Truyện lịch sử viết về Tô Hiệu
"Chợt một giấc mơ lạ lùng đến với anh: có nhiều người cầm dao dựa, dao quắm đang mím môi mím lợi dang tay chặt cây đào của anh! Một dòng máu tươi vọt ra cùng tiếng rên rỉ thương tâm làm anh lạnh toát người. Anh thét to lên một tiếng, chạy lại gần, thì thấy trong số những kẻ đó, bên cạnh tên công sứ Cút-xô, tên chúa ngục Ga-bô-ri, tên cai khố xanh, lạ chưa, có cả một vài người đồng chí thân yêu của anh!..."
Thị xã Sơn La buồn tẻ lại vào đêm. Trên ngọn đồi Khau Cả, khu nhà tù và khu trại lính khố xanh yên ắng đến rùng rợn.
Mõ cầm canh ba tiếng đều đặn, cứ mười lăm phút một, từ chòi canh này qua chòi canh khác theo lối dây chuyền. Mõ ngắn, mõ dài, kẻng dài, kẻng ngắn. Âm thanh khác nhau, nhưng vẫn tạo nên một sự đơn điệu tẻ ngắt. Thỉnh thoảng trên những đường rải sỏi ở bên trong và bên ngoài khu nhà tù lại có tiếng giày đinh lạo xạo. Đó là những người trực tuần do trại lính khố xanh cử ra hay một người phó quản đi kiểm tra các chòi canh (một loại lô cốt có lỗ châu mai), kho bạc, dinh thống sứ v.v. Họ xách đèn bão đi bất thần. Liệu hồn những anh lính của một tốp canh nào đó ngủ gật. Mỗi ngày có vài ba tốp canh, mỗi tốp khoảng mười hai người trở lên có một đội hay cai đứng đầu, lúc sáu giờ tối thổi kèn tập hợp trước trại lính khố xanh để đi đổi gác. Mỗi tốp canh như thế lại chia ra thành bốn nhóm nhỏ, mỗi nhóm ba người thay phiên canh gác bốn lần trong một ngày tại các chòi canh. Tại những nơi quan trọng, ngoài các chòi canh còn có đồn canh - ở đó đặt bàn giấy của gác-điêng.
Đêm nay, cũng như mọi đêm, không có quy định trước về giờ giấc, bước chân của người đốc canh lại lạo xạo, lạo xạo trên đường rải sỏi.
- Ách-tơ-la! Ki-vi? (Ai, đứng lại)
Một người lính ở một chòi canh kêu lên. Lập tức có tiếng trả lời cụt lủn:
- Rông ! (Đội tuần)
Sau đó là những câu trao đổi ngắn gọn về mật hiệu. Rồi bước chân đốc canh đi đến các chòi canh khác. Lại những câu ngắn vang lên. Sau khi hết các chòi canh của khu nhà tù, đội trực tuần lại quay về cổng lớn. người lính canh ở cổng lớn quay về phía đồn canh nằm trong nhà tù, gọi to:
- Sếp đơ pốt! Vơ-nê rơ-con-net ( sếp bốt, hãy đến tiếp nhận)
Chỉ một lát sau, có tiếng mở khóa loảng xoảng: gác-điêng đã ra, đưa đội trực tuần vào ghi nhận trong sổ kiểm tra về tình hình canh gác của tốp canh đêm đó.
Trong khu nhà tù có một cái “cu-loa” (đường bao quanh) hẹp nằm giữa bức tường bao ngoài và những khu trại giam bên trong. “Cu-loa” này cũng rải sỏi. Đôi khi, đội tuần tra cũng đi một lượt khắp “cu-loa”.
Trong cái “cu-loa” của những bước tuần tra đơn điệu ấy, ít ai chú ý đến một ngách riêng biệt, gần chỗ ngoặt, ăn sâu vào tường bên trong của nhà tù. Đó là một cái buồng giam nhỏ hình tam giác, sàn xi-măng, có một cửa sổ chấn song sắt hình bán nguyệt và cửa ra vào bằng sắt. Nó tách biệt với tất cả các khu buồng, trại giam khác bởi một bức tường xây bằng gạch và đá đồng thời cách biệt hẳn với bên ngoài qua một mét đường “cu-loa” tiếp giáp với bức tường chắn bằng đá hộc vây quanh cả khu nhà tù. Đây là nơi trước kia dùng để tạm xác chết tù nhân. Ngay cạnh buồng giam đó là cửa sau của hai hố xí ăn vào bên trong. Và, một cây đào đang tuổi lớn mọc từ kẽ nứt của chân tường, những cành lá non tơ của nó xòe ngang ngực một người tầm thước. Những người tù mỗi sáng tập hợp điểm danh trước cổng doanh trại lớn để đi làm cỏ-vê (công việc khổ sai nặng nhọc) nhìn sang trái, thấy cây đào lớn từ bao giờ vẫn thường ngạc nhiên và thầm trao đổi với nhau về sự sống của nó. Một cây đào mọc dưới chân tường đá, lại ở trên đường tuần hàng ngày của cai, đội hay những người đốc canh thật không dễ dàng gì. Chỉ cần một sự ngứa mắt nào đó là a-lê-hấp! cây đào sẽ đi tong. Nhưng điều đó cuối cùng cũng không thể xảy ra. Khi có tên cai khố xanh ton hót lên Tòa Sứ tin tức giật gân này, anh em tù chính trị được thông báo ngay lập tức. Và trước khi Công sứ kịp nổi giận, Ban đối ngoại của Ủy ban hàng trại Chi bộ đã cử người đến Tòa Sứ tuyên bố cho y biết: Nếu như tính mạng của cây đào không được đảm bảo, toàn bộ anh em sẽ đình công- có nghĩa là tất cả những công việc nặng nhọc trong và ngoài nhà tù như xe nước, làm gạch, chăm vườn rau, giặt giũ cho gia đình công sứ, dọn chuồng ngựa, v.v, sẽ bị ngừng trệ vô thời hạn. Sau đó không thấy động tĩnh gì cả. Hình như rồi cả tên cai xấu bụng kia cũng nhắm mắt làm ngơ, hay quen với sự có mặt của cây đào. Một cây đào mọc ở đấy thì có ảnh hưởng gì đến lối đi, đến sự an toàn của bức tường kiên cố? Hơn nữa, trong số lính khố xanh có những kẻ mê tín rỉ tai nhau: cây đào này hình như là hiện thân của một vị thần rừng nào đó, chớ nên động vào!
Cây đào cứ thế lớn dần, vững chãi, với tất cả bản tính tự nhiên và vẻ đẹp mà rừng núi đã ban cho nó. Nhưng đúng cái lúc cây đào bước vào thời kỳ sung sức, người sống gần gũi nhất với nó lại lâm vào một cảnh ngộ hoàn toàn trái ngược. Trong gian tối hình tam giác, người Bí thư chi bộ trẻ tuổi đã yếu lắm rồi. Anh không còn đủ sức lê ra tới cây đào. Những trận ho đột ngột và dữ dội kéo dài như ném quật cái thân hình còm cõi của anh xuống sàn xi-măng rắn lạnh. Tiếng thở của anh giống như tiếng kéo bễ, có lúc lại giống tiếng thổi qua một ống sắt tây dài hun hút hay tiếng những mảnh vụn kim loại nghe rờn rợn khi xóc lên trong một cái bình thủy tinh. Anh thở hết sức khó nhọc, dường như trái đất này đang thiếu dưỡng khí một cách trầm trọng. Nhưng đôi mắt của anh muốn nói rằng xung quanh anh đang tràn đầy ánh sáng, và như vậy có nghĩa thực ra dường khí không phải là hiếm hoi! Mỗi lần nhìn ánh mắt Tô Hiệu muốn nói điều đó, những người tù đeo số vuông 1 ngồi bên anh đều thấy lòng quặn thắt. Những ngày Tô Hiệu lên cơn sốt nặng và ho ra những tia máu, ai cũng muốn tới chăm sóc anh, chi bộ CS nhà tù phải ra nghị quyết về chế độ luân phiên đến với Tô Hiệu. Mới đầu Tô Hiệu cương quyết không đồng ý bất kỳ ai trông nom anh, hay ngồi bên anh quá lâu. Nhưng điều đó đã thành quyết định của chi ủy, Tô Hiệu mới đành chịu. Mọi người đều cảm thấy rõ rệt những ngày cuối cùng của bạn tù đã tới… Nhưng không ai nói ra và cố gắng xua đuổi ý nghĩ khủng khiếp đó ra khỏi tâm trí mình. Còn nước còn tát. Những cặp mắt thâm quầng ngơ ngác vì lo âu, vì thiếu ngủ. Số lương thực dự trữ và số thuốc dự trữ quý nhất trong “Quỹ cứu tế” của chi bộ được đem ra cho người ốm sử dụng. Không còn một chút bóng dáng của sự ngại ngùng, e sợ. Sự sống của Tô Hiệu lúc này là trên hết. Quý giá biết bao một giấc ngủ tạm yên, một hơi thở nhẹ nhàng của Tô Hiệu. Những cặp mắt ghé nhìn vào và những tiếng thở dài nhè nhẹ an tâm. Những yêu sách về sức khỏe người tù đặc biệt này được liên tiếp gửi đến tòa Sứ. Có lần một y tá dân tộc đến khám và tiêm cho Tô Hiệu vài ống thuộc rẻ tiền. Người y tá cũng phải lắc đầu buồn bã. Một người tù “đặc biệt nguy hiểm” ở giữa rừng rú mịt mùng này lấy đâu ra những loại thuốc đặc hiệu mà y học lúc đó cần đến để có thể trị được cái bệnh được liệt vào một trong “tứ chứng nan y” - thứ bệnh được mệnh danh một cách ghê sợ là bệnh “cô lập” (Isolé) với mọi người! Siêu vi trùng Kốc (tên một nhà khoa học đã phát hiện ra vi trùng lao) đang hoành hành trên cơ thể thư sinh của Tô Hiệu. Nhìn vẻ đăm chiêu và cái lắc đầu chậm rãi của người y tá, những người tù đứng quanh nhìn nhau lòng tê tái.
Giờ đây Tô Hiệu không còn làm bí thư chi bộ nữa, bệnh của anh đã quá nặng, khi ra khỏi buồng giam thường phải có hai người dìu hai vai. Nhưng đã từ lâu, mọi người vẫn quen coi Tô Hiệu như linh hồn của các cuộc đấu tranh chính trị trong và ngoài tù. Những buổi hội ý, trao đổi với chi ủy vẫn diễn ra trong căn buồng giam riêng biệt. Những tài liệu quý báu vẫn được viết ra và giấu ở một nơi kẻ thù không sao ngờ tới.
Những tiếng mõ cầm canh lại vang lên đơn điệu. Bóng tối chụp lên những chòi canh nhô cao khỏi dãy tường đá trông đen trùi trũi. Người ta dễ có cảm tưởng khung cảnh đó giống một tòa lâu đài của một lãnh chúa thời Trung cổ Châu Âu. Một đôi chim từ quy kiên nhẫn khắc khoải, tiếng kêu của nó như rơi vào một nơi xa vắng mênh mông - đại dương của sự im lặng. Có điều, sự im lặng đó là sự im lặng trước một cơn giông lớn đang tới gần. Một không khí ngột ngạt bao trùm lên tất cả. Những ngọn đèn đường vốn tù mù lại bị khắc thêm những cái chụp phòng không. Cái thị xã nhỏ bé của cảnh tù đày lại càng thêm ảm đạm…
*
Một buổi sáng Tô Hiệu gắng gượng ngồi dậy. Anh lê ra khỏi khung cửa sắt buồng giam đã gỉ loang lổ. Lúc này, mặt trời còn nằm ở bên dưới tường phía ngoài, nên toàn bộ vẫn còn là bóng râm mát lạnh. Sương mù vẫn chưa tan hết. Những người tù đã đi làm cỏ-vê cả. Các khu trại giam vắng lặng. Chỉ có tiếng chim rừng lảnh lót và tiếng mõ trâu lốc cốc ven đồi vẳng lại. Tô Hiệu ngồi trên đường rải sỏi. Anh ngước mắt nhìn cây đào. Nó đã cao được gần một phần ba bức tường ngoài có gắn mảnh chai và chằng chịt dây điện trần. Lớp vỏ cây sần sùi đã hình thành, bao quanh thân hình mỏng mảnh làm nên vẻ cứng cáp. Tô Hiệu vừa ốm dậy, người anh mỏng dính, tiều tụy. Duy còn đôi mắt là vẫn sáng một cách lạ lùng, vẫn linh hoạt đón nhận những màu sắc của bên ngoài. Mấy tháng ròng, người dán chặt xuống sàn xi-măng, giờ anh mới lại được thấy cây đào. Nó thay đổi nhanh chóng quá! Sự khắc khổ đã hiện hình, len lỏi đằng sau màu xanh non của lá và màu hồng phơn phớt của hoa. Lần đầu tiên cây đào ra hoa! Tô Hiệu lặng người. Cây đào đã ra hoa! Cái điều đơn giản ấy cứ thầm thì bên tai anh. Tô Hiệu không thể chạy đến cây đào, nâng niu từng cánh hoa đầu mùa và hôn lên cái sắc hồng thoáng dịu của nó. Anh chỉ biết ngồi đúng cái vị trí mà từ đó, ánh mắt đầu tiên của anh bắt gặp cây đào nở hoa. Nhìn khuôn mặt hiền hiền hơi ngây ra vì sung sướng và ngạc nhiên lúc ấy, ai có thể nghĩ rằng con người đó vừa trải qua những cuộc vật lộn với thần chết, với những ngày tháng giá lạnh của mùa đông Tây Bắc!
Nắng đã tràn ngập đường “cu-loa”. Cây đào được tắm trong nắng sớm và dường như cũng tự tỏa một thứ ánh sáng lung linh nào đó của riêng mình. Nó làm cho màu đá xám xung quanh bớt đi cái nhức mắt quen thuộc. Thế là, màu hoa đàu đơn sơ, nguyên thủy lần đầu tiên xuất hiện trong cái nhà tù nổi tiếng được dựng lên từ năm 1908. Tô Hiệu không làm thơ bao giờ, anh thuộc về những người ưa trào phúng và thiên về lý lẽ hơn cảm xúc trữ tình, nhưng giây phút đó, anh lâng lâng trong một trạng thái tinh thần đặc biệt. Tâm trí đầy hứng khởi dẫn anh quay về những năm tháng chưa xa…
Một buổi sáng tinh sương, như thường lệ, tiếng kèn la-vầy (hiệu lệnh báo thức) dội lên từ phía trại lính khố xanh, những người tù vội vàng chạy ra sân, trước cổng lớn nhà tù tập hợp để đi làm cỏ-vê. Tiếng khóa xích cổng nhà tù kêu loảng xoảng. Ở ngoài cổng lớn có tiếng hô tập hợp của trại lính khố xanh. Những đội lính đi coi tù đã vào sân nhà tù nhận tù đi làm. “Sếp” ngục Ga-bô-ri đọc danh sách tù. Một người tù đại diện nói to:
- Ông “sếp” ngục, anh em chũng tôi có ba người lên cơn sốt rét.
Ga-bô-ri xua tay:
- Đi làm “tú”!
Đúng lúc đó, một người tù bỗng ngã lăn ra. Mọi người đổ xô lại. Vài tiếng gọi: “ Mạnh! Mạnh ơi!”
Một người tù giơ hai tay lên, giọng thảm thiết:
- Trời! Mạnh… Nó đi đái ra máu 2 hai hôm nay rồi !
Một người khác ngỡ ngàng:
- Hôm qua nó còn trèo cây đào ngoài kia mang về một vạt áo đầy cho anh em mà!
Một người ghé sát vào ngực người bạn tù nằm dưới đất, rồi lắc đầu, đứng lên, ngậm ngùi lau nước mắt. Mọi người đứng yên lặng, cúi đầu bên xác bạn tù. Ga-bô-ri vung roi gân bò:
- A-lê! Chúng mày còn đứng đây làm gì! Nó chết thì đưa ra nghĩa địa Gốc Ổi! Lính đâu, khiêng xác! Còn chúng mày, đứa nào phận nấy!
Những người tù nặng nề lê bước ra khỏi cổng nhà tù. Sân nhà tù trống không. Tô Hiệu lần từng bước trên đường “cu-loa”, đến chỗ người tù vừa ngã xuống. Anh nhìn thấy quả đào cắn dở lăn ra từ túi áo Mạnh. Anh nhặt lên và ngậm ngùi… Chốn này, hầu như chưa một ai mắc bệnh sốt rét đái ra máu mà qua khỏi. Mạnh ơi, chắc mẹ và vợ cậu đang mong cậu mỏi mắt đây. Ngày nào cậu cũng nhắc tới mẹ già… Quả đào anh nắm chặt trong tay là đồ vật duy nhất Mạnh để lại cho cuộc đời…
Tên chúa ngục đã quay trở lại, nhìn thấy Tô Hiệu, hắn sủa nhặng lên:
- Lại mày, trông thấy mày tao ngứa mắt! Mày lê la khắp các xó xỉnh trong “cu-loa”. Nhưng liệu có ích gì? Có kéo dài tuổi thọ cho mày, hoặc cho mày nghĩ âm mưu gì đó để lật đổ chúng tao hở? - Hắn cười hô hố, nhưng chợt im bặt khi nhìn vào tay Tô Hiệu, hắn xông tới giật quả đào trong tay người tù ốm yếu một cách quá dễ dàng - Cái gì thế này, mày cầm cái gì, tài liệu mật trong này hả?... Ồ, rừng Sơn La có quả này ngon đấy, lại nhiều, không phải mất tiền mua. Chỉ tội khắp khu đồi này chỉ có mỗi cây ở vườn rau nhà Tòa Sứ. Này, thứ quả này chúng mày làm thế nào ăn được ngon hơn, bổ hơn? Có nấu được rượu không, hả? Sao mày im lặng vậy, khinh tao chắc - Chợt Ga-bô-ri lùi lại - Mày nhìn tao bằng con mắt căm hờn thế kia, hở tên “Thống sứ đỏ”! Đã vào tay chúng tao thì chỉ nên ngoan ngoãn thôi, may ra còn giữ được thân mà về với vợ con.
Tô Hiệu nhổ một bãi nước bọt xuống đất, anh vẫn giữ nguyên cái nhìn làm tên chúa ngục quan hống hách phải hoang mang. Hắn làm rơi quả đào cắn dở và như người bị thôi miên.
- Này, “sếp” Ga-bô-ri! Tốt hơn cả, mày hãy về ngày với con vợ mày đi (Ga-bô-ri có cô vợ người Việt), nó đang chửi ầm lên là mày đang làm nhục nước Pháp đấy; vì hôm qua, cái việc mày ăn bẩn của tù chính trị hai ký gạo, cả tòa Sứ và trại lính khố xanh cũng đều biết cả.
Tức nổ mắt, Ga-bô-ri gào lên:
- Im mồm! Mày dám bôi nhọ tao à! - Hắn giơ roi định quật xuống, nhưng nhìn ánh mắt của người tù hắn rụt tay lại, rồi quay đi hậm hực, không quên giơ roi lên hoa tít - Liệu chừng!
Nhưng Tô Hiệu, không thèm để ý đến lời đe dọa của Ga-bô-ri, chính lúc đó đã để lòng mình vào nỗi nhớ thương u uất khôn cùng… Mạnh ơi, vĩnh biệt! Cậu yên nghỉ. Anh em chúng mình sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh. Chỉ thương cho cậu, mẹ già gần đất xa trời đang bấm đốt tính từng ngày mong cậu trở về, vợ cậu một nách hai con không biết rồi sẽ sống sao?... Mình sẽ tìm cách báo cáo với tổ chức đề nghị giúp đỡ gia đình cậu. Mai sau, anh em sẽ đưa gia đình cậu trở lại nơi này, thăm mộ cậu. Yên lòng ra đi, Mạnh ơi, cậu đã sống xứng đáng…
Sực nghĩ đến điều gì đó, Tô Hiệu lần đến chân tường đá. Trên đường “cu-loa” này, anh thuộc từng dấu vết nhỏ. Anh lúi húi bên một kẽ nứt chân tường, tìm cách cho quả đào cắn dở xuống chỗ đó, bới đất dưới lớp sỏi dày và phủ kín quả đào. Từ hôm đó, hàng ngày Tô Hiệu để giành ít nước trong chiếc ca nhỏ vừa dùng để uống, vừa dùng để rửa ráy, tưới xuống phía dưới chân tường…
Hồi ấy, bệnh lao của anh đã phát nặng. Nơi giam biệt lập của anh, nhưng tên quan Tây không bao giờ tới. Chúng gọi đấy là “Dinh thự của tên Thống sứ đỏ”, vì thế cả cái “cu-loa”, đặc biệt là gần nửa “cu-loa” bên này chỉ có bước chân của người lính tuần và Tô Hiệu. Anh được tự do đi lại trong toàn “cu-loa”, thỉnh thoảng cũng được ra ngoài cổng lớn. Nhưng kẻ thù không thể ngờ được rằng con người mang cái tử bệnh bị giam cô lập kia lại là người nắm toàn bộ những hoạt động bí mật của nhà tù và trực tiếp điều khiển những hoạt động đó. Chính tại cái sàn xi-măng hình tam giác, Tô Hiệu đã ngồi viết những dòng chữ li ti trên những mẩu giấy báo, vỏ diêm, giấy nháp, giấy cuốn thuốc - đó là những tài liệu huấn luyện chính trị. Những đêm không ngủ được vì bệnh tật dày vò cũng là những đêm thức trắng gò lưng ngồi viết tài liệu dưới ánh sáng của một ngọn đèn leo lét (Dầu thắp anh có được là nhờ một vài người lính khố xanh có cảm tình với tù số vuông mua ở thị xã).
Và một ngày kia, điều kỳ diệu tự nhiên đã xảy ra: từ hốc đá, một màu xanh đã nhô lên đón nắng và không khí. Chiều chiều, lúc đi làm khổ sai trở về, anh em tù chính trị Cộng sản đến thăm Tô Hiệu đều say sưa ngắm nghía cây đào nhỏ xíu đang vươn lên. Những người lính khố xanh cũng trầm trồ khen cây đào đẹp và mau lớn. Mỗi buổi, hết giờ làm khổ sai, những người tù rẽ thăm Tô Hiệu và cây đào có người mang cả một gói đất trong túi áo đổ vun vào gốc cây:
- Đi làm vườn rau nhà tòa Sứ, thấy đất tốt quá, lấy trộm về một ít đây. Cảm ơn quan chánh nhé! Ở đây toàn đá với sỏi thôi
Rồi mỗi người một câu vỗ về cây:
- Đào ơi, đào ơi, mày cố mà sống nhé! Số mày thật vất vả, phải lớn lên ở một nơi khắc nghiệt thế này.
- Bao giờ nó ra hoa nhỉ?
- Hai năm rồi còn gì. Có lẽ phải sang năm. Thường là ba, bốn năm đào mới bói ra lứa quả đầu tiên.
- Mình nóng lòng muốn biết hoa và quả của cái cây này nó ra sao.
- Cậu không nghĩ đến điều này à: đã chắc gì mình con ở đây cho đến khi đào ra hoa, bói quả?
Khi mọi người đã tản đi hết, người tù trẻ mang gói đất lúc nãy còn chần chừ, đứng nán lại bên cây đào. Linh tính báo cho Tô Hiệu.
- Mình chú ý từ nãy tới giờ cậu có điều gì khang khác?
Người tù trẻ không dám nhìn thẳng vào Tô Hiệu, anh vịn tay vào gốc đào, nói như sắp khóc:
- Anh Tô ơi, em rất thương và quý các anh… Nhất là đối với anh.
Tô Hiệu dịu dàng nói, anh đoán lòng người bạn trẻ có điều uẩn khúc:
- Ừ, cậu thương mình thì đi ăn cơm đi, chiều nay còn làm cỏ-vê chuồng ngựa kia mà. Cậu mệt hay sao?
- Không, anh cho em ở lại một chút với anh, với cây đào…
Tô Hiệu cảnh giác
- Cậu định đi đâu? Tạm biệt đấy à? Này tôi bảo thật, cậu đừng giở trò nhé! Định vượt ngục vô tổ chức à? Anh em đang tổ chức vượt ngục có kế hoạch hẳn hoi. Cậu quên cái đầu anh Lý treo trên cọc sắt cổng nhà tù à? Trời ơi!...
- Em không sao chịu được nữa rồi! Em đã có kế hoạch chu đáo, không làm ảnh hưởng đến ai. Em xin anh, em van anh. Em rất tin anh nên mới thổ lộ với anh. Anh đừng ngăn cản em, đừng nói với em những lời đau lòng như thế…
Tô Hiệu thấy cần phải cương quyết. Anh nhìn sát vào đôi mắt chàng trai:
- Cậu bị ảnh hưởng quá nhiều tiểu thuyết lãng mạn, phiêu lưu mạo hiểm. Không được!
Người tù trẻ bật khóc rưng rức lên cây đào.
Tô Hiệu lắc cái đầu ái ngại, anh cảm thấy rõ rệt ở trong mình cái tình thương và trách nhiệm của người anh.
- Cậu định một mình vượt núi cao rừng thẳm, vượt bao lưới bủa vây bằng thứ nghị lực yếu hèn kia. Tôi tưởng cậu phải lì lợm hơn đấy.
Người tù trẻ gạt ngước mắt:
- Trước anh, em không thể giấu được con người thật của mình. Em lì lợm sao nổi?
- Chính trong những lúc này, chúng ta phải kết thành một khối thống nhất. Phải kiên nhẫn chứ!
Người tù trẻ nhìn Tô Hiệu, chỉ nói được câu: “Anh nằm nghỉ đi, anh Tô”, rồi chạy đi.
Tô Hiệu nhớ lại một sự kiện cũng trong năm ấy… Con gái của viên giám binh Len-nê tên là Mac-gơ-rit ( Margueritte ) học ở Hà Nội, vào dịp nghỉ hè lên Sơn La. Khi được vào nhà tù ( sau một thôi một hồi thuyết phục và giận dỗi ông bố) để xem những người tù Cộng sản bản xứ có kinh khủng như những lời đồn đại hay không, điều làm cô bé ngạc nhiên và thích thú hơn cả có lẽ là cây đào. Len-nê đã sai chúa đất tuần phủ Cầm Ngọc Phương dẫn con gái vào thăm nhà tù. Mac-gơ-rit túm váy đi dò dẫm, nhìn quanh, rồi dừng lại trước cây đào nhỏ.
- Ôi, gì thế này? Cây gì vậy? Này ông tuần phủ, ông có biết cây gì đây không?
Tuần phủ cũng ngỡ ngàng nhìn cây đào một lát
- Thưa tiểu thư, nếu hạ quan không lầm thì nó là một cây đào, tiếng dân tộc Thái gọi là co má cai. Chúng mọc đầy ngoài kia.
- Từ ngày bước chân sang xứ sở nhiệt đới này theo cha ta, cứ mỗi mùa xuân, ta lại được ban bè con quan lại An - Nam tặng những cành đào tuyệt đẹp. Nhưng lần đầu tiên ta mới được nhìn thấy cả một cây đào. Mà một cây đào mọc ở một nơi như thế nào chứ? Chao, đến Vec-len 3 cũng không có được một tứ thơ như vậy!
Hai bàn tay trắng trẻo như những cánh hoa hồng bạch của thiếu nữ châu Âu chắp lại, vặn vẹo theo nhún nhảy cả thân hình kiều diễm trước cây đào non nớt được mọc lên một cách kỳ lạ. Mac-gơ-rit xuýt xoa. Đôi mắt xanh lơ ngời lên niềm vui sướng, vừa ngây thơ, vừa có gì hoang dã. Cô đã từng biết tời bầu trời xứ Náp-lơ, những đỉnh tuyết vùng Ban-căng, và bây giờ là vùng sơn cước bí hiểm của Đông Nam Á… Chợt thấy một người áo tù gầy gò, xanh xao ngồi bệt ở góc tường đang nhìn mình, Mac-gơ-rit sợ hãi rú lên, nép người vào tên tuần phủ. Khuôn mặt choắt của lão dê già nhăn lại:
- Tiểu thư kính mến, sao vậy? - Hắn nhìn theo tay chỉ của Mac-gơ-rit - À, đây là tên “Thống sứ đỏ” bị nhốt biệt lập bởi vi trùng Kốc và bởi những tư tưởng nguy hiểm đang đục rỗng con người hắn.
- Phải, cha ta đã nói trước rồi, thế mà ta vẫn cứ nghĩ là ma hiện hình. Này, mi là ai?
Câu hỏi trẻ con mang vẻ trịch thượng rơi tõm vào im lặng. Cầm Ngọc Phương sấn đến, giọng sừng sộ:
- Đây là con gái yêu của quan giám binh. Ít nhất mi cũng phải biết kính trọng phụ nữ Tây Âu đã hạ cố đến thăm mi chứ! Đứng dậy!
“Bóng ma” lên tiếng:
- “An nha”! (một cách gọi chúa đất Thái) Đề nghị ông đừng làm ầm ĩ lên như vậy, điều đó không phù hợp với ông đâu, nhất là khi đi bên một người đẹp như thế này.
Mac-gơ-rit reo lên - bản năng hồn hậu của người thiếu nữ trong cô ta chưa bị thói hợm hĩnh ngu xuẩn giết chết:
- A, hắn đã cất tiếng nói rồi! Mà không phải tay vừa đâu nhé. Ông tuần phủ thế là thua một keo rồi nhé! Thôi, cảm ơn ông, ông có thể đi làm việc riêng của ông. Tôi muốn nói chuyện với tên tù này - Thấy Cầm Ngọc Phương chần chừ, Mac-gơ-rit hét lên:
- Ông đi đi, tôi không cần đến ông nữa!
Tên chúa đất hơi khom lưng xuống.
- Thưa tiểu thư, mong tiểu thư xin nhớ lời căn dặn của quan giám binh…
Mac-gơ-rit giẫm chân bành bạch:
- Thôi đi, ta đã có quá nhiều gia sư và bảo mẫu rồi. Ta cần được tự do!
Cầm Ngọc Phương đành quay trở ra, không quên chỉ tay dọa người tù:
- Liệu hồn đấy, mi mà xúc phạm đến tiểu thư thì sẽ mất xác!
Vừa khuất bóng tên tuần phủ, Mac-gơ-rit đã nói bằng giọng mềm mại, trong vắt:
- Ông nói và nghe được tiếng Pháp chứ? - Người tù gật đầu miễn cưỡng - Xin lỗi ông vì sự khiếm nhã vừa rồi của tôi. Xin được hỏi ông: Cây đào này là do ông trồng?
- Vâng, do chúng tôi trồng, bằng chính hạt của nó. Để giải trí thôi mà!
- Tôi rất vui sướng được chiêm ngưỡng cây đào này của ông. Chắc là ông muốn tên tuổi lưu truyền hậu thế bằng cây đào này?
Tô Hiệu lắc đầu,
- Không phải. Xin lỗi, cô đã tỏ ra thông minh không đúng chỗ. Chúng tôi làm điều đó chỉ vì nó cần và có thể mọc được ở nơi này.
Mac-gơ-rit nhún gót đi quanh cây đào, thản nhiên hỏi:
- Các ông sống ở đây thế nào?
- Cảm ơn, cũng tàm tạm đấy, nếu cái sàn xi-măng mà chúng tôi đang nằm được thay bằng nệm bông thì có lẽ tốt hơn, và nếu mùa đông lạnh lẽo đến, mỗi chúng tôi được một chiếc áo ấm thì cũng không đến nỗi nào. Dĩ nhiên là lòng tốt của những người gần gũi cô đối với chúng tôi - nếu như quả là có thì cũng chỉ là ít ỏi, thông thường đó chỉ là sự mua chuộc giả dối và đê tiện. Chúng tôi trong phần lớn trường hợp thường chỉ trông vào bản thân mình.
- Thế cây đào của ông cũng là một trong những trường hợp đó?
- À, cái này thì… không đơn giản chỉ như vậy.
- Tôi hỏi thế này xin ông tha lỗi: liệu những công việc mà ông làm sẽ được đồng bào của ông đánh giá thế nào? Ví như cây đào này chẳng hạn?
- Thú thực là tôi chưa hề nghĩ đến điều này
- Các ông tin rằng, các ông sẽ chiến thắng?
Tô Hiệu nhìn về phía cây đào. Anh mỉm cười và nghiêng mình tỏ vẻ lịch sự:
- Cây đào này có thể có sức thuyết phục hơn những lời nói của tôi, thưa tiểu thư.
Mac-gơ-rit lắc đầu, vẻ hoài nghi và ái ngại:
- Nhưng liệu ông có sống nổi đến lúc ấy không?
- Điều đó đối với chúng tôi lại không thành vấn đề. Con cháu chúng tôi sẽ đến thăm cây đào trong một cảnh ngộ hoàn toàn khác chúng tôi hiện giờ. Chắc chắn vậy.
- Xin lỗi ông, ông đã lập gia đình hay chưa? Ông có thể cho biết bà ấy làm gì, nếu ông vui lòng?
Tô Hiệu đã cảm thấy chối trong cuộc đối thoại chẳng đâu vào đâu này; vả lại anh cũng đã thấm mệt. Nhưng cứ thử xem con bé tinh quái này tuân lệnh bố nó, hoặc công sứ, chúa ngục, sẽ giở những trò gì đây? Anh đã được nghe một người lính khố xanh kể qua về đứa con gái này của viên thượng cấp “Trại gác bản xứ”. Những điều anh nói liệu có lọt tai một đứa con gái đang sống trong sự xa hoa phè phỡn trên mồ hôi xương máu của đồng bào anh? Một cảm giác hầu như ghê tởm dâng lên làm anh nghẹt thở. Những ý nghĩ của anh chợt bùng ra:
- Cảm ơn cô đã hỏi về chuyện riêng tư của tôi. Đây này, nếu tôi có vợ, thì người vợ của tôi sẽ là… một trong rất nhiều người phụ nữ đau khổ vì những chính sách thực dân tàn bạo, phải đứng dậy chống bọn xâm lược Pháp. Trong số kẻ thù không đội trời chung của chúng tôi, có ông bố tốt bụng của cô đấy!
Tô Hiệu ôm ngực ho. Tuần phủ và “sếp” ngục bước tới, chúng đã nghe được những lời vừa rồi.
- Thưa quan “sếp” ngục, quả là không phải là tôi đặt điều đấy nhé!
Ga-bô-ri vung roi gân bò quật người tù và rống lên:
- Này, đây là ngục Sơn La này! Đồ khốn kiếp!
Mac-gơ-rit ôm mặt, kêu lên:
- Thế này là thế nào? Người tù này đang bệnh tật, ốm yếu. Ga-bô-ri, yêu cầu ông không được đụng đến người ta. Tôi không hề bị xúc phạm, ông nghe rõ chứ!
Ga-bô-ri vẫn không ngừng quật roi túi bụi, trút hận thù đã tích tụ từ lâu của hắn xuống thân hình tơi tả của người tù. Tô Hiệu ngã dúi xuống, lại gượng đứng lên, rồi anh không đủ sức đứng lên được nữa, chỉ ôm ngực quằn quại.
Ga-bô-ri vừa đánh vừa nói:
- Cần cho chúng những bài học đích đáng, thưa tiểu thư.
Mac-gơ-rit chạy đến giằng roi từ tay tên chúa ngục đang say máu.
- Tôi phản đối! Tôi sẽ kể lại hành vi tàm bạo, bỉ ổi này của ông trên báo chí Hà Nội.
Tên đao phủ nhe cả hàm răng cải mả ra cười khi có một người “phái đẹp” định tô điểm thêm cho cái sức lực trâu bò của hắn.
- Ấy, thưa tiểu thư kính mến, tiểu thư quá nóng nảy rồi. Không sao, lúc tiểu thư tỏ cơn giận dữ thì càng đẹp mê hồn…
Mac-gơ-rit vênh mặt lên:
- Ông đừng giở giọng dân hạ lưu xứ Cooc-xơ ra với tôi. Mời ông đi ra khỏi đây! Tôi sẽ kể lại chuyện này với ngài công sứ.
Không hiểu do quyền lực của người đẹp hay do uy phong của công sứ, tên chúa ngục khét tiếng hung bạo trở nên khúm núm, nhã nhặn.
- Xin vâng lệnh tiểu thư. Cũng mong tiểu thư sớm ra khỏi đây ngay - Hắn giơ roi về phía người tù - Cấm mày không được nói chuyện với tiểu thư ! Liệu cái thân xác mày!
Hắn khệnh khạng bước đi, không quên quật roi túi bụi vào cây đào. Cành lá rụng tơi tả. Mac-gơ-rit giơ cả hai tay ôm lấy mặt.
- Trời ơi! Tàn bạo! Tàn bạo khủng khiếp. Tôi không sao chịu đựng nổi.
Cầm Ngọc Phương hốt hoảng:
- Chết, mong tiểu thư bình tâm lại. Xin mời tiểu thư đi ra ngay cho.
Mac-gơ-rit nhìn tên quan bản xứ từ đầu đến chân, vẻ khinh miệt ra mặt:
- Các ông là những con thú chứ không phải là con người. Tại sao Thượng đế chưa trừng phạt những con quỷ Sa- tăng trong con người các ông!
Lời của Tô Hiệu bỗng nhẹ nhàng cất lên từ một góc chân tường đá:
- Thưa cô, chúng tôi rất thông cảm với cô, không oán trách gì cô cả. Nhưng… cô đã sang đây theo chân những tên lính viễn chinh xâu xé một đất nước bé nhỏ đáng thương. Và những hành động tàn bạo của chúng cũng đang bảo vệ cho sự an toàn của cô trên mảnh đất này đấy thôi!
Như bị một cái tát bất ngờ, Mác-gơ-rít quay phắt lại nhìn trừng trừng, chỉ một lát sau mới nói được như trong mê sảng:
- Trời, sao ông lại nói những lời nhẫn tâm như vậy ?
Tô Hiệu chua chát:
- Có gì lạ, họ còn nói chúng tôi là khát máu, là cuồng tín, là những kẻ không gia đình, không quê hương, không Tổ quốc nữa kia!
Mác-gơ-rít chợt nhớ lại không sót một lời của bố trước khi cô vào đây: “Đó là một chốn nguy hiểm, đáng lẽ con không được bén mảng đến…Nhưng con đã nhất quyết thì ta đành nhượng bộ. Con phải cảnh giác nếu gặp một tên Cộng sản bị lao nặng, hắn đã từng làm Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Thực ra, con cần biết hắn làm gì, khi qua ngón tay xinh đẹp của con, lật trang sách, sẽ hiện lên chân dung thật sự của hắn - “Mặt nạ Cộng sản”? (đó là tên cuốn sách của một tác giả Pháp được lưu hành rộng rãi trước Cách mạng).
Lập tức, như một phản xạ, Mac-gơ-rit gay gắt hỏi:
- Ông muốn gì ở tôi?
Người đáng được thương hại bây giờ chính là cô gái kiều diễm kia chứ không phải là anh. Tô Hiệu hiểu rõ điều đó, giọng của anh không còn lạnh lùng như vừa nãy:
- Đừng sợ cô gái ạ. Tôi chỉ muốn nói lên một vài sự thật giúp cô và những người lương thiện ở nước cô hiểu rõ hơn về đất nước chúng tôi. Còn cô là một người biết thương xót cho một cành đào vô tội, chắc sẽ biết thương xót và muốn bảo vệ cho một đất nước nhỏ bé đang bị bọn xâm lược đọa đày.
Tên tuần phủ không còn giữ được bình tĩnh vốn có của hắn nữa:
- Câm ngay, thằng tù ruỗng phổi! Mày lảm nhảm những gì vậy?... Thưa tiểu thư, nó là một thằng bị lao nặng, rồi biến chứng thành mất trí đấy. Tiểu thư không nên nán lại ở đây phút nào nữa!
(còn một kỳ)
NAT.
Tác giả gửi www.trieuxuan.info |