Khi chúng tôi chuyển lên cái gọi là nhà, về sau có tên gọi là “chuồng chim”, thì thấy trên sàn gỗ lim ẩm có dăm tấm lưới sắt lùng nhùng và phía dưới là dăm cái đầu lâu người. Lưới sắt thì đen thui, đầu lâu thì có cái còn nhe răng trắng, có cái sứt hết răng, chỉ còn hộp sọ nhỏ thó. Tôi bảo: “Sọ khỉ”. Chị tôi bảo: “Sọ người”. Đây trước là cái kho lưu cữu của một bệnh viện tư, về sau thành khu nhà tập thể của các bác sĩ dạy trường Y. Ở trên cái tầng nhà quái dị sát mái ngói này, có hai chị có tính liều: chị Phương, tức chị tôi, và chị Hảo.
Tôi lục chồng sách y dày và nặng chình chịch của chị, xem đủ các loại bệnh, chỉ vì tò mò, chưa biết sợ, cũng chẳng hám mấy cái hình giải phẫu về đàn bà. Các tên bệnh được ghi bằng chữ la tinh, rất đẹp. Nhớ nhất là các trang về một bệnh nan y: ung thư. Tên bệnh là căngxe. Mãi về sau học lõm bõm lớp tiếng Pháp ở Hội Nhà báo, tôi mới đọc đúng được từ bệnh ấy. Chị tôi nhìn, chỉ cười. Làm sao tôi hiểu được những trang sách “chết người” ấy. Ung thư, dịch nghĩa mọi thứ tiếng là chết. Đó là từ của âm phủ, của thần lưỡi hái. Cảm thấy trong đôi mắt của chị Phương nhìn tôi lúc ấy có ánh lên một ý nghĩ: thật ngông cuồng và dại dột. Mới chào đời làm báo, viết văn, không đọc gì, làm gì, lại đi học giáo trình y, lại đọc sâu vào ung thư.
Thú thực, tôi cảm nhận được đó là những trang sách của âm phủ, màu đen. Đọc để mà đọc, chẳng hiểu gì. Nhân loại đã tốn bao nhiêu núi giấy về sự vô bổ, hoàn toàn cho sự vô bổ. Cho ung thư thì không vô bổ, nhưng gần như là cho một sự tuyệt vọng, sau này có cái siđa (HIV) đỡ đi, nhưng nói đến hai tiếng ung thư thì vẫn gây lên một sự ớn lạnh hơn cả. Sự ớn lạnh nghiêm chỉnh, gần gũi, không tào lao như HIV, không hề có sự thử nghiệm và đùa cợt, không có sự trình bày như với cơ chế và tổ chức. Nó đơn độc, vô cảm, lạnh lùng. Nó cũng là sự công bằng. Tôi đọc nó, không dám lãng mạn hoặc đùa cợt. Nó như một gương mặt “gin” của tử thần, không hề trá hình này nọ. Không hề xun xoe hoặc làm ra vẻ này nọ. Khác hẳn tư duy và gương mặt người đời. Tôi chỉ hiểu một tí về tế bào, về tác nhân ung thư.
Hàng ngày, từ “chuồng chim” nhà chị gái, tôi xuống đi làm và cả lượt đi về đều gặp anh Tiến. Anh Tiến quê Nghệ, bộ đội chuyển ngành về làm báo với tôi một lần. Mái tóc mềm và yếu, như thửa mạ gặp hạn hoặc úng, trên một gương mặt hiền hiền, dễ mến, hàm răng ám khói thuốc, đôi mắt nhấp nháy lộ vẻ thông minh. Nhưng đặc điểm lớn nhất của anh Tiến, theo tôi, là cái áo bộ đội sĩ quan, sờn và bạc, trông quá khổ, gấu áo phía dưới tua ra như bàn chải. Buổi đầu tay bắt mặt mừng, sau vơi dần, chỉ giơ một tay chào; và sau cùng chỉ lướt qua, vẻ hấp tấp bối rối. Có lần buộc phải dừng lại, đầu buổi làm sáng, anh nói lắp bắp, qua hàm răng ám khói: “Nộp bài, nộp bài” tức là nộp bài cho cấp trên. Buổi chiều, bó rau muống đèo phía sau xe đạp, anh Tiến đạp càng vội. Ách lại hỏi, chỉ nói: “Nấu, nấu” tức là vội về nấu cơm cho vợ đi làm về ăn. Một người đàn ông thật đáng thương.
Trong cơ quan, theo tôi, người có tình cảm nhất là anh Tiến, kể anh cũng có nét hợp với tôi hơn cả. Anh đi bộ đội từ nhỏ. Hẳn chết chóc, bom đạn, hay một thứ kỷ cương nào đó đã làm cho anh hay sợ sệt, thiếu cái mà đàn bà thường nói là “thiếu chất đàn ông”. Hình như bố anh là một cụ giáo Nghệ. Mẹ làm ruộng, dệt thuê, nuôi đàn con ăn học. Cảnh ấy thì tôi rõ, rất dễ yếu cả bóng lẫn vía. Anh học sáng, chữ tốt. Hình như không có gan đánh nhau, anh làm tuyên huấn, đi dạy, sau quản lý mấy cô văn công nghiệp dư. Ngay ở đây, anh cũng yếu, bị đàn bà ám. Anh kể vui: “Đi biểu diễn ở đâu, tớ cũng phải đội cả một chồng chậu thau. Các cô hát múa ra vẻ quí phái, hay rửa ráy. Bỏ lại chậu thau của em nào cũng thương, cũng sợ các em giận, bỏ vai diễn thì chết với cấp trên”. Chuyện lấy vợ của anh Tiến: Trẻ, bộ đội được giá, lại có chữ, anh lấy một em ở phố Hàng Đào. Cô này có duyên và đôi mắt lé khác người. Cưới ở đơn vị, ở với nhau trên một ngọn đồi, những mấy ngày liền. Anh Tiến bị hành hạ yêu đương, mới hiểu đàn bà là thế nào, đàn bà Hàng Đào là thế nào. Anh sợ. Có thể, cùng với bom đạn, kỷ cương, cơ chế, nét sợ, nét mất vía đàn ông của anh bắt đầu từ đấy. Đàn ông mà sợ, thường là da vàng, mắt vàng. Tôi nhận ra ở anh Tiến điều đó.
Trời ơi, sau này có thể chúng ta có đủ thứ. Ai cũng có chức tước, có nhà lầu, xe hơi nhưng đừng ai quên những ngày ấy. Cái thời ấy, điều gì cũng đáng sợ, cũng đẹp, cũng đáng yêu, ai cũng làm quan, cũng làm giám sát, cũng dễ làm thủ trưởng. Nhưng gương mặt nào, góc phố nào, cũng có nét dễ thương. Anh Tiến thều thào: “Xuống nhà tớ chơi” nhưng đâu phải là nhà. Sau dịp cưới nhau ở đồi, anh Tiến về ở với vợ làm y tá ở khu tập thể bệnh viện. Mấy cô trước ở chung căn phòng cấp bốn, sau cứ tách dần ra, ngăn dần ra. Anh Tiến ở hộp trong cùng, ngăn bằng giấy báo. Đủ thứ tin tức, sự kiện, tranh ảnh dán lại thành bức tường. Nền nhà xi măng đen bóng. Anh cẩn thận đặt cái mâm gỗ, hai cái bát, hai đôi đũa, bát nước mắm ớt. Đó là bữa cơm ăn chui, thết bạn, khi vợ đi làm vắng. Chỉ có cơm gạo cũ, nước mắm hòa muối ớt chan vào, vậy mà ngon. Tôi ăn, ớt cay, làm nước mắt nước mũi giàn giụa. Anh Tiến cũng vậy. Tôi lơ đễnh nhìn lên bức tường dán giấy báo. Trố mắt mà đọc những tít to, tít nhỏ trên đó. Đang ăn, mặt anh Tiến đổi sắc. Anh bảo: “Dọn, dọn”. Nghĩa là vợ sắp về. Rồi anh bảo: “Tớ đi đây. Đã đến giờ nộp bài cho anh Quân”. Chẳng kịp nước nôi, anh vội dắt xe, như con ngựa sắt còm cõi, phi ra cửa. Tôi theo sau như cái bóng. Anh sợ, khiến tôi cũng sợ. Nhưng sợ gì, hồi ấy tôi chưa rõ. Hình như sợ những bóng vía.
Kể sự sợ thì có lắm thứ sợ nhất trên đời. Người sợ ma quỷ. Ma quỷ sợ người. Người sợ người. Đàn bà sợ đàn ông. Đàn ông sợ đàn bà. Một người sợ nhiều người. Nhiều người sợ một người. Hạ tầng sợ nhiều tầng. Thượng tầng sợ hạ tầng. Xấu sợ tốt. Tốt sợ xấu. Quá khứ sợ tương lại. Tương lai sợ quá khứ. Thông thái sợ dốt nát. Dốt nát sợ thông thái. Thực dụng sợ duy linh, tư tưởng. Và ngược lại v.v... Có bao nhiêu sao trên Thiên hà thì có bấy nhiêu nỗi sợ hãi. Anh Tiến sợ vợ và anh Quân.
Vợ thì chẳng phải nói vì vợ là vợ. Còn anh Quân với anh Tiến là cơ chế, thể chế, là lương, là nhà, là đề bạt, là đi nước ngoài, là “bát cơm, manh áo”.
Nói đến sự sợ, vốn có một tác nhân sợ, như là tế bào. Trước bàn làm việc của anh Quân, là các tuyển tập, cái cờ đuôi nheo, bức tượng bằng than đá một vĩ nhân. Trước các kho sách, núi sách, dù là sai lạc, thì vẫn nên kính trọng người ta như một nhà văn hóa, nhà phát minh. Đừng bổ báng, đừng tôn vinh mù quáng hoặc hậu trả thù. Thảy đều không tốt. Anh Quân đầu hói, có học, mắt sáng, người quắt, trước anh học Pháp. Theo tôi, tác nhân sợ của anh chính là dùng cái vốn Tây học tham gia vào sự nghiệp mới. Âu cũng là có học sợ ít học, hoặc vô học. Trước cờ đuôi nheo và tượng than đá, dù có là chức sắc trong tòa báo và cũng là kẻ tiên phong của cuộc đấu tranh giai cấp, anh Quân chẳng khác gì anh Tiến, cũng đầy nét sợ. Da xanh, đầu hói luôn cúi xuống, mắt nhìn lấm lét. Anh Tiến sợ anh Quân. Anh Quân sợ kẻ khác. Kẻ khác lại sợ những kẻ khác cao hơn. Cứ thế mà nối đuôi nhau một đoàn sợ sệt. Cần nói thêm một chi tiết, anh Quân họ gì đó, chứ không phải họ Lê. Xứ sở phương Đông đón luồng ánh sáng mới này, có một thời, người ta tự đổi họ của mình thành họ Lê. Đó cũng là một sự tôn vinh, chắc chẳng làm rối rắm được gia phả gốc, nhưng các nhà nhân văn mai hậu nên biết một chi tiết như vậy. Cũng đừng cười cợt, bản chất con người, sau cái thời mông muội nguyên thủy, là sự tôn vinh cuồng tín. Anh Tiến không hiểu, chứ tôi thì sớm hiểu điều đó.
Kể thêm về chị Mai, người Hoa kiều. Chị làm ở thư viện cơ quan tầng hai. Thú thực, từ đầu, tôi không thể nào đoán được chị bao nhiêu tuổi, chỉ cảm thấy đó là người đàn bà nửa Hoa, nửa Việt, già hơn người già, trẻ hơn người trẻ. Tác nhân sợ của người đàn bà này thì đủ thứ. Thật thương cảm, nếu không muốn nói là thương tâm. Có hai quốc gia, có đàn ông và đàn bà, có sức khỏe và bệnh tật… thảy đè nặng lên vai người đàn bà da bủng, mặt phù, môi thâm tái. Chị Mai làm công đoàn. Công đoàn là làm cái khoản chấm công, giờ giấc. Anh Tiến sợ chị Mai “bủng” ở điều này. Được cái, chị Mai là người nghiêm chỉnh trong mọi việc. Hai chân chị bị thấp, tập tễnh như chân người máy, nhưng sáng nào chị cũng đến cơ quan sớm nhất. Sợ muộn giờ, hình như hôm nào chị cũng kéo bộ. Chị bước lên cầu thang gác hai thư viện thật khó khăn. Bước lên hơn một bậc, cảm như mệt và lâu lên hơn lên một bậc lương. Chị cúi xuống như một cánh chim tàn, như con gà mạ rù. Chị sợ sệt và hổn hển suốt cả một đời...
Kể thêm về họa sĩ Đặng. Anh là họa sĩ trình bày báo trong nhiều năm. Từ tuổi thanh niên cho đến chết. Người nghệ sĩ này da ngăm, mình cá trắm, đáng là khỏe, là cứng nhưng chẳng hiểu về xã hội hay tử vi, lại hóa ra kẻ sợ sệt. Sợ từ bên trong. Hay nói lớn nhưng âm lượng thì rung. Mắt quắc bực bội nhưng trong mắt lại đầy ngấn nước. Tình duyên tuổi trẻ của anh họa sĩ này cũng từ một tác nhân sợ ghê gớm. Qua bao tình duyên gãy vụn như nét vẽ, cuối cùng anh lấy chị Nhạ. Chị Nhạ là vợ bộ đội. Trên đường đời, anh Đặng gặp một cảnh tượng đánh vào cái sự thổn thức của anh kinh khủng. Chồng chết, đơn vị tin cho chị Nhạ tìm lên thì anh chồng đã được chôn cất từ một, hai tuần trước. Người đàn bà thương chồng tên là Nhạ thật to gan đã tự tay bới mồ chồng lên để được nhìn mặt chồng, để được vĩnh biệt chồng. Một sự vĩnh biệt gây thương cảm rợn tóc gáy, thật vào loại hiếm trong cuộc đời. Họa sĩ Đặng khắc hình ảnh người đàn bà đầu bịt khăn trắng tự tay bới mộ chồng vào tim mình. Điều đó đánh mạnh vào tâm linh yểu tướng của anh. Anh lấy chị Nhạ làm vợ.
Gia đình anh về sau ổn định, chỉ có công việc và sự nghiệp của anh thì dang dở quá. Anh làm ra bộ to gan, nhưng thực tế thì sợ thủ trưởng và cơ chế của ông ta như sợ cọp. Ông này dốt nhưng anh chỉ cầu mong sản phẩm của mình làm ra, chỉ cần được đến tay ông này thì dù có hỏng bét, anh cũng yên lòng. Sự sợ sệt quá đáng cuối cùng chỉ biết dựa vào đức tin mù quáng, tin vào cái dốt và xấu. Trường hợp họa sĩ Đặng đáng thương và đáng trách ở chỗ ấy...
Chuyện đến đây bước vào phần chính. Anh Tiến, anh Quân, chị Mai, họa sĩ Đặng cuối cùng nối nhau bị ung thư mà chết. Lạ thật, toàn chết về ung thư, mà phần lớn là ung thư gan. Cái chết của ung thư gan thật dai dẳng. Ban đầu, mệt nhẹ, rồi mệt thật. Ban đầu, điều trị thuốc tây ở nhà, tưởng là khỏi. Sau điều trị sang thuốc nam một thời gian, tưởng là khỏi. Người rộc dần. Da chuyển màu nghệ dần. Bước đến một giai đoạn hoang mang, thần hồn nát thần tính, uống thuốc bùa vô tội vạ. Tức là từ “thuốc dương sang thuốc âm”. Thậm trí thờ cúng vụng trộm. Kẻ ung thư, do yếu tâm linh, quật dậy tự cho mình là khỏe hẳn, đến cơ quan đi làm, bắt tay đủ mọi người, thực ra đó là ma bắt tay. Đòi một vài chế độ như lên lương, chia nhà, phân xe, đề bạt, đi nước ngoài, v.v... đó thực ra là ma đòi quyền lợi nhân gian của mình. Được mấy hôm như vậy thì ngục xuống, không đến cơ quan được nữa, gia đình đưa vào bệnh viện cấp cứu, chừng một tuần sau thì chết.
Quãng tuần lễ trước khi chết, họ phải chịu mọi can thiệp y tế. Quãng này y học không tiếc gì với họ. Thường được thử sinh thiết, được chọc, được mổ. Mổ ra rồi đóng lại. Họ vẫn thở. Những ngày này mắt họ sáng lạ thường. Họ nhìn chằm chằm vào người thân bên cạnh. Họ khao khát gặp tri âm hơn là người thân ruột thịt trong gia đình. Thấy bóng tri âm đến có khi họ bật dậy, nhưng yếu quá, lại gục xuống. Đó thường là ngày tận số. Trừ chị Mai là đàn bà, còn các anh Tiến, anh Quân, anh Đặng... trước ngày họ chết, tôi đều có mặt và đưa tay sờ vuốt lên ngực tử thi. Anh Tiến thấy tôi thì vùng dậy rồi gục xuống. Anh Đặng thấy tôi thì muốn đưa hai tay ôm lấy đầu tôi, như để hôn. Thường họ chết về đêm, khi sương xuống thật lạnh. Khi đưa tay sờ vuốt lên bụng họ như một bãi đất hoang phế, tôi thấy nổi lên những u lổn nhổn, thậm chí như một nấm mồ mọc trước bụng họ, nơi vết mổ, dồn lên phía trước ngực một chút. Dưới tay là khối u hoang lạnh đến khủng khiếp.
Những ngày trước khi phát hiện ra một người thân mắc nan chứng ung thư, người ta nhao nhác lên về u lành và u ác. Ôi, các tiếng “u” trong cuộc đời. Thật nó đa thanh, đa nghĩa, đa hình đến lạ lùng. “U ơi!” - đó là tiếng gọi mẹ. U buồn. Buồn quá, uất quá đến mức thành u sợ và u uất, là hai tác nhân làm cho khối u lớn nhanh đến khủng khiếp. Lớn thành nắm đất, thành nấm mồ. Những nỗi ấy thường làm cho lá gan khô héo. Ung thư đáng sợ vì nó chứa trong mình đầy những tác nhân sợ. Người sợ người. Mình sợ chính mình. Nhân gian sợ ma quỷ. Có khi cả một thể chế truyền cho nhau nỗi sợ sệt, như anh Tiến và họa sĩ Đặng. Tôi mù mịt về y học nhưng tôi võ đoán nguyên nhân chính gây ung thư là như vậy. Tỷ lệ tử vong về ung thư nếu ngày một tăng cũng là như vậy.
Phần chính của truyện, coi như đã xong, xin nói tản ra một chút. Tác nhân gây ung thư do sự sợ sệt ám ảnh, gây nên u sợ, u uất, u ác, theo võ đoán của tôi là như vậy. Còn các chứng bệnh khác, như sỏi, do sự kết lắng, tồn đọng thì như thế nào? Tôi tìm đường đến một nhà khí công (luyện khí) hợp với lên đồng và gọi hồn nổi tiếng ở mạn ngược Hồ Tây. Điện thờ khuất sâu vào mấy chùm rễ si, quãng bờ lở, gợi một sự u tịch, sự “mật” tuyệt đối. Hỏi: “Thưa, nỗi sợ truyền kiếp thì sinh nan chứng ung thư. Còn như tâm thế ngược lại, chẳng sợ gì cả thì sao ạ?”. Tiếng đáp giọng thổ đặc vọng sau khói hương và rễ si mờ tịt: “Thì kết lắng thành sỏi, có thể hóa sỏi khắp cơ thể. Trường hợp của anh là như vậy”. Tôi sợ quá, vã mồ hôi như ai vừa đem nhúng dưới hồ lên. Ngài là người giấu mặt. Con xin biết sợ Ngài.
Trở lại một chút về đại gia đình của chúng tôi, ở trên cái “chuồng chim” có tấm lưới thép lùng nhùng và những sọ người dưới đó, hồi chị Phương và chị Hảo đến ở. Từ một, sinh sôi nảy nở thành nhiều người, thành một đại gia. Anh Tiến hồi ấy, với tấm áo bộ đội bạc màu, hàm răng ám khói thuốc luôn cười trên gương mặt đen xỉn, pha chút vàng nghệ, vẫn đi lại quen biết với gia đình. Đại gia chúng tôi có cháu đầu, sinh giờ Dậu, tuổi Gà, con trai, đặt tên là Nam. Vợ anh Tiến sinh đứa con thứ hai, con gái, cùng ngày, cùng tuổi Gà, chỉ trước hai tiếng đồng hồ. Tên cháu là Khanh. Gặp tôi giữa đường đi làm, anh Tiến cười hề hề, khoe điều đó. Theo tôi, rất may là ung thư không có “gien” di truyền. Hình như sự khiếp sợ quá đáng không có “gien” di truyền. Bố sợ sệt, những đứa đời con cháu thì to gan lớn mật. Càng đến đời sau càng to gan lớn mật. Cháu Nam lớn lên trên tấm lưới thép và sọ người, vậy mà cháu khác với đại gia đình chúng tôi hay sợ sệt truyền kiếp, nó không hề biết sợ. Hồi bé, nó đem cả sọ dừa ra chơi, nhăn răng cười với cả sọ dừa. Nhìn con sâu róm, người lớn còn sợ, vậy mà nó dám dùng tay bắt. Lớn lên, nó học giỏi, được đi du học ngành y, giờ làm ăn tung hoành bên nước Đức. Nó không có “gien” sợ. Còn cháu Khanh, sau khi anh Tiến chết vì ung thư, ở với mẹ, đi học, đi làm. Nó đẹp như hoa hậu. Nó cũng không có “gien” sợ như bố Tiến. Mắt to, nhìn thẳng, tóc vồng lên như một minh tinh màn bạc. Hôm mẹ tôi mất, trong nhà liệm xác lạnh lẽo, chỉ có nó là người duy nhất cúi xuống hôn lên gương mặt lạnh lẽo của người chết, như một nghĩa cử đưa tiễn xúc cảm và táo tợn. Một nghĩa cử của một cô gái đẹp xứ này, vượt lên nỗi sợ truyền kiếp, vượt lên tử thần, vượt lên mọi chứng nan y, như ung thư chẳng hạn.
Hãy tin ở tương lai!
Phố Hồ, mùa lạnh, 22-9-1993
Nguồn: Rút từ Biển trinh nguyên, tập Truyện ngắn chọn lọc của Phan Cung Việt. Triệu Xuân tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info |