Những đêm gió táp mưa sa,
Rừng Găng thấp thoáng quỷ ma hiện hình
Rừng Găng, một khu rừng rậm rạp, âm u ở cách chợ Củ Chi độ ba cây số.
Trước kia, rừng Găng là một cánh rừng nho nhỏ, xanh mát, đẹp xinh như một mảnh vườn. Nơi ấy những trưa hè nóng bức, các em bé chăn trâu thường tạt vào tránh nắng và trèo cây hái trái bắt chim. Rừng Găng trước kia cũng là nơi những người nông dân nghèo khổ vào đây bẻ củi, hái rau, những lá kim cang, ngành ngạnh chát ngắt, đắng chằn nhưng cũng tạm đỡ lòng trong những ngày đói kém.
Rừng Găng năm xưa cũng là nơi những đôi trai gái yêu đương trong trắng, những buổi chiều nhạt nắng dắt vào đây tâm sự giữa thiên nhiên êm ả, trong tiếng gió hát chim ca.
Rừng Găng năm xưa cũng là nơi những đêm trăng tỏ, những người yêu nước thương dân kéo vào đây bàn chuyện quốc sự và múa kiếm, ngâm thơ, những bài thơ cảm khái, dạt dào tình non sông, mênh mông tình dân tộc.
Nhưng rừng Găng giờ đây đã trở thành một vùng hoang dã.
Cây cối, gai góc mọc um tùm. Các loại dây leo, dây mây giăng chằng chịt. Ngay giữa ban ngày cũng vắng người lui tới, giữa trưa hè nắng gắt, bước vào cũng nghe ớn lạnh vì âm khí nặng nề.
Cái gì đã thay đổi khu rừng Găng đẹp tươi xanh mát, thành một vùng hoang dã âm u, nặng nề tử khí.
Sự việc bắt đầu từ mùa hè năm trước.
Một buồi trưa nồng gay gắt, những người khách qua đây bỗng nghe một mùi tanh kỳ lạ, mùi tanh hôi khen khét của xác người.
Ai cũng lấy làm lạ vì từ trước đến nay không khí khu rừng này rất sạch trong thanh khiết, thế mà hôm nay mùi uế trược bỗng tỏa lan tràn.
Chật vật tối hôm ấy, gà vừa nhảy ổ, bà con nông dân vừa chuẩn bị đuổi trâu vào chuồng thì bỗng nghe những tiếng la thất thanh kinh khiếp từ phía rừng Găng.
Bà con đổ xô chạy đến, thì thấy hai đứa bé xanh như tàu lá áo quần tới tả nằm ngất xỉu tại mí rừng. Còn một đứa thì bò lết vừa kêu la ú ớ.
Thấy bà con đến, nó chỗi dậy, ôm chầm lấy bà con, toàn thân run rẩy như bị động kinh.
Bà con hỏi việc gì? Nó chỉ trợn mắt khoát tay chỉ vào rừng ú ớ như người bị thụt lưỡi. Bà con biết nó sợ hãi đến á khẩu, không nói được nên vội vã khiêng chúng về nhà. Chân tay nó lạnh ngắt, dịu quặt. Sau khi hơ lửa, đánh gió, giựt tóc mai, gọi ba hồn chín vía, chúng mới dần dần tỉnh lại.
Nhưng đứa nào cũng ngẩn ngẩn, ngơ ngơ, lơ lơ láo láo như kẻ mất hồn.
Mãi đến nửa đêm, thấy bà con tề tựu đông đảo, đèn lửa sáng choang chúng mới tỉnh hồn tỉnh vía và bắt đầu nói được.
Chúng nó cho biết rằng:
Bữa ấy như mọi hôm, chúng đi chăn trâu ngoài ruộng. Xế trưa đói bụng chúng bèn thả trâu cho ăn lang rồi ba đứa kéo nhau vào rừng định tìm trứng chim húp hoặc kiếm trái cây ăn đỡ đói.
Đi sâu vào rừng, lượm chưa được một chục trứng chim thì nghe có mùi gì là lạ. Chúng nó tò mò đánh hơi lần đi tìm thử xem cho biết cái gì.
Đi mãi, đến lúc trong rừng bóng tôi nhá nhem chúng mới thấy hai cái gì lù lù trên mặt đất. Lại gần xem rõ thì đó là hai cái xác người bị mổ bụng, cặp mắt trắng dã trừng trừng nhìn chúng nó, mà tay chân còn nhúc nhích. Kinh khủng đến tột độ. Chúng nó vừa bò, vừa lết, vừa trườn, vừa chạy vừa la. Nhưng không biết cái gì nắm chân, kéo áo nó lại mà nó chạy không được cứ đứng lên té xuống. Bò lết ra tới bìa rừng, chúng nó nhào ngất xỉu.
Bà con nghe nói bàn tán xôn xao, người thì cho mấy đứa nhỏ bị ma nhát, người thì cho mấy đứa nhỏ bị “thần hồn nát thần tính” rồi la hoảng. Người thì cho có lẽ con bò, con chó gì đó đi lạc rừng bị rắn cắn chết mà mấy đứa nhỏ quá nhát nên trông lầm. Bàn tới bàn lui mãi, nhưng đêm ấy không ai dám đốt đuốc vào rừng xem cho rõ hư thực thế nào.
Mãi sáng hôm sau, không thể sống trong sự mơ hồ nghi vấn, có mấy chú thanh niên rủ nhau xách dao, gậy mạo hiểm luồn rừng. Đến quá trưa, mới thấy mấy chú trở về, mặt mày thất sắc. Mấy chú báo cho biết quả đúng như lời mấy đứa nhỏ nói: có xác hai người bị mổ bụng, ruột gan đâu mất hết. Còn như đôi mắt trắng dã và tay chân nhúc nhích là do dòi đục lúc nhúc. Mấy đứa nhỏ trông lầm nên tưởng xác chết còn động đậy.
Mấy bà, mấy chị nghe vậy, vội vã lên báo với quận. Bọn lính quận chỉ nhếch mép cười gằn, còn tên quận Bình thì cau mặt, nói mát mẻ: “Thời buổi chiến tranh, hồn ai nấy giữ. Chớ quá tò mò mà không có lợi”.
Lúc đầu bà con bàn tán: có lẽ là một vụ cướp của giết người hoặc đâm chém nhau vì giành chồng giựt vợ.
Nhưng rồi, qua một thời gian trong xóm trong ấp cũng không thấy mất người nào. Cũng không nghe ai thưa gởi kiếm tìm vì mất chồng mất vợ. Nhưng bà con cô bác ở những ngôi nhà lẻ loi cạnh rừng Găng thì cho biết là gần đây thỉnh thoảng, những đêm tối trời từ trong rừng Găng bỗng vang ra nhiều tiếng hú ghê hồn và có những vật gì sáng lờ mờ leo lên leo xuống các ngọn cây.
Bà con cho rằng rừng Găng bây giờ đã có ma, có quỷ và dù cho giữa ban ngày ban mặt cũng ít ai dám léo hánh đến cụm rừng này. Những ngôi nhà lưa thưa ở ven rừng cũng lần lượt dời vào gần xóm.
Nhưng ai nói sao thì nói má Bảy vẫn không tin. Má cho là hiện có những âm mưu giết người vì lý do chính trị. Nhưng ai giết và giết ai? Má Bảy cố tìm cho ra manh mối.
*
* *
Gần đây má thường lân la với bọn vợ làng vợ lính. Má lui tới dinh quận thường xuyên.
Có tiếng to nhỏ xầm xì:
- Bảy mươi chưa khoe mình lành. Bà già gần suốt đời đi cách mạng. Bây giờ thời buổi khó khăn, coi bộ muốn nghiêng ngả.
Ai nói gì thì nói. Má Bảy đã có chủ định, má cứ theo ý mình.
Hôm nay bà con thấy má ngồi lê la với vợ thằng quản Hách. Hôm sau bà con thấy má may vá, giặt giũ giùm vợ thằng đội Em. Bữa khác lại thấy má đưa con, giữ nhà giùm cho vợ thằng áo đen công dân vụ để vợ chồng nó đi đánh bài tứ sắc. Rồi mớ rau, tấm bánh, món quà nay cho vợ thằng xếp này, mai cho con thằng lính khác. Chẳng bao lâu má trở thành người thân tín của bọn lính làng, lính quận.
Bây giờ thì má tới lui khu gia binh như ăn cơm bữa. Má vô ra tự do như người trong nhà, không ai xét hỏi.
Bà con chòm xóm kẻ nhún người trề. Nhiều người quen thân, lóng rày đi đường gặp má liền ngoảnh mặt chỗ khác làm như không thấy để khỏi chào. Má rất khổ tâm nhưng vẫn cắn răng chịu đựng.
Một hôm, má thủ thỉ với vợ thằng cai Kích:
- Thím cai nè! Tôi có thằng cháu ở trên miệt Phú Thuận, Hố Bò hôm rồi mấy ông đi bố gặp nó đang cày ngoài ruộng. Thằng nhỏ dại quá. Nó thấy mấy ổng nó sợ hãi vụt bỏ chạy. Mấy ổng rượt bắt được. Nghe nói giải về đây.
Má nói chưa hết lời, con mẹ cai Kích đã trợn mắt:
- Lâu chưa?
Má vẫn chậm rãi, bấm đốt ngón tay lần tính:
- Dạ. gần bốn tháng.
Con mẹ bỗng mỉm cười bí hiểm:
- Cha! Không biết còn không đa nghen.
Má năn nỉ ỉ ôi:
- Dạ!. Thím nói giùm với thầy sếp ở nhà lo cho nó ra giùm. Tôi xin đội ơn thầy thím và. tôi cũng là người. biết phải.
Con mẹ lại cười bí hiểm:
- . Sợ không còn. lấy gì mà tìm ra.
Một bữa, má đến nhà thằng đội Đê. Tụi nó đang gầy tiệc nhậu. Má cầm chai đế Gò Đen đặt vào giữa mâm cái cộp. Tụi nó khoái chí cười ha hả:
- Bà già đúng điệu! Bà già đúng điệu!
- “Lỳ một lam bà!”([1]).
Nó rót cho má một ly. Má cầm lấy uống cạn ly cái “tróc”.
Tụi nó vẫy tay hoan hô rần rần.
- “Chấm” một miếng bà!
Nó gắp cho má một miếng gan xào. Thứ gan gì mà đỏ hon hỏn.
Má nhìn miếng gan bỗng rùng mình, vội lắp bắp từ chối:
- Dạ. Thôi. Thôi! Cám ơn thầy xếp bữa nay rằm, tui. tui ăn chay.
Má nói vậy rồi bỏ đi luôn xuống bếp.
Tụi nó cười ồ ồ.
Thằng cai Kích đã say mèm, giọng nhừa nhựa:
- Bà già xạo! Bà không chấm hả! Bà không dám ăn hả! Bà ăn thử coi! Còn ngọt hơn gan trâu. Bà ăn một miếng bà sống một trăm năm. Nó đứng dậy. bước xiêu vẹo tính lôi má lại, nhưng má đã nhanh chân chạy tuốt xuống bếp. Má nghe ớn lạnh trong xương sống.
Một bữa khác, má nghe thằng đội Đê truyền lịnh cho bọn lính:
- Không có tha thằng nào hết! Đại úy Quận trưởng đã nói: “Trảm thảo phải trừ căn! Ai mà đi thả cọp về rừng? Làm thịt hết! Làm thịt tuốt. Cha tao mà làm Cộng sản tao cũng làm thịt luôn!”.
Một lần thằng cai Kích nhậu say về hành hung vợ nó. Nó đòi tiền mua rượu. Con vợ không chịu đưa. Nó ngoai tóc vợ nó vào chân giường, trợn trừng đôi mắt đỏ ngầu thét:
- Mày không đưa tiền hả. Coi chừng tao lấy cái mặt của mày tao bán tao nhậu đó!
Nói xong nó xé toạc ngực áo con vợ nó ra, vú mốm lòng thòng.
Con vợ nó bù lu bù loa:
- Mày theo tụi nó riết rồi mày thành cọp, thành beo, thành ma thành quỷ rồi! Bây giờ mày muốn ăn gan uống mật tới vợ con mày nữa phải không?
Má thấy câu chuyện đến hồi ghê gớm gay cấn quá. Má không đủ sức nghe nữa, vội vã móc túi lấy một trăm đồng bạc dúi vào tay nó:
- Thôi tiền đây! Đi mua rượu đi thầy cai.
Đồng tiền làm nguội ngay cơn giận.
Nó buông tóc vợ nó ra, cười hềnh hệch:
- Bà già biết điệu! Đúng điệu bà già! Tha cho bà! Tha cho bà đó. Nó ngó má một hồi rồi bỏ đi, chân xiêu vẹo, mồm lảm nhảm:
- Cái gan bà già dai nhách. dai nhách. như miếng da trâu!
Ra tới cửa, nó bỗng dừng lại, nhìn vợ nó đang khóc thút thít, nuốt nước miếng ừng ực rồi trợn mắt quát: “. Mày coi chừng. Có ngày. tới phiên mày nữa đó.”.
Nó giơ tay ra dấu gì đó rồi xiêu vẹo bước.
Má kinh tởm quá. Quên cả an ủi con mẹ cai Kích. Má vội vã bỏ ra về. Toàn là loài ma quỷ, yêu tinh cả.
“Mọi việc đã rõ ràng rồi, nhưng cần phải tìm hiểu chính xác hơn nữa”. Má nghiến răng, suy nghĩ.
*
* *
Đêm nay là đêm 30 âm lịch. Trời tối như mực. Mây đen phủ kín bầu trời. Gió thổi mạnh. Mưa rơi lắc rắc.
Má Bảy lặng lẽ đi vào rừng Găng. Má đi âm thầm đơn độc. Vào giờ này rừng Găng vắng lặng, không một bóng người. Không ai dám léo hánh đến đây. Bây giờ, những người yếu bóng vía nghe đến tiếng rừng Găng đã giựt mình sợ hãi.
Má bước đi trong đêm, lòng sôi sục căm thù. Gió thổi càng lúc càng mạnh. Trời bắt đầu nổi cơn giông. Quần áo má ướt sũng nhưng má vẫn nghe nóng hừng hực. Má lẩm bẩm: “Các đồng chí! Tôi đến với các đồng chí đây! Các con ơi! Má đến với các con đây!”.
Má vừa đến bìa rừng. Bỗng trong rừng Găng âm u vang lên một tiếng hú ghê rợn và tiếp theo là những tiếng hú khác vang lên. Rồi có những vệt sáng lờ mờ bò lên thân cây, lên đọt cây rồi vọt thẳng lên bầu trời tối đen đầy mưa gió. Nước mắt má chảy ròng ròng: “Nó giết đồng chí tôi rồi! Trời ơi! Trời ơi!”.
Má vẫn nằm ngoài bìa rừng, dưới mưa gió má khóc nức nở.
Độ mười lăm phút sau, má nghe tiếng chân bước rầm rập. Một ánh chớp lóe lên! Chúng nó có sáu người. Một ánh chớp lóe lên. Súng Mỹ và dao găm Mỹ. Chúng bước sát bên má. Mùi rượu nặc nồng, tanh tưởi. Một ánh chớp lóe lên. Mặt và đầu chúng nó trắng toát. Tại sao? Tại sao? Hay má trông lầm. Hay là ma thật? Bỗng một thằng đứng lại bấm chiếc đèn pin. Một vệt ánh sáng xanh lè chiếu vào thân cây, bò lên ngọn cây rồi vọt thẳng lên trời. Mấy thằng khác cất tiếng hú như chó tru. rồi giựt mấy cái khăn trắng bịt đầu bịt mặt ra. chúng rầm rập đi vào xóm.
- “Ôi! Chúng bây lại giả làm ma làm quỷ để nhát người! Không! Không! Chúng bay giờ còn đáng thê sợ hơn loài ma quỷ!
Nhưng chúng bay sẽ phải đền tội! Nhân dân sẽ trả thù”.
Má nghiến răng đứng phắt dậy.
Một tiếng sấm nổ long trời.
Mưa ào ạt trút xuống.
Đất trời mù mịt.
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
|