tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
25.09.2009
Trần Văn Tuấn
Mưa đêm

            1.“Có một thứ gió lạ, nhìn thấy, nghe thấy mà vẫn không thấy”. Ông nói cho mình nghe. Không ai hiểu ông nói gì. Ở đời có lắm điều, nhiều thứ người ta không hiểu. Là thứ đụng đầu hàng ngày. Có những thứ không hiểu thì nhanh chóng cho qua, chẳng hề bận tâm, phí sức để tìm hiểu. Lại có thứ không hiểu buộc người ta tò mò, tìm hiểu kỹ hơn. “Ông ấy nói gì vậy”? Người xóm phế liệu hỏi nhau. Mỗi người trả lời, giải đáp một khác. Người ta hỏi lại: “Ông nói thứ gió lạ ấy là cái gì”?... “Không có gì”! Vẫn một câu trả lời muôn thuở. Chưa bao giờ ông giải thích cho mọi người biết những điều ông nói ra.


“Ông còn nghe thấy cái gì nữa?”. Một khối hình mềm mại chuyển động trong tối, sáng nhạt nhòa. Tiếng nói phát ra thẳng băng và chói gắt. Chẳng dễ nghe chút nào. “Bịt kín các lỗ thủng ở trên tường lại!”. “Lấy gì mà nhét cho kín! Tới sáu lỗ lận!”. Âm thanh gẫy khúc, chìa ra nhiều khía cạnh sắc. Để tránh bị tổn thương, đương nhiên phải di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác. “Lấy giấy báo ở giường tôi”... Ông quơ chân tìm đôi dép. Không thấy! Nền gạch ẩm ướt. Có nhiều gió lạnh thổi rát bàn chân. “Giữ cửa chính”! Ông kêu lên. Gió, mưa sấm chớp đang chồng chất bên ngoài. “Ông nói gì?”. Ông đứng hẳn lên, hướng tai về phía trái. “Cái cửa sổ bên ấy sắp bị rớt”! Ông nói, trong tiếng sấm rền. Có tiếng sôi lục bục của nồi cơm. Tiếng người đàn bà hốt hoảng. “Trời đất quỷ thần ơi, nước tràn vô nhà rồi!”. Căn nhà này vốn là cái nhà kho dùng để chứa các loại phế liệu cứng như đồ nhựa phế thải, giấy cactông, các thứ đồng nát kim khí… Việc kinh doanh buôn bán phế liệu ế ẩm, nhà bỏ hoang lâu ngày, mọi thứ đều rệu rã, mục nát. Họ đến thuê và ở. Đêm ấy cũng là một đêm mưa. Loại mưa rớt cuối mùa rích rắc tỉ tê. Lời tâm sự của người già ít khi mang âm sắc vui vẻ. Một chuỗi phiền muộn bập bềnh trôi nổi kéo dài tới vô tận. “Dù sao cũng phải ngăn đôi, ông một bên, tôi một bên”. Giọng nói của người đàn bà ấy luôn hằn học, phẫn uất. Kiểu nói đẩy người ra. “Cũng phải thôi!”.  Âm sắc của sự thản nhiên nhanh chóng hòa tan trong thiên nhiên. Người đàn ông giống như một hình nhân bằng nhựa tổng hợp. Rất cứng nhưng nhẹ hều và luôn có xu hướng trôi dạt theo bất kỳ tác động nào.


            2. Họ gặp nhau ở trên đường tàu hỏa cũng trong một đêm mưa, thứ mưa đêm nhức nhối ngột ngạt. Ông viễn du thiên hạ đã sang năm thứ ba. Cuộc mưu sinh để tồn tại không khác gì sự chòi đạp giãy dụa của con thú khi mắc bẫy. Còn sống, còn giẫy, còn hy vọng. Khi mệt quá, phải nín lặng tiết kiệm từng động tác để bảo tồn hơi sức. Ông đi theo đường tàu hỏa về phương Nam. Bản năng tránh rét đã lôi kéo ông. Phương Nam không có mùa đông! Không có gì an toàn hơn khi cuốc bộ trên đường sắt. Hướng đi rõ ràng, không phải suy nghĩ tìm lối, hỏi đường. Tàu gần đến, ông tránh sang bên ngồi nghỉ. Cái thứ mưa tháng ba thao thác về đêm không xua đi, hay nhấn chìm cái gì cả. Giống như những hạt bụi, làm người ta khó chịu bứt rứt. Ông lau mặt. Nghe thấy một tiếng người đổ ngã trên đường tàu. Con tàu đã gần đến. Thân người kia sẽ bị cắt lìa nát bét. Cũng là một bản năng, ông nhào tới, lôi ra khỏi đường tàu một thân xác nặng nề thô nhám và nồng nặc mùi vị đàn bà và cái chết. Người đàn bà đầy ắp thịt da, khí lực mạnh bạo có giọng nói giật cục như súng nổ.


            -     Để cho tôi chết.


-          Con kiến cũng còn muốn sống, huống chi là con người.


-          Ông là ai?


Cái giọng nói như dao chém vào người. Ông bỏ đi. Người đàn bà ấy lại ngã xuống đường tàu. Rút cuộc ông cũng thuyết phục được người đàn bà thôi không tự tử nữa. Và họ trở thành đôi bạn cùng nhau đi theo đường tàu... Hai đường ray chạy song song. Cho dù có lúc uốn cong nhưng vẫn là song song không gặp nhau. Những chiếc tà vẹt bằng gỗ có khoảng cách bằng nhau, đủ cho một bước chân. Người bên trái, người bên phải, dù có lúc đổi nhau nhưng vẫn cứ song song bên nhau. Người đàn bà vẫn cứ tràn niềm căm phẫn cuộc sống, thỉnh thoảng lại xì ra:


- Sống thảm như vầy, chết còn hơn…


Ông thản nhiên kéo đàn cò. Một bản nhạc vui tươi tràn ngập ánh sáng. “Tôi có thể giúp vui mọi người! Xin mọi người cho tôi miếng ăn để sống”. Không phải lời của kẻ ăn xin. Là âm tiết, cung bậc của nhân viên thuế vụ thông báo thu thuế. Thiên hạ ngạc nhiên kéo đến thưởng thức những âm thanh quen, lạ khác thường, những âm thanh làm thế giới nội tâm của con người trở nên bình lặng, êm ả với gió mát trăng thanh. “Cái ngọn sông Đào vừa cao vừa chảy. Anh đi kén vợ mười bẩy năm nay. Tình cờ bắt gặp nàng đây. Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần…”. Câu hát xẩm từ thuở xa xưa mọc lên giữa chốn đông người như một cây dạ lan hương. Người không biết bảo đó là nhạc tiền chiến. Ông không giải thích. Ông không nói lại. Chỉ có nói đi. Mọi âm sắc từ miệng, từ tay ông thoát ra để gọi người đến gần. Người đàn bà đi bên ông xích lại gần ông hơn. Một khối hình mềm mại lồi lõm khác thường với những nhịp thở có mùi khô khét. Ông biết rõ, đó là người mang tâm bệnh do đau khổ, chán chường. “Ông mù thật hay mù giả?” – Câu hỏi được phát ra nhiều lần và hai người vẫn đi song song hoặc trước hoặc sau ở khoảng cách gần.                                                            


            3. Tiếng giấy báo bị xé, bị bóp chặt. Khô khan và đắng chát. Như nỗi buồn đau lúc khởi đầu. Người ta bảo, không một ai có thể khôn ngoan kín đáo được với tình yêu. Ông đã thầm yêu trộm nhớ bà chủ quán Chiều Xa. Bà chủ tốt bụng đã thu nạp ông cùng người đàn bà đồng hành có giọng nói khó nghe đến làm việc tại cửa hàng. Người đàn bà bạn ông làm việc rửa chén, dĩa ở nhà bếp. Còn ông làm việc mua vui cho khách bằng những âm điệu du dương, bay bổng của chiếc đàn cò. Lương tháng đủ ăn, thỉnh thoảng dư dả chút đỉnh do có thưởng. “Ông ấy tuy không thành danh nhưng có tầm vóc của một nghệ sĩ”. Bà chủ Chiều Xa giới thiệu ông với mọi người. Lời khen tặng ấy được truyền tải bằng những âm sắc trong trẻo và du dương. Khác hẳn với giọng nói, tiếng nói của người đàn bà kềnh càng hàng xóm của ông. Tiếng của bà chủ Chiều Xa là tiếng gọi người gần lại. Tiếng của sự trìu mến, ân cần. “Ông lấy số báo cũ mang về trải giường để nằm cho khỏi đau lưng”. Bàn tay bà chủ vỗ về trên vai ông. Cơn gió lạ ấm áp và mát mẻ tràn ngập âm thanh ngọt ngào đã đậu lại trên vai. Nhất thiết phải giữ lại. Ông nắm lấy tay bà chủ, thì thào:


- Em là người đẹp nhất trên thế gian này. Tôi yêu em hơn mọi thứ trên đời!


-     Cái gì, ông nói sao?


-          Tôi yêu em! Ông lắp bắp bấn loạn, không biết mình nói gì nữa.


-          Nói lại xem!


-          Tôi yêu em!


Ông hét lên như có ai đó thọc dao vào tim. Đau và phẫn uất đã phát thành lời, thành thứ âm thanh dữ dội như tiếng sét. Sau vài giây tĩnh lặng, một tiếng cười ré lên rồi tiếp theo đó là một trận cười kéo dài liên tục dồn dập, hả hê. Còn hơn một trận bão dữ dội. Tâm trí ông bị thổi bay ra khỏi thân xác. Bị xé vụn và quay cuồng trong không gian trống rỗng. “Nghệ sĩ là như thế mà”! Cuối cùng, tiếng nói kéo người lại gần của bà chủ đã reo vang. Như tiếng nhạc trữ tình của điện thoại di động. Tâm trí, hồn vía ông trở lại với thân xác trong một vòng vây kẽm gai dày đặc.


“Thôi, ôm mớ giấy báo cũ này về đi! Chúc nghệ sĩ có những giấc mơ đẹp”. Gã bảo vệ cắm vào đầu ông những âm thanh sắc nhọn. Bà chủ Chiều Xa nhổ nước miếng ở đâu đó gần ông. Ông lồm cồm đứng lên cùng mớ báo. Ông cũng không biết ai đã đưa ông về nhà và ông ăn, ngủ trong những ngày sau đó ra sao… “Tại sao người ta lại khinh rẻ những thổ lộ chân thành của một tình cảm đẹp”? Nỗi đau nhức lại co giật mỗi khi thời tiết đổi thay.


4. Ông yêu người Chiều Xa đâu phải là tội, là điều xấu xa. Giọng nói của bà đã đưa ông trở lại thế giới sinh động tràn ngập ánh sáng. Đó là một chiều cuối xuân đầu hè nắng gió mênh mang. Dòng sông trong vắt miên man các ngọn sóng lăn tăn. Năm ấy ông 15 tuổi, đã bắt đầu vỡ tiếng, giọng khỏe và vang. Ông gọi đò. Có cái gì đó rớt xuống sông ở sau bụi cúc tần dại phủ đầy tơ hồng. Một người đàn bà ở độ sung sức nhất, đàn bà nhất, quẫy đạp trong dòng nước. Tưởng rằng người đó không biết bơi, ông nhào xuống cứu giúp.


            “Đồ quỷ sứ”! Người đàn bà chở đò vội vã mặc quần áo lại, hồn nhiên cười nói: “Mày còn nhỏ, biết cái gì mà nhìn”! Giọng nói thân tình trìu mến và độ lượng dường như có một chất men vĩnh hằng đủ sức làm mọi thứ trở thành rượu mạnh. Lúc đó ông ngây ngô, khờ khạo. Lần đầu tiên trong đời ông nhìn thấy phần kín nhất của đàn bà. Một cái đẹp đồ sộ, tao nhã và mông lung. Một cái đẹp chất ngất chiều cao ở nền da trắng tươi, thăm thẳm chiều sâu ở màu đen nhánh của những sợi lông đẫm nước. Cái đẹp của thuyết phục và chinh phục. Tuy nhiên, cái đẹp ấy chẳng thể ở lâu trong tâm trí ông nếu không có giọng nói trìu mến thân tình. “Nhìn gì mà nhìn! Nhìn lâu mù mắt đấy”. Giọng nói kéo người ta lại gần. Và khi ông bị mù do tai nạn ngã trên sườn núi, chất giọng ấy trở thành một tố chất phân định ranh giới tốt, xấu, hay, dở, dữ, lành. Từ đó, ông thấy trong ông có cơn gió lạ. Mát đấy, nóng đấy, rồi lại mát. Có khi lạnh giá tái tê. Có khi ồn ào dữ dội. Lại có khi thảng thốt mơ hồ.      


            “Bỏ cái cánh cửa ấy đi, phụ tôi giữ lấy cửa chính” – Nỗi lo sợ thoát ra thành lời. Cửa chính đã mục, bị gió mưa táp vô, rệu rã và có nguy cơ sập đổ hoàn toàn. Nhà này làm theo kiểu phú quý thời xưa, loại nhà cao cửa rộng là niềm mơ ước của người ta. Sống trong nhà cao cửa rộng thoải mái và dễ chịu hơn nhiều so với loại nhà chật hẹp. Tuy vậy, gặp khi dông mưa, những tiện lợi đã trở thành bất lợi... Người đàn bà ở phòng bên vội chạy sang. Họ dùng dây xích chó quấn buộc chặt lại hai cánh cửa. Dùng cánh cửa ngăn đôi hai phòng làm việc che chắn các lỗ hổng nơi cửa chính. Để chắc ăn, họ đẩy cái bàn ra sát cửa để tăng thêm sức mạnh chống đỡ... Cửa chính giữ được nhưng cửa sổ ở phòng bên đã bị gió giật rơi xuống. Mưa gió áo ạt tuôn vào. Người đàn bà chán nản:


-          Thế là xong! Đành phải gom hết để sang bên này thôi!


Người đàn ông không biết phải đi đến đâu, đành đứng yên bất động bên cái bàn lật nghiêng.


            Hồi mới bị mù ông cũng từng bị bất động trong tâm trạng bất lực như thế. Bóng tối nhồi nhét hạnh hạ ông đến mức tê liệt mọi cảm giác. Người chú họ dạy dỗ ông, nuôi dưỡng ông, nói nhỏ: “Khi lúng túng không biết đi đâu, làm gì, hãy đứng yên và bình tĩnh chờ đợi. Khắc sẽ có sự đến để mà đi”. Coi như một nguyên lý sống. Ít nhất là cho ông. Và cái nguyên lý ấy đã giúp ông loại bỏ bóng tối. Ông luôn nghe mình, nghe thiên nhiên, nghe người ta, nghe mọi thứ chuyển động hay không chuyển động ở bên mình.


            Người chú họ qua đời, ông cùng đứa cháu chăm sóc bầy dê núi. Ông nghe tiếng chân dê đi về biết bầy dê thiếu hay đủ. Nghe tiếng thở, biết chúng bị bệnh gì. Ông cũng nhìn thấy nhiều thứ bằng nghe. Các lối mòn trên núi Gà Trống ông đi không cần gậy, không hề bị vấp té. Ông đi trong chợ không đụng phải người, phải hàng hóa. Ông cũng nhìn thấy mệnh giá tiền từ cảm nhận ở bàn tay. Cũng có thể xem ông là một người đặc biệt.


            5. “Coi chừng cơm khét!”, “Nước tràn vô nhà!” ông cảm thấy giọng nói của mình trở nên khác lạ. Là sức ép bật ra, không phải sự trang trải cởi mở. Người đàn bà tất bật, hối hả. “Giữ lấy nồi cơm. Không ngăn được nước tràn đâu”! Cơn mưa quá lớn. Dòng nước đục ngầu lềnh bềnh rác rưởi ngoài đường đã tràn qua bờ kè, tràn qua ngưỡng cửa, qua các lỗ hổng ở chân tường. “Nền nhà cao. Nước rút nhanh thôi”. Dầu sao cũng có tiếng người trong lúc gay cấn này. Người đàn bà như một diễn viên nhào lộn ở các đoàn xiếc. Đồ đạc được chuyển lên giường bên này. Cái bếp dầu đang cháy lom dom cùng nồi cơm sắp chín được chuyển sang giường bên kia. Một chiếc cầu nối được bắc qua hai giường bằng chiếc ghế dài, loại ghế cho học sinh ở trường học thải ra. Khi bắc, bà đã không thông báo cho ông biết. Ông đã vấp ngã. Lâu lắm rồi ông mới bị vấp ngã vì loại đồ vật vô tri vô giác. Có thể do gió mưa, sấm chớp giật giã làm cho khả năng nghe của ông cũng bị giảm sút. Cũng có thể do cái tâm của ông không còn được thanh thản. Và cũng có thể theo thời gian, mọi thứ trong ông đã già đi. Người đàn bà lôi ông lên giường. Lấy quần áo khô thay cho ông. “Ông ngồi yên trên giường, mọi việc để cho tôi lo”.


Ông ép sát, cố thu nhỏ người lại cho dán chặt vào tường. Nỗi sợ hãi không còn là một thứ xa xôi ám ảnh nữa. Nó đã hiện hữu trong ông. Vây bủa lấy ông. Hóa ra cuộc sống không giống như những gì ông nghĩ, ông tưởng tượng và đã trải qua. Hà cớ chi nỗi sợ hãi cuộc đời không đến với ông ở những ngày đầu xuống núi, ở những đêm mưa trên chuyến viễn du phương Nam. Những lúc đó, sự gian khó còn khốc liệt hơn đêm nay nhiều lắm. Một mình trong mưa bão giữa đường ray tàu hỏa, ông vẫn bám bò lê lết cho tới nhà ga gần đó.


            “Không sợ gì ư?”. Người ta hỏi.


            “Chết không sợ, còn sợ cái gì nữa!”. Ông thản nhiên trả lời. Cũng là gián tiếp giải thích vì sao ông có thể nghe được bệnh cho người ta. Độ chính xác khá cao. Lối nghe bệnh theo kiểu bắt mạch của Đông y. “Không sợ, nên thanh thản lắm. Có thanh thản mới nghe ra được nhiều thứ”. Một thứ lý thuyết được trình bày theo kiểu thông báo nhà ga “Quý khách chú ý.  Đoàn tàu sắp rời ga!”. Khi người ta đứng vững trên đôi chân của mình và bắt đầu tập đi là lúc tính kiêu hãnh được hình thành. Hết thảy, ai cũng có lòng kiêu hãnh. Ông không kiêu hãnh vì tài năng nghe, tài năng kéo đàn cò của mình. Ông kiêu hãnh vì cái năng lực không biết sợ của mình. “Người mù có nhìn thấy gì để mà sợ”! Đôi khi, ông cười nhạt nhẽo và nói bâng quơ.


6. Cơm đã chín. Người đàn bà bắc xuống để nấu canh. Nồi canh chua cá lóc. Có thể đây là nồi canh cuối cùng bà nấu cho người hàng xóm. Một bữa ăn chia tay. Buổi chiều, lúc ba giờ, bà đã thu dọn hết đồ đạc của mình vào chiếc túi vải. Cũng chẳng có gì nhiều. Không nặng quá năm ký. Cuộc sống thả nổi trôi dạt nay đây mai đó có gì đáng gọi là tài sản cơ chứ. Nhưng cái túi xem ra vẫn có gì khá nặng khiến bà phải cố sức nhấc lên. Thực ra, nặng nhẹ chính ở trong lòng. Việc phải chia tay mỗi người một ngả với người hàng xóm mù kia vẫn còn chưa thật sự dứt khoát. Đã có sự thay đổi từ gốc rễ. Bà cảm thấy càng ngày càng khác lạ với chính mình. Trước kia, con người bà đầy ắp lửa, sẵn sàng đốt cháy mọi thứ. Người ta bảo, đàn bà tuổi cọp dũng mãnh khác thường. Chính cái lửa ấy đã đốt cháy bà hàng chục lần. Thuở con gái, bà bất chấp mọi răn đe, khuyên bảo của gia đình, bạn bè tự nướng chín mình dâng hiến cho một kẻ vô lại có cái mẽ bề ngoài giống một minh tinh màn bạc. Những tưởng cuộc hồi sinh với một người đàn ông tử tế, một công chức hiền lành nhu nhược sẽ làm bà sống lại với chức phận đàn bà có chồng, con đàng hoàng. Ai ngờ, ở tuổi ba sáu, cái tuổi đàn bà nhất của đàn bà, một tiếng sét ái tình vớ vẩn của một gã lừa đảo đã làm bà chết thêm một lần nữa. Bà bỏ nhà theo gã trôi dạt khắp nơi. Bà bị cái giọng nói trầm ấm, cái tiếng hát sầu bi ai oán của gã cuốn hút, nhấn chìm tới đáy của sự nhục nhã. Để nuôi gã, bà phải làm điếm, có lúc phải đứng đường đón khách. Lại hoang tưởng nghĩ rằng sự hy sinh hết thảy như vậy sẽ giữ được gã ở bên. Gã giật trên tay bà chiếc quần lót mới mua, gằn giọng bảo: “Mày không đáng mặc đồ mới”! Bà nhào theo giữ lại. Gã đạp, cú đạp đòn thù. Bà không còn sức giẫy dụa nữa. Gã bỏ đi. Bà lê lết, chui nhủi qua các nhà chợ ở tỉnh, các mái hiên và những gầm cầu trên đường bộ. Bà đã chọn cái chết tan xác để trừng phạt mình. Con tàu đã lao tới, bà lao ra! Nhưng, người đàn ông mù kia đã kéo bà khỏi tay thần chết. Và chính cái sự lạ kỳ của ông ta đã lôi kéo bà ngày càng xa ý nghĩ tự tử. Bà gắn bó với ông suốt những ngày tháng qua giống như bị hút theo. Một sự ràng buộc không có ý thức rõ rệt. Ông ta không là gì của bà. Bà cũng chẳng là gì của ông ấy. Hai vật thể xa lạ cùng một lối đi, hầu như câm nín trong đời sống hàng ngày nhưng vẫn biết lo cho nhau bữa ăn, giấc ngủ.


Hôm qua, người con trai của bà đã đến tuổi trưởng thành, đứa con có lòng hiếu thảo hiếm có, lặn lội dặm trường tìm kiếm bà tại quán và năn nỉ bà trở về. Người chồng công chức của bà đã qua đời. “Sống chết gì cũng phải tìm cho được và đón má về nhà. Má con không phải là người xấu”. Ba trăn trối cho con điều ấy. “Ba rất thương má!”. Chàng trai trẻ hai mươi tuổi khóc như một đứa con nít. Bà cũng khóc theo. Bao năm rồi, bà lại khóc. Được khóc! Bà hứa với con sẽ trở về nhà. Chiều nay, bà đi chợ, mua một ký cá lóc, loại ngon nhất. “Dẫu sao cũng phải có một bữa ăn chia tay”. Bà nghĩ vậy. Lúc đó trời còn u u mờ mờ, tối sáng nhập nhòa. Phía Tây đã xuất hiện cồn mây đen sịt trĩu nặng, báo hiệu một cơn dông mưa dữ dội.


            7. “Chẳng cần vậy đâu, bà về đi kẻo cháu nó chờ”. Không hiểu sao, ông ta lại biết hết mọi chuyện của bà, còn nghe được cả ý nghĩ của bà. Tự dưng bà gay gắt, nói như sấm rền từ xa: “Việc của tôi, tôi khắc lo, không cần ông xen vô! Lắm chuyện!”. Ông không nói gì nữa, thu gọn người trong bóng tối. Bà cảm thấy hối hận. Nỗi xót thương bật thành lời dịu dàng. “Dẫu sao cũng phải có việc gì đó để làm. Hay là mai ông trở lại quán”!


            “Kiếm miếng ăn để sống thôi mà. Có gì khó đâu”.


            “Ông định làm gì”?


            “Làm gì chẳng được. Còn có người, tôi còn sống”.


            “Thực ra, tôi cũng lo cho ông!”


            “Khỏi lo! Bà cứ yên tâm về nhà”.


            Nỗi niềm tâm sự, tâm tình hẳn sẽ kéo dài và đi tới một bãi bờ êm ả nếu cơn dông mưa không ập đến. Rồi cơn mưa cũng phải lùi xa. Chỉ còn những giọt nước lâm thâm, thảng thốt đâu đó. Rồi những cơn gió dữ dằn lạnh giá cũng phải hết. Chỉ còn lại hơi thở ngắn dài, thắc thỏm gần xa. “Ông lại ăn cơm cho nóng”!                      


            Người đàn ông mù vẫn dán chặt vào tường, trông như một cái bóng của ai đó.


            “Ông làm sao vậy?”.


            “Tôi sợ! Tôi bắt đầu thấy sợ...”. Tiếng nói run rẩy, hấp tấp. Nghe như tiếng chim non  đói ăn gọi mẹ. Bà lật tấm đắp, nắm lấy tay ông lôi ra. Một cơ thể lạnh ngắt, sức sống yếu ớt. Bà cạo gió, xoa bóp toàn thân cho ông... Dường như tất cả những mông lung bảng lảng đã được gom lại thành một khối hình không rõ ràng, lan man hơi ấm. Cái thứ gió lạ mang hơi nóng đã trở về. Ngày trước, và ngày xưa ông phải húc đầu, phải ôm chặt lấy thân cây để rung, để lắc, xua đuổi cái nóng trong đầu. Thằng cháu tó mò hỏi:


- Chú làm gì vậy?


-          Tao rung cây cho mơ rụng xuống.


-          Mơ còn xanh ngắt, ăn đâu được.


-          Mày còn nhỏ, biết cái gì...


Thằng nhỏ đem chuyện đó kể cho người trong xóm trại ở chân núi nghe. Cả xóm cười lăn lóc, ngả nghiêng. Có người đàn bà góa chồng lâu năm, tuổi “tiền mãn kinh”, nửa đêm mò mẫm lên núi, ôm lấy ông thì thầm: “Tôi có mơ cho ông ăn đây!”. Ông trốn chạy, lắp bắp: “Không, tôi không phải loại người như vậy. Các người hiểu lầm tôi rồi”. Trong cơn bấn loạn, ông không thấy gì hết. Vấp ngã liên miên, mang nhiều u, xước. Chuyện vỡ lở, cả xóm lại cười rần rần, rộ rộ. Suốt ngày đêm. Người đàn bà “tiền mãn kinh” xấu hổ quá, phải bỏ xứ mà đi. Ông được coi là “người đắc đạo”, “người cõi trên”. Ông bảo: “không phải vậy!”. Chẳng một ai tranh luận với ông. Người ta chỉ cần ông nghe bệnh, chữa bệnh và đàn. Thế thôi! Ông nhạt nhòa lãng đãng trôi nổi cùng đàn dê và những cây cỏ. Thỉnh thoảng lại đập đầu vào gốc mơ. Để mọi cái lại nhạt nhòa lãng đãng.


            8. Nhưng rồi, một ngày nọ, đứa cháu hùng hồn tuyên bố: - “Cháu đi đây! Chú xuống núi ở với mọi người đi”. Cuộc sống sôi động đã lôi kéo chàng trai. Ông im lặng lắng nghe mọi thứ. Thấy ánh sáng tràn ngập những con đường, thấy cái đẹp của phần dưới cơ thể đàn bà, thấy giọng nói trìu mến của người đàn bà chở đò...


            “Nó luôn luôn chuyển động, luôn luôn biến hóa...”. Ông nói thành lời, cho riêng mình nghe và lặng lẽ xuống núi.


            - Tôi sợ...


            - Đừng sợ! Có tôi ở bên ông mà!


            Người đàn bà kế bên với những ngón tay thô nhám vuốt ve xoa bóp toàn thân ông, chỗ nào cần mạnh đã mạnh, chỗ nào cần nhẹ đã nhẹ. Nó như gió, như nắng, như dinh dưỡng của thức ăn lần lần lan tỏa trong con người ông. Từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài. Nỗi sợ hãi biến mất. Niềm hứng khởi vật ngã gốc mơ trào dâng, cuồn cuộn như lũ quét.


            Mưa đã tạnh. Trăng cuối tháng nổi lên, tuy nhợt nhạt nhưng rất rõ ràng...


TVT.


Bản gửi www.trieuxuan.info


 


 


 


 


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »