Buổi chiều ở công sở, hắn vớ được tài liệu về hôn nhân thế kỷ 21 và cứ thế mà đọc. Trí óc hay tìm kiếm những gì rộng lớn, mà lại có sự vận dụng ngay vào hoàn cảnh thân phận mình. Khiếp, cái thế kỷ 20 là thế kỷ đổ vỡ hạnh phúc gia đình. Nhưng nói gì thì nói, gia đình bao giờ cũng là tế bào của xã hội. Con chim cần có tổ. Bởi vậy, thế kỷ 21 lại là thế kỷ gia đình. Nghĩa là lấy nhau, hoặc bỏ nhau chán rồi trở về với nhau. Bài báo chạy cái tít lớn như vậy, nhưng bên trong thì lắm lý sự vòng vo, đầy những gạch đầu dòng, lại chẳng khác điều khoản ly hôn ở các phiên tòa trên trái đất. Đúng rồi, rắc rối là ở hai tiếng hạnh phúc. Lý lẽ lúng túng và gượng gạo khi nói về hạnh phúc gia đình. Cái ông tiến sĩ nào đó hay một nhóm giáo sư tiến sĩ nào đó đã loanh quanh mãi với mấy cái gạch đầu dòng của hạnh phúc gia đình thế kỷ 21: - Tùy từng hoàn cảnh mỗi gia đình…, - Vấn đề tự do, không ràng buộc giữa vợ và chồng, v.v… Hắn muốn lấy bút chép, để làm người phổ biến, trước hết là phổ biến cho vợ hắn. Nhưng lười, lại thôi. Hắn ghi vào bộ nhớ, cả mấy khoản vân vân kia. Các gạch đầu dòng nào cũng có giá trị, vừa đúc ket tình cảnh chung của mọi nơi trên trái đất, vừa có giá trị phân tích, an ủi. Điều nào cũng đúng với cảnh ngộ của hắn và an ủi hắn.
Chẳng chờ tiếng chuông khàn và rời, báo hết giờ mỗi ngày ở công sở, hắn giúi cái hạnh phúc gia đình thế kỷ 21 vào đống tài liệu bên góc bàn, ra về trong tâm trạng như vô cảm. Đến đầu múi đường thì cái hộp nhà tập thể nơi ở của hắn hiện ra, và hắn lại bắt đầu nghĩ. Tuổi xế bóng của hắn cũng chỉ nghĩ về những vấn đề của gia đình. Cái dãy nhà tập thể ở kia, cái tổ ấm riêng tư ở kia và đi sâu hơn là hạnh phúc. Người đàn bà, trong ý nghĩ của hắn, vừa tốt vừa xấu, vừa gần gũi, vừa xa cách. Hạnh phúc trong cái hộp nhà nửa tối nửa sáng, trên tầng, treo lửng lơ như cái tổ chim trước gió, thực tâm không lấy gì làm vững bền. Thảy như hội đủ những vấn đề hạnh phúc gia đình của thế kỷ 20, thế kỷ 21. Đúng hơn là cái cầu nối giữa hai the kỷ ấy của hắn và những gì bên cạnh hắn. Cái cầu thang dốc như leo núi. Những hộp nhà dài ngăn ra, sâu và tối, và những thân phận, những cuộc hôn nhân. Thế giới thu nhỏ trên nửa cái tầng nhà này, tách từ lối rẽ cau thang, bảy hộp nhà thì ba hộp cô quả suốt năm không thấy bóng dáng đàn ông. Nhà cuối, chồng đi lao động nước ngoài rồi ở lại buôn bán, không về nữa. Một cũng vậy nhưng ở trong nước. Một chị lớn tuổi thì ở vậy không lấy chồng. Ba hộ khác cảnh gá lắp, phần nhiều có vợ con ở quê, ly dị lên ở phố làm ăn rồi táp vào đây, sinh con đẻ cái lâu rồi thành quen. Các hộp nhà kiểu này thì chẳng biết đâu mà nói, vui đấy, buồn đấy. Hôm trươc còn rủ bạn đến rượu bia ầm ĩ, hôm sau đã thấy vợ chồng mày tao chi tớ, đánh nhau huỳnh huỵch, tính việc chia con. Còn một tức nhà hắn, tức cái tổ ấm của hắn mà hắn vừa nói ở trên. Xem ra có “bóng dáng hạnh phúc hơn cả” chỉ tội cứ im thin thít, đến khó hiểu. Đấy vấn đề gia đình của thế giới thu lại ở lối hành lang nhỏ này.
Nói hạnh phúc và gia đình, trước hết là nói về phụ nữ và trẻ em. Trẻ con ở đây khó nhớ hết tên, lì lợm và phá phách, khó biết được tính nết của chúng. Mấy người đàn bà, cũng khó nói. Hắn chỉ dám nghĩ đến cái gọi là phẩm hạnh của một người là vợ hắn. Ngoài ra thì không thể hiểu được, không nói ra lời được. Sau lưng, họ xì xầm to nhỏ, lục soát hết phẩm hạnh của người này, người kia. Cô ấy đĩ, thiếu đàn ông là không được, cướp chồng của người đàn bà ở quê. Cô ấy trước khi lấy chồng đã nạo thai vài lần… chỉ khi có cuộc đánh lộn, thì mới biết được tung tích mấy đứa trẻ. Người đàn bà hai đời chồng nói toạc với anh chồng sau là ngay đứa con đầu của hai người cũng không phải là con của anh ta… Hắn chạnh nghĩ: như vậy gọi là con tập tàng, các cụ xưa thường goi tên thế. Tức là con của chồng này lẫn chồng kia, mẹ này lẫn mẹ kia. Có phải đặc điểm gia đình thế kỷ 20 là việc sinh ra những đứa con tập tàng không? Hắn nghĩ miên man, cảm thấy như tỉa sâu thêm vào cái đề tài gia đình mà hắn theo đuổi cả ngày nay. Hộp nhà dài quen thuộc hiện ra. Người đàn bà chờ bữa cơm tối, bên mâm cơm gọn gàng, nồi canh quen thuộc đang bốc khói…
Vợ hắn, người đàn bà lo toan và có nét lạ là thường “nhảy” ra khỏi giới mình, cùng hắn ngẫm ngợi về gia đình hạnh phúc. Thị không quen nói xấu đồng loại sau lưng, như các bạn đàn bà khác. Thị có cách nói duyên dáng, len vào từng bữa cơm, khiến hắn thấy được gương mặt của hạnh phúc ở cái góc khuất đáng yêu. Trong gia đình, vợ hắn rất để tâm săn sóc hắn qua bữa cơm. Trên mâm cơm thì để tâm nhất ở món canh. Thị thường lấy đũa hích vào tay hắn:
- Anh ăn đi chứ. Nghĩ ngợi gì mà nghệt ra thế. Canh ngon đấy!
Mỗi lần như vậy hắn tỉnh ra. Đúng là bát canh có vị ngọt đến lạ lùng thấm cả vào máu, vào ý nghĩ của hắn.
Và người đàn bà thường kể chuyện rất duyên dáng.
- Anh có biết rau tập tàng là thế nào không? Bà em thường gọi tên gì khác nữa cơ, nhưng em chỉ nhớ nó còn có tên là rau láo nháo. Vùng đồng bãi sông Thái Bình nơi em có hai thứ, em nhớ nhất là rau tập tàng và cỏ mần trầu. Rau để ăn, còn cỏ để nấu nước gội đầu, thơm ơi là thơm. Rau tap tàng có nhiều loại, phổ biến nhất là dền dại, rau dệ, rau muối, rau tàu bay… Chúng thường lẩn khuất ở chân ruộng, chân các bờ giậu. Bờ sông quê em đầy phù sa, đầy loại rau tập tàng đó. Kể ra thì rau dền dại và rau muối là quý hơn cả, rau tàu bay dần dà ít đi. Thuở bé bà và các bạn bà sống bằng thứ ấy, lớn lên nuôi con cháu cũng chỉ bằng thứ ấy. Vùng nước lợ tôm, tép và cá có nhiều, nhưng ngon nhất là cua giã nấu với rau tập tang. Ngọt ơi là ngọt. Ngọt cho đến tuổi già.
Bà bảo: rau tập tàng thực ra là vị thuốc hay nhất cho đường tiêu hóa và thận. Ăn vào nó mát ruột, nhuận tràng, lợi tiểu. Các loại lá dằng dịt với nhau, không trúng bệnh này thì bệnh khác, trong con người ta. Cũng như rau má, kinh giới, tía tô… là những thứ quí. Đừng khinh nó là quê, hèn mọn. Bà còn kể: những ngày đầu kháng chiến, bằng thứ rau tập tàng ấy, trong hàng năm trời đã nuôi bố em va du kích đường Năm. Bị thương, kham khổ, nằm hầm nằm hố nhiều người bị bủng beo, chính thứ rau đồng quê đã thành vị thuốc cứu họ. Nhiều người về sau lành bệnh, đỏ hẳn, lại đi chiến đấu được…
Rồi vợ hắn nhíu lông mày lại:
- Nhưng bà và các bạn có đức hạnh lắm cơ, anh ạ!
Câu nói chẳng ăn nhập gì cả với chuyện rau tập tàng, nhưng hắn vốn tinh ý không muốn hỏi thêm. Hắn hiểu, trong cái mạch kể chuyện hồn nhiên, vợ hắn có cái tinh tường, cái sắc nét khi nói về hạnh phúc ngọt ngào bình dị một thời. Sự liên quan giữa cái này và cái kia. Bát canh rau tập tàng nấu với cua cho vị ngọt ngào đồng quê, nhưng quan trọng hơn là người làm ra nó, cái phẩm hạnh của no, cái tình của họ gởi vào trong đó. Bát canh chỉ ngọt khi có sự chan hòa thiên nhiên và tình người. Bát canh tập tàng xưa ngọt lắm vì có cái tình của bà, sự chắt chiu, chăm bẵm của bà. Có người nói: bát canh ngày xưa ngot hơn bát canh ngày nay. Kể như thế cũng là cực đoan, nhưng hiểu được ngầm ý câu nói, hắn tự cười một mình. Vợ hắn tinh tường không chịu rời cái điều khiến mặt hắn nghệt ra, nghĩa là cái thế giới thu nhỏ trên nửa cái tang nhà này, từng hộp gia đình, từng người đàn bà. Nghĩa là vợ hắn đọc hết ý nghĩ trong đầu hắn về hạnh phúc gia đình. Nghĩa là vợ hắn cũng đang bắc một con cầu nối thế kỷ 20 và thế kỷ 21, như hắn từng ngẫm nghĩ.
Hắn nhơ như in cái ngày từ trong phố chuyển ra đây, cái vùng khuất ở thành thị còn đầy chất đồng quê này. Con sông Lấp chảy lờ đờ qua mấy cái cầu nhỏ, hàng cột điện cao thế, dừng lại quẩn quanh ở mấy mỏm gò đầy cỏ và cây dại. Ngọn gió ở đây cũng khác, khi nó thổi lên từ bùn thì có mùi tanh, nhưng nhiều lúc nó như mang được sự mát mẻ từ một vùng đồng bằng xa xôi nào đến. Người dân thành thị ở đây sống theo cách nhà quê, cả nhà ở tren cái thuyền thúng hái rau muống, bẫy chim, khi lên bờ bao giờ cũng có mớ rau tập tàng. Cảnh vật như một đồng bằng thu nhỏ lại.
Phải nói, từ ngày về đây hắn khỏe ra, ăn được, ngủ được. Hồi ở chiến trường ra, hắn bị bệnh thận, tưởng không qua khỏi. Trong phố lại bức bách quá, như bị cả bệnh thần kinh, thần sắc ngay dại, da bủng beo. Trong khi đầu hắn chứa chất bao sách vở, phạm trù. Về cái góc khuất đồng quê này, có một gia đình để nương thân, ăn thứ rau tập tàng, hít thở không khí đỡ ô nhiễm, cơ thể hắn khá dần lên, thận khá dần lên. Hàng ngày hắn ra quãng trống còn lại ở chốn đô hội còn liu diu nước chảy, gọi là sông Lấp, hít thở, và ăn bát cơm gạo mới với bát canh ngọt tập tàng, để lấy cái sự dễ chịu trong chuyển hóa cơ thể.
Bệnh thận thực ra cũng vào loại nan y. Hắn đọc nhiều sách nhiều sách y học của vợ hắn và hiểu ra điều đó. Sỏi thận, với nhiều loại soi. Thận suy, thận nhiễm mỡ… Nguyên nhân có nhiều, nhưng đại loại có hai điều. Đó là do chuyển hóa cơ thể có vấn đề, hoặc cấu tạo của thận và đường tiết niệu cũng có vấn đề nốt. Đi khám bác sĩ tiết niệu, nếu là sỏi thì cho chụp thử nước tiểu rồi mổ. Gần đây có tán sỏi bằng máy nhưng tỷ lệ kết quả còn tùy thuộc nhiều điều. Nếu anh đã suy thận nặng thì xem ra y học khó lòng chữa dứt điểm được. Chạy thận nhân tạo, chỉ là một cách. Ghép thận là vấn đề khác. Tóm lại, bệnh thận như hắn thì cơ may lại không phải ở những điều trên, mà cái chính lại ở cuộc sống gia đình, quan hệ với người… từ đôi mắt, luôn giữ ấm chân, tinh thần lạc quan, bát cơm bát rau giàu chất bổ tự nhiên, chống kết sỏi, chống viêm, chuyển hoá thật tốt, từ năm này qua năm khác.
Hắn thường ra phía con sông Lấp, nhìn dòng nước hiếm hoi chảy róc rách khó nhọc mang nét tự niên, đi dọc những bờ giậu đầy rau tập tàng. Đầu nghĩ lung tung, hết điều này đến điều nọ, nhưng tình cảm như cốt để tri ân mảnh đất khuất nẻo, với những ruộng rau thân phận như thấp hèn, nhưng lại là chỗ nương tựa cho hắn. Với hắn, với cái áo blu trắng, đi qua những lối mòn đến phòng thí nghiệm, cuối ngày bao giờ cũng nhận một bó rau tập tàng tươi non từ tay người làm vườn ở đây. Hắn tri ân cả những con người ở đây với sự chất phác dễ chịu còn sót lại, như ba Hiền. Bà Hiền hàng ngày từ con sông đi lên, tay cầm bó rau. Khi trao tận tay, khi bà để sẵn bậu cửa phòng thí nghiệm cho vợ hắn. Cứ thầm lặng, đều đặn như thế. Đủ loại rau mang chất đất mát lành bờ giậu, qua bàn tay che biến, thấm vào bát canh, đến với cái thận của hắn.
Ở đây có mấy người dành rau tập tàng cho vợ hắn, nhưng hắn nhớ nhất bà Hiền. Quê hương gốc tích bà ở đâu, không ai rõ. Chỉ biết bà đến ở cùng con sông Lấp này gần trọn một đời. Số phận của bà cũng như những vuông rau dại kia không ai nhìn tới, không ai để ý tới. Quanh năm suốt tháng, mùa nắng cũng như mùa mưa, cái bóng nhỏ nhoi lầm lụi của bà đổ xuống bên con sông Lấp, trên những miếng đất nhỏ không rõ cả hình thù mà bà tự phát hoang làm thành đất thục, trồng đủ loại cây để sống. Bà cần cù lầm lụi không hề vội vã, không hề to tiếng cãi vã giành giật, chiếc quang nhỏ trên vai, nụ cười luon đẫm mồ hôi… Bà ít nói, chỉ nói về các loại rau để chữa bệnh, cứu người. Cả một đời bà gắn bó với đủ loại rau dại, nên bà nói về chúng rất hay, như nói về người. Những cuống rau dại lẩn khuất dưới bờ giậu như ngẩng lên nhìn theo bà Hiền, biết bà đã nâng lên thân phận thấp hèn của chúng.
Chúng có tên là rau láo nháo, rau tập tàng. Và đêm đêm, từ bờ giậu con sông Lấp kia, hắn như nghe vẳng lên câu hát dân gian lạ lùng của loài rau tập tàng, về thân phận và hạnh phúc của con người.
Xóm Khương 04 – 1998
Nguồn: Truyện ngắn hay Mười tác giả. NXB Văn học sắp phát hành. |