp lâu năm thu nhỏ lại. Bậc lên nhà rộng như đường cấp phối, thoải dốc, xi măng rắn, như lối dẫn vào nhà xác.


Cây xanh đến dại đi. Thật khác với tốc độ cướp giật và ma mãnh ở ngoài đời. Gió từ khắp hướng tràn vào khu đất rộng và khuất, thỉnh thoảng giật khắp các cửa. Ai mới đến thì giật mình, đến vã mồ hôi. Lâu thì quen, biết đó là ngọn gió hoang của trời đất. Trái lại, tôi có cảm giác cái dài rộng, vừa có một cô gái đẹp chết đuối được vớt lên, không ai dám đặt chân đến.


Chị Hạnh thấy có ma là phải. Suốt một đời chị ở đây, một mình trong mấy gian nhà rộng, các bác sĩ phẫu thuật ít khi có mặt. Bàn mổ thực hành xếp từng dãy, bằng gỗ hoặc bằng sắt, dây lòng thòng bốn phía, để buộc tứ chi khi mổ. Mấy cái cũi sắt kinh niên để nhốt chó, dây thòng lọng luồn qua cái gậy sắt để bắt chó, dựng góc nhà, hệt như các vùng quê. Nhưng đáng nói nhất là mấy bể nước khổng lồ, có đến mấy chục khối nước. Tính ra có đến năm cái bể, ba cái bể to ở giữa, hai bên là hai bể nhỏ hệt như hai cái huyệt sâu hoắm. Chiều dài vừa khổ người, để ngâm tử thi. Khu giải phẫu là vậy. Thường là nước dung dịch phoóc môn. Đây chỉ là nước trong. Ai đó đã thả vào chú cá, như chú bống trong truyện cổ tích, thỉnh thoảng phốc lên búng nước hệt như ở xứ sở ao hồ nào vậy. Ao hồ ở trong nhà phẫu thuật.


Cô gái xinh đẹp là vợ của một họa sĩ có tiếng chuyên ở đây để vẽ giải phẫu, đột nhiên hỏi: “Em tắm nước này có sao không hả chị?”. Người chị bảo: “Không sao cả. Tao và chị Hạnh vẫn thường tắm”.


Hắn hiểu chị Hạnh. Các buổi trưa vắng lặng, các buổi chiều chớp bể mưa nguồn. Chị thấy ở dưới bể nước, trong các góc nhà, nơi các bàn mổ kia, có bóng ma thì cũng là phải, chẳng ai gặng hỏi chị. Những chú chuột béo đẫy, đen trùi trũi, chạy lao đầu thẳng vào các chân tường, các cánh cửa. Bóng cây tứ phía lay qua cửa kính, khúc xạ xuống bể nước sâu, hắt lên muôn hình thù quái gở. Hắn hiểu chị Hạnh. Nói không ngoa, chị cũng là tấm gương sống bình dị. Nghị lực sống của một người con gái thanh tao. Chồng chị chết đuối, ngay giữa tuổi thanh xuân của chị. Những người có chồng chết đuối mà nhìn thấy sông biển, lại ở cạnh những bể nước sâu ngăn ngắt như vậy, thì hay sinh hoảng sợ cũng là phải.


Theo chị Hạnh kiểm nghiệm, thì ma ở đây có mấy loại. Đang ngủ, đến lay bàn ghế, đung đưa như võng. Ma này thường hiện vào buổi trưa. Ngủ lại buổi tối thì sẽ có ma vào bắt tay, cầm lấy bàn tay mình hẳn hoi, tỉnh hẳn rồi, vẫn có như vậy, còn bình thường thì bị cả đàn chó dại đuổi cắn.


Hắn nói gan: “Để anh ngủ lại xem sao?”. Đêm đầu thì mất ngủ, vã mồ hôi hột vì sợ. Đêm thứ hai thì thấy cái bàn nằm có sự đu đưa như võng. Đêm thứ ba thì bàn tay bị giật giật, tỉnh dậy thì chẳng thấy gì cả.


Những lúc khuya khoắt như vậy, tôi thường lấy gương thằng Huỳnh. Năm ngoái, thằng Huỳnh vẫn ngủ tít trong góc tối, chỗ bể nước sâu ngăn cách ấy. Nó ngủ trên bàn mổ, ngáy khò khò. Muỗi cắn đầy người, cũng mặc. Vậy thằng Huỳnh là ai?


(còn tiếp)Nguồn: Rút từ Biển trinh nguyên, tập Truyện ngắn chọn lọc của Phan Cung Việt. Triệu Xuân tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »