tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
19.10.2008
Nguyên Hùng
Giang hồ lục tỉnh (2)

Ó Ba Hạt


 


Tiếng mõ khua vang trong đêm, ban đầu còn rời rạc lẻ tẻ, về sau thì rộ lên đều trời, râm ran như tiếng ếch nhái giữa đồng quê. Trong đêm tối như mực, có một ánh đuốc lập loè đang tiến dần về phía nhà việc của làng. Tiếng thầy hương quản oang oang:


- Cai tuần đâu! Bọn bây xách gậy xách hèo theo tao đi bắt ăn cướp. Mau lên! Xuống tam bản!


- Ở đâu vậy Thầy hương quản!


- Ở ngoài vàm sông cái. Tiếng mõ hồi một vang lên từ ngoài đó. Đi mau!


Tất cả nhốn nháo chuẩn bị lên đường. Thầy hương quản đỡ cây súng săn hai nòng xuống, nạp đạn cẩn thận, miệng lầm thầm: Chắc là thằng Ó Ba Hạt chớ không ai vô đây!


Một anh lính mới đến ngẩn ngơ:


- Ó Ba Hạt là ai vậy! Cái tên nghe kỳ đời, mình mới nghe lần đầu.


Một lính cũ làm tài khôn:


- Mầy chưa biết Ó Ba Hạt thiệt sao? Đó là tướng cướp lừng danh trong tỉnh Sóc Trăng mình. Mà không chỉ có một tỉnh Sóc Trăng mình mới biết danh nó đâu. Hai tỉnh kế cận là Bạc Liêu, Rạch Giá cũng "són đái" khi nghe tên nó. Bởi vậy mới có cái biệt hiệu Ó Ba Hạt. Có nghĩa là một con ó tung hoành khắp ba hạt tức là ba tỉnh.


Thầy hương quản gật gù khen:


- Mầy nói nghe rành rẽ quá! Nhưng mầy có biết tên cúng cơm của Ó Ba Hạt là gì không?


Tất cả đều ngưng dầm để nghe thầy hương quản kể lai lịch về tên cướp khét tiếng trong vùng.


- Tên nó là Hai Quốc. Không rõ họ gì, chỉ biết tên Quốc, thứ hai, gọi là Hai Quốc. Nó là võ sĩ, lúc nhỏ từng lên Tà Lơn- Thất Sơn tìm thầy học võ, học gồng. Mình mẩy, tay chân xâm đủ thứ bùa. Nghe đồn mác đâm không lủng, dao chém không đứt.


Một cai tuần xía vô:


- Tôi đã xem Hai Quốc thượng đài trong kỳ Hội chợ Tây Đô tổ chức ở Cần Thơ mấy năm trước. Hai Quốc đánh ngang ngửa với Sáu Cường là võ sĩ vô địch miền Tây. Hồi đó lúa có hai cắc một giạ mà tiền độ cho cặp đó lên tới bạc ngàn.


Tam bản đã tới trạm gác đầu vàm. Người trạo chiếc tam bảo bị cướp kể đầu đuôi câu chuyện:


- Ghe tôi vừa qua khỏi vàm vài trăm thước thì có ai đứng trên bờ la lớn "Ghe ghé!". Ông bà phán là người mướn ghe tôi đi dự đám cưới ở làng bên ra lịnh cho tôi "Chèo luôn! Mình vừa qua trạm gác đầu vàm. Còn tụi nầy chắc là ăn cướp giả dạng cai tuần!". Tôi cũng nghĩ như ông bà phán nên tiếp tục chèo giữa sông cái. Nhưng chèo không thoát vì bọn cướp đi xuồng ba lá hai chèo đôi, lướt sóng như bay. Trong chớp mắt chúng bắt kịp. Một tên ôm súng nhảy qua tam bản, lạnh lùng ra lịnh:


"Biết điều thì nạp hết tiền bạc, vòng vàng"... Bà phán chết điếng còn ông phán thì xuống nước năn nỉ: “Vợ chồng tôi nghèo mới đi ghe mướn. Ông nên kiếm mấy ông đi ghe hầu mà đánh, kiếm được nhiều tiền của bạc vàng hơn". Tên cướp cười lớn: “đi ăn hàng là nghề của tôi mà, ông đừng có làm tài khôn dạy đời cho bọn này. Tôi biết vợ chồng ông đi dự đám cưới bên Bãi Xào nên đón đường mượn đỡ chút đỉnh để xài. Ông bà muốn sống thì mau mau nạp tiền mãi lộ".


Ông phán muốn nghe theo nhưng bà phán tiếc của chống cự. Tên cướp cười gằn: “Bà có nghe tiếng Ó Ba Hạt chưa? Nó nói là làm! Bà phải chọn một trong hai điều: tiền của và mạng sống"... Nhưng bà phán đã làm một việc dại dột là la làng giữa sông cái trong đêm tối trời. Lập tức tên cướp ra tay. Vừa thấy nó rút dao găm ra, tôi sợ cảnh trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết nên phóng xuống sông lội vô bờ. Tôi chạy riết trở lại trạm gác đầu vàm báo động.


Nhìn bộ quần áo người trạo chưa kịp khô, thầy hương quản hỏi:


- Lâu chưa? Chừng nửa tiếng chớ gì? Bây giờ anh xuống tam bản đi với chúng tôi. Ó Ba Hạt, đúng như tôi đã đoán khi nghe tiếng mõ hồi một ở đầu vàm.


Tam bản chèo theo sự hướng dẫn của người trạo. Trong đêm tối, giữa sông cái, ánh đuốc của cây đèn chai chập chờn dưới gió lạnh. Anh trạo rùng mình, chụp cây dầm chèo cho đỡ lạnh. Thầy hương quản vỗ bá súng hỏi:


- Có chắc là Ó Ba Hạt chỉ có ba đứa?


Anh trạo gật:


- Hai thằng chèo với nó, tất cả là ba.


Cai tuần nói:


- Nó ba mình sáu. Đủ sức chơi mà Thầy hương.


Hương quản trừng mắt:


- Đừng có nói tướng! Một mình nó chấp trọn một tiểu đội làng lính. Sáu người tụi bây mà nhằm nhò gì! Hương quản vỗ báng súng nói tiếp: chỉ có con chó lửa nầy mới trị nổi nó thôi!


Bỗng anh Trạo chỉ một chiếc tam bản tấp trong bờ:


- Kìa kìa! Ghe tôi đó!


Trên tam bản, một cảnh tượng ghê rợn: xác hai vợ chồng ông Phán nằm kề nhau, máu đọng vũng. Tim đã ngừng đập từ lâu nhưng người chưa lạnh.


Hương quản quyết định nhanh gọn:


- Anh Trạo cùng một người chèo tam bản bị cướp về nhà việc cùng với tam bản của tôi. Không ai được đụng tới hai người chết để chờ cò bót tới làm "ăn kết". Đồng thời làm tờ cớ lên quận để tức tốc truy tầm tên Ó- Ba- Hạt.


*


*           *


Sáng sớm ngày ấy, Hai Quốc đi lưới sớm. Bỗng nhiên mí mắt trái giật giật, anh hơi lo: “ điềm gì đây?". Nhưng anh vẫn nhổ sào chống xuồng tách bến. Trên đường ra vàm sông cái, bất ngờ một con kỳ đà khá to từ trên bờ lội băng trước mũi xuồng. Hai Quốc chột dạ. "Kỳ đà cản mũi", phải quay về thôi, đó là điềm chẳng lành. Anh vừa đọc cuốn Gia Long Tẩu Quốc trong đó có đoạn Nguyễn Ánh chạy quân Tây Sơn tới vùng Mũi Cà Mau. Tới một khúc trên sông Ông Đốc bỗng một bầy kỳ đà lội ngang cản đầu ghe. Các tướng bàn nên quay trở lại. Nhờ vậy mà thoát một trận phục kích của Tây Sơn. Không rõ chuyện có thật hay do tác giả bịa. Nhưng Hai Quốc rất tin Gia Long chân mạng đế vương nên được thần thánh độ trì. Anh toan quay xuồng về nhưng chợt nghĩ: “Mình mới cưới vợ mấy tháng, hôm qua vợ khoe cấn thai. Bà già rất mừng sẽ có cháu nội. Mình phải ráng làm ăn mới đủ sức lo cho gia đình, nay là ba mạng, những ngày sau này sẽ là bốn người".


Vừa ra tới vàm thấy trạm gác lố nhố nhiều ghe cộ và người. Đang phân vân không biết chuyện gì thì nghe tu huýt thổi vang rân. Kế nghe tiếng quát từ trên bờ:


- Ghe ghé!


Hai Quốc cặp bến, trình giấy thuế thân. Đích thân thầy hương quản xem xét giấy tờ những người ra vô vàm sông.


- Nguyễn Văn Quốc. Giấy thuế thân ghi rõ. Hương quản mừng quýnh, nhìn châm bẩm anh thợ chài đứng trước mặt.


- Anh tên gì?


- Dạ tên Hai Quốc.


Hương quản hỏi gằn:


- Đúng là Hai Quốc không?


- Dạ đúng. Trong làng trong xóm ai cũng biết tôi là Hai Quốc, nhà ở trong xẻo, mới cưới vợ, ở chung với mẹ già.


Hai Quốc nói dài dòng để thầy chú làng lính tin mình nhưng Hương quản không cần nghe khúc đuôi. Hắn chỉ cần biết người hắn đang xét giấy thuế thân tên Hai Quốc.


- Anh bơi xuồng về nhà việc với tôi- Hương quản ra lịnh.


Hai Quốc ngẩn ngơ:


- Tôi có làm gì đâu mà thầy hương quản bắt tôi!


Hương quản chỉ trát làng viết tay dán trước trạm gác:


- Đêm qua tên cướp Ó Ba Hạt giết hai vợ chồng ông phán cướp hết vàng bạc. Mà Ó Ba Hạt tên thật là Hai Quốc.


Hai Quốc kêu trời:


- Vậy là trùng tên rồi. Tôi là Hai Quốc chuyên nghề chài lưới chớ có phải Hai Quốc ăn cướp đâu thầy hương quản!


Tới nhà việc, hương quản cho đóng trăng (đóng gông) Hai Quốc lại, kéo Cai tuần ra ngoài hỏi nhỏ:


- Mày nó đã thấy võ sĩ Hai Quốc thượng đài đấu với võ sĩ Sáu Cường trong Hội chợ Tây Đô ở Cần Thơ, mầy thấy có phải thằng Hai Quốc tao nhốt trong nhà việc đây không?


- Giống làm sao được! Hai Quốc võ sĩ và là tướng cướp bộ vó hung hăng, ngó mặt là biết "có ngầu", còn thằng thợ chài này mặt coi khờ ịch, chẳng khác nào các cha trong "dớn" (dớn là tiếng địa phương có nghĩa là vùng sâu quê mùa).


- Có chắc không? Quận, tỉnh ra thông tri dạy phải bắt cho được tên cướp nguy hiểm Ó Ba Hạt. Ai bắt được sẽ lãnh thưởng lớn. Nay mình bắt được tên Hai Quốc rồi, không lẽ thả?


Cai tuần nói:


- Thả hay không là quyền của thầy. Còn riêng tôi thì tôi biết chắc đây là chuyện trùng tên trùng thứ mà thôi. Bởi thằng thợ chài này không thể là tướng cướp khát máu Ó Ba Hạt.


Dù cai tuần nói gì, tên hương quản vẫn giải Hai Quốc lên quận. Tiền thưởng và tấm bằng khen "Bon serviteur de la France" (viên chức trung thành của mẫu quốc Pháp) có chữ ký của quan chánh tham biện Pháp, có đóng dấu đỏ chói là điều mơ ước số một của tên hương quản quyết lòng làm chó săn cho Tây.


Thế là Côn Đảo có thêm một tên tù chung thân về tội cướp của giết người. Những thầy chú trên hòn đảo ngục tù này đều thấy rõ Hai Quốc là một kẻ xấu số bị hàm oan. Không phải rà kỹ hồ sơ, chỉ cần theo dõi cuộc sống hàng ngày trong tù cũng đủ biết Hai Quốc khác hẳn với đám tù trên đảo. Tù giết người tên nào cũng xăm rồng xăm rắn đầy mình, nói năng thì đù mẹ đéo bà, lánh nặng tìm nhẹ, ham ăn hóc uống, đủ mọi tánh hư tật xấu. Còn Hai Quốc thì hiền lành, tốt bụng, sẵn sàng giúp đỡ mọi người.


Xét hạnh kiểm tốt, thầy chú trên đảo thay nhau lãnh Hai Quốc về giúp việc trong nhà- một hình thức mướn kẻ giúp việc không phải trả tiền. Dù vậy, Hai Quốc vẫn vui vẻ giúp mọi người, không phân biệt tù nhân hay thầy chú. Côn Đảo là một nơi mà hai hạng người nói trên có những mối liên hệ gắn bó kỳ lạ. Rất nhiều thầy thông ông phán "thụt két" bị tù, ra đảo được chúa đảo Tây cho làm thư ký các sở, hằng ngày mặc đồ trắng làm việc ở sở, đêm đêm mới trở về trại giam ngủ. Cuộc sống mấy thầy này đỡ khổ hơn các tù nhân khác. Hai Quốc biết trong số này có những người dân cậu, vô dân Tây, cưới vợ đầm bị oan án như ông Năm Râu (tức Võ Đình Cường), như nhà văn Bửu Đình (trước đó đã viết hai cuốn tiểu thuyết trứ danh là "Mảnh trăng thu" và "Cậu Tám Lọ".


Tuy không phải là dân thầy thông ông phán, Hai Quốc cũng được đối xử dễ dãi nhờ tánh siêng năng cần mẫn và tốt bụng. Về sau, Hai Quốc được Thầy Tư Nhà Đèn lãnh hẳn về giúp việc nhà. Từ đó Hai Quốc xem gia đình Thầy Tư Nhà Đèn là gia đình của chính mình. Các con Thầy Tư gọi Hai Quốc là Bác Hai. Năm 1930 Thầy Tư đổi về đất liền, Hai Quốc cũng đã "trả nợ" hai mươi năm trên đảo. Thầy Tư làm đơn xin nhà cầm quyền Pháp châm chước cho Hai Quốc được giảm án chung thân xuống còn hai mươi năm. Nhờ chúa đảo lúc đó là tham biện Bouvier (năm 1927) chuyển đơn với "hảo ý" nên vài năm sau, Hai Quốc được chuyển về đất liền. Nhờ sự bảo lãnh của Thầy Tư Nhà Đèn mà Hai Quốc được tự do trở về nguyên quán chớ không bị phát lưu như luật lệ hiện hành (relégué).


Trở về quê trong tỉnh Sóc Trăng sau hai mươi năm lưu đày nơi hải đảo, Hai Quốc như người xa lạ dù sông rạch vẫn còn nguyên, nhưng người xưa thì vắng bóng. Mẹ ông đã khuất núi không rõ tự bao giờ, bởi vì ngày đi đày, Hai Quốc chỉ mới hăm ba mà nay đã gần bốn mươi lăm. Nhưng đau xót nhất là người vợ trẻ và đứa con đang tượng hình trong bụng. Biết trôi giạt về đâu!


Đúng như ca dao: “Cây đa còn đó, con đò khác đưa”.


Tứ cố vô thân, Hai Quốc chợt nhớ Thầy Tư Nhà Đèn và tìm đến. Lúc đó gia đình Thầy Tư Nhà Đèn mở quán hàng xén ở Cái Nước, làng Tân Hưng Đông, một nơi khỉ ho cò gáy ở gần Mũi Cà Mau. Bác Hai Quốc ở với gia đình này cho tới cưới vợ sanh con đầu lòng vào tuổi năm mươi...


*


*           *




Hãy trở lại Ó Ba Hạt.


Khi tiếng mõ trạm gác đầu vàm sông cái vang lên, phá tan bầu không khí lặng lẽ đêm trường thì chiếc xuồng ba lá hai chèo đôi của tướng cướp Ó Ba Hạt đã đi khỏi vòng truy nã của làng lính do hương quản Tư Khị chỉ huy. Hai tên lâu la nghe tiếng mõ như quan quân hối hả đuổi theo, đâm hoảng, đang chèo ngon trớn bỗng trở nên loặt choặt.


Ó Ba Hạt cười ngất:


- Tụi bây yếu bóng vía quá! Tiếng mõ hồi một đó nổi lên từ trạm gác đầu vàm. Từ đó tới nhà làng cách xa mấy khúc rạch. Thằng hương quản Tư Khị với đám cai tuần mà tới trạm gác thì ba đứa mình đã đi "biệt mù san dã". Mà cho tụi nó bắt kịp mình, tao đố tụi nó đám xáp lại gần. Nghe tên Ó Ba Hạt nầy, ông nội thằng Tư Khị cũng không dám giỡn mặt! ... Hắn vỗ báng súng nói: cây súng săn nầy nổ một phát là ba hú một con nhạn. Đâu phải là đồ bỏ! ...


Rồi tên cướp xách giỏ thức ăn của hai vợ chồng nạn nhân mà hắn đã giết bằng dao găm, bày các món trên sạp:


- Chà, chà, đủ món ngon nghe bây: bánh hỏi, thịt quay, rau sống. Thằng cha phán này được vợ cưng quá! Có thêm một chai rượu chát nữa. Mới thấy đã phát đói rồi. Hai đứa bây coi bụi rậm nào đó lủi vô đi. Mình ăn nhậu cái đã. Xong rồi hẵng đi tiếp.


Hai tên lâu la không đợi mời hai lần, chúng đã chèo từ chiều nên giờ đã đói. Vừa mệt vừa đói, đậu lại nghỉ tay, ăn uống là đúng điệu.


Vừa ăn, Ó Ba Hạt ra lịnh:


- Hai đứa bây phải cật lực chèo trọn đêm nay, làm sao lúc trời đâm mây ngang mình phải ra khỏi Sóc Trăng này. Mình qua ranh giới hạt Bạc Liêu thì làng lính trong hạt Sóc Trăng dù có theo kịp mình cũng đứng đó mà hút gió. Tỉnh này không được quyền lấn ranh tỉnh khác. Do chỗ hở đó mà tao tung hoành khắp ba tỉnh không gặp khó khăn. Cứ trụ bộ tại vùng tam giác Phó Sinh, Vĩnh Phú, làm ăn bên Bạc Liêu rồi thì nhảy qua bên Sóc Trăng, ăn hàng ở Sóc Trăng mà "hôi ổ" thì vọt qua Rạch Giá. Bởi vậy thiên hạ gọi mình là Ó Ba Hạt chớ có ai biết tên cúng cơm mình là Hai Quốc đâu!


Nhưng Ó Ba Hạt lần này sa lưới vì chủ quan. Hắn yên chí ghé vô quán ở Đầu Sấu tha hồ ăn nhậu với số tiền và vàng cướp được ở Bãi Xào. Hai vùng này tuy gần nhau nhưng lại khác tỉnh. Bãi Xào thuộc tỉnh Sóc Trăng, còn Ô Rô, Đầu Sấu thì thuộc tỉnh Bạc Liêu. Vì Ó Ba Hạt là một hung thần cho cả ba tỉnh nên thanh tra ba tỉnh Sóc Trăng- Bạc Liêu- Rạch Giá quyết định lập đội trừ gian ba tỉnh, bắt cho được tên cướp bất nhân này.


Theo mật báo của dân chúng, làng lính siết chặt vòng vây. Cò Tây đã ra lịnh bắt sống thì tốt, nếu Ó Ba Hạt chống cự thì bắn chết luôn. Dù đi cả tiểu đội, bọn lính "chân xanh mắt ếch" (khố xanh chuyên bắt ăn cướp, khác với khố đỏ chuyên đánh giặc) rất lo sợ vì đã nghe tài thiện xạ của Ó Ba Hạt "mỗi viên đạn là một con nhạn". Nhưng rất may cho trung đội; đêm đó tên cướp say mèm khi làng lính ập vô quán như cơn lốc. Dù vậy Ó Ba Hạt cũng đã nổ súng làm trọng thương một lính.


Đưa vô khám Bạc Liêu, Ó Ba Hạt vẫn sống đế vương vì thầy chú đều ngán tên cướp giết người không gớm tay. Ai cũng sợ "cọp sút chuồng", tốt hơn là nên nương tay với nó. Ngay giờ phút bước chân vào khám, Ó Ba Hạt đã nghiễm nhiên là "Cặp- rằn". Hắn biểu dương lực lượng bằng cách cởi phắt áo ra, khoe con ó đang tung cánh, xăm trọn trên ngực nở nang. Phải khen tay nào xăm cho nó. Con ó há mỏ, vươn móng, trừng mắt, trông thật dữ. Nhưng con ó chỉ là thứ trang trí yểm trợ khí thế, còn thực lực thì tên cướp đúng là tay lưng lớn ba vừng, tướng tá vạm vỡ. Công việc đầu tiên của hắn là thách thức tên cặp- rằn cũ so tài, ai thắng làm "sơn trại chủ", đúng luật giang hồ. Chỉ vài ba hiệp là Ó Ba Hạt được "tôn vương". Thế là cuộc sống đế vương diễn ra ngay trong khám. Bao nhiêu chiếu mới đều được bộ hạ gom lại xếp thành chồng cao cho "đại ca" Ó Ba Hạt nằm. Lại có màn đấm bóp, quạt mát v.v… Còn ăn uống thì tù nhà giàu được thăm nuôi đầy đủ phải chia đôi với cặp- rằn. Cuộc sống đó khiến tên cướp hồng hào, phởn phơ, cho đến ngày kia thầy chú đưa vào cho một tù nhân mới.


Cặp- rằn Ó Ba Hạt ngó lom lom người tù mới. Cách ăn mặc cho thấy đây là tù có máu mặt. Trong đám tù mặc đồ xanh cũn cỡn, người tù mới mặc bộ đồ “soọc” kaki trắng, chân mang giày bố trắng. Rõ ràng là dân thầy hay dân cậu. Tại sao lại vô đây? Gì thì gì, phải bắt nó nạp tiền "mãi lộ" trước đã!


- Ê thằng kia, làm gì mà bị đưa vô đây? Lại đây biểu?


Nhưng người tù mới giả vờ như không nghe thấy.


Tức khí, Ó Ba Hạt hất hàm cho bọn lâu la. Lập tức ba tên nhào tới vây đánh ba mặt. Tiếng trong giới lục lâm gọi là "Bề hội đồng". Người tù mới gạt phăng tên gần nhất, bước nhanh về góc khám, nói lớn lên:


- Ma cũ ăn hiếp ma mới hả? Ma mới này khó ăn hiếp lắm, nói trước cho mà biết! Nếu mấy anh muốn thử sức thì cứ việc nhào vô!


Không đợi mời, ba thằng lâu la ồ ạt nhảy tới. Nhưng địch thủ đã chiếm vị trí thuận lợi để đương cự. Phía sau lưng và một bên hông đã được vách khám che kín. Anh dựa vô vách, đá văng thằng thứ nhất. Thằng thứ nhì vừa nhào tới bị một cú móc hàm gục ngay tại chỗ. Thằng thứ ba thất thần nửa tiến, nửa lùi bị đấm liên tục bằng hai nắm tay theo kiểu quyền Anh. Ó Ba Hạt từng là võ sĩ đã thượng đài trong Hội chợ Tây Đô mấy năm trước. Nó đã thấy võ sĩ Kid Chocolat đánh với vô địch Sáu Cường. Võ thiếu lâm nhờ ngọn cước còn bốc Ăng lê nhờ hai nắm đấm. Mỗi môn phái có thế mạnh riêng. Nhưng người tù mới này lại có đủ cả hai: cú đá cao khỏi đầu và hai nắm tay đấm lia như máy. Biết đám đệ tử trong khám là lũ cậy đông hiếp yếu, không thể hạ được đối thủ quá lợi hại này, hắn hét to lên:


- Thôi! Tui bay về chỗ đi!


Ba tên tiu nghỉu trở về bục xi măng nằm thở rống.


Ó Ba Hạt ngoắc người tù mới, nhưng người này lắc đầu:


- Mấy anh không anh hùng chút nào! Muốn thử tài thì đánh sức một. Anh này thua thì anh khác nhảy vô. Có đâu ba người ráp lại đánh một người! Nhục quá!


Ó Ba Hạt gật gù rồi ra lịnh cho em út đi gom chiếu trải kế bên mình, cười nói:


- Trước lạ sau quen. “Mời thầy lại đây nghỉ lưng”.


Chừng ấy người tù mới đến ngồi xuống chiếu. Một lúc sau y ôn tồn nói:


- Mấy anh có biết vì sao tôi vô đây không? Tôi vừa đánh thằng Tây đi thu tiền thuế đất, thuế nhà...


Ó Ba Hạt giật mình:


- Tây mà thầy dám đánh à? Đúng là thầy ngon lành hơn tụi tôi!


Người tù mới vô, cười:


- Mấy thằng Tây cà sóc quen thói ăn hiếp dân mình. Tôi đánh Tây là rửa luôn cái nhục cho mấy anh nữa đó. Vậy mà mấy anh lại đánh tôi!


Ó Ba Hạt mắc cỡ:


- Thôi xin thầy bỏ qua, tui đã nói là trước lạ sau quen mà!


Mấy ngày sau người tù mới được "tại ngoại hầu tra". Ó Ba Hạt hỏi thầy chú thì được biết người tù dân thầy có cốt cách ngon lành đó là Hoạ đồ Lý. Vụ án đánh Tây của Hoạ đồ Lý như sau:


Thằng Tây Bergier có thói hống hách với dân. Ai không có tiền đóng thuế nhà, thuế đất thì nó cho lính leo lên dỡ nhà tức khắc. Ngày ấy, nó đòi dỡ nhà bà La Thị Chia là cô của Hoạ đồ Lý. Bà Chia nhờ cháu nói với nó huỡn cho bà ba ngày để chạy tiền đóng đủ năm đồng. Thằng Tây xấc láo tát vô mặt Hoạ đồ Lý. Anh né kịp, thằng Tây nhảy tới đánh tiếp. Nhịn một lần chớ ai nhịn hai lần. Hoạ đồ Lý từng học quyền Anh khi lên Sài Gòn học trường vẽ.


Anh hụp xuống tránh đòn đồng thời đấm liên tiếp hai thoi vô ngực. Thằng Tây coi vậy mà bệu. Nó té nhào xuống rồi lồm cồm ngồi dậy chạy một mạch vô nhà thầy thông Lợi gần đó. Khi lính còng tay Hoạ đồ Lý dẫn về bót, đi ngay qua nhà thầy thông Lợi, anh thấy thằng Tây ngồi thừ bên bàn viết, sau hàng song sắt giống như con khỉ trong sở thú.


Đó là vụ án người Việt đánh Tây lần đầu tiên tại Bạc Liêu. Ó Ba Hạt còn nghe thầy chú kể thêm một chuyện nữa về Hoạ đồ Lý. Gia đình mướn thầy kiện Clairon làm thủ tục để xin cho anh được tại ngoại hầu tra. Thầy ký Ruộng là thông sự (clerc) của thầy kiện Clairon khuyên Hoạ đồ Lý nên lạy quan toà để toà cho được tại ngoại hầu tra. Hoạ đồ Lý cự ngay:


- Nếu lạy mà được tại ngoại hầu tra, tôi cũng không lạy. Huống chi tôi đã tốn tiền mướn thầy kiện để lấy lý lẽ của luật pháp biện hộ cho tôi, thì tại sao tôi còn phải lạy quan toà?


Thông sự Ruộng phải nhờ mẹ Hoạ đồ Lý khuyên con nên lạy cho được việc nhưng Hoạ đồ Lý chỉ lắc đầu: "Má cứ an tâm! Con chỉ tự vệ thôi. Thế nào toà cũng cho tại ngoại hầu tra. Không cần phải lạy cho nhẹ thể".


Ó Ba Hạt nghe thấy chú kể chuyện về thầy Họa đồ Lý, tự thấy mình đã sai lầm khi nghĩ rằng dân cậu, dân thầy là bọn "dài lưng tốn vải ăn no lại nằm", và là thứ “thư sinh trói gà không chặt”. Giờ đây, lần đầu anh ta mới thấy một người dân thầy mà võ nghệ không thua gì hắn. trái lại còn hơn hắn một cái đầu là dám đánh Tây.


Nếu hắn biết mấy năm sau, khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ Họa đồ Lý trở thành Tỉnh đội trưởng dân quân Bạc Liêu, đã chỉ huy đánh mấy trận thuỷ chiến, diệt ba chiếc tàu Tây trong tỉnh, thì hắn lại càng bái phục người tù trong khám Bạc Liêu mà hắn được hân hạnh nằm kế bên trong mấy ngày đêm ngắn ngủi.


Nguồn: Giang hồ lục tỉnh. NXB Văn học, 2002.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »