tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
09.05.2012
Lê Hoài Lương
Lỗi tại mẹ Âu Cơ

1- “Đó là tiền định. Mẹ không có quyền lựa chọn thay vì đẻ một bọc trăm trứng nở ra cùng lúc trăm đứa con sàn sàn nhau hay là đẻ từng đứa có vai vế anh em rõ ràng.”


     “Dẫu sao thì chúng con cũng luôn tự hào rằng tất cả là đồng bào. Cùng một bọc cũng hay chớ sao. Nhưng mẹ là Tiên, cha là Rồng, đây mới là lý lịch dòng dõi đè nặng trên vai chúng con mấy ngàn năm qua. Người ngoài ngạc nhiên đã đành, chúng con vừa tự hào vừa ngạc nhiên không kém. Sao cha, mẹ không phải gốc người, không cùng chủng cùng loài mà sinh con, lại là những đứa con không hề kế thừa chút nào tinh tuý của cha Rồng mẹ Tiên? Những đứa con phải chia tay nhau sau đó lên rừng xuống biển lập nghiệp và đã có quá nhiều lần huynh đệ tương tàn, nhiều lần buộc phải giải quyết bằng cách chia để trị. Chúng con đã không thể mạnh lên vì cứ bằng vai phải lứa thì ai chịu nhường ai. Và vì sao không ai trong chúng con kế thừa được tinh tuý con dòng cháu dõi?”


     “Mẹ đã nói đó là tiền định. Cho tới giờ mẹ cũng không biết vì sao có cuộc nhân duyên giữa cha và mẹ. Đúng ra mẹ muốn mình là người bình thường để có cuộc sống bình thường như các con sau này. Để, nếu được làm mẹ một lần nữa, mẹ sẽ có niềm hạnh phúc bình thường với người đàn ông mẹ yêu và lóng lánh những giọt mồ hôi trong cơn đau trở dạ.”


     “Sao mẹ không lựa chọn điều đó khi làm mẹ chúng con?”


     “Mẹ không được quyền lựa chọn. Mỗi dân tộc được sinh ra đều có những bi kịch riêng, những bí ẩn riêng.”


     “Sau cuộc chia tay vĩ đại ấy, có khi nào cha và mẹ gặp lại nhau?”


     “Có chứ. Thường xuyên trong những lần các con nhắc tới dòng dõi mình.”


     “Không phải, ý con là cha mẹ bất tử bất lão, có khi nào gặp lại nhau để tái hôn và làm cuộc sinh nở khác hợp lý hơn lần đầu? Và có thể sẽ có một dân tộc tinh tuý thực sự?”


     “Ta không thiết tha lắm không hy vọng lắm cuộc sinh nở nào khác. Bấy nhiêu chưa đủ khổ cho các con ư? Và ai biết cho dù lần sinh sau của ta đẻ thứ tự từng đứa thì chúng không tàn hại nhau, riết róng nhau như bây giờ?”


     “Vậy thì mọi thứ lỗi ở chúng con? Lỗi ở chỗ chúng con đứa nào cũng muốn làm vua, đứa nào cũng có thể làm vua?”


     “Không hẳn. Các con cũng từng có những vị vua tốt được nhân dân muôn đời ngợi ca đấy chứ. Có nhiều tượng đài được dựng lên để hậu thế chiêm bái. Điều này thì con biết quá rõ còn gì.”


     “Vâng, nhiều tượng đài. Nhưng không có tượng đài nào cho thuỷ tổ là cha mẹ. Điều này có bình thường không? Hay là nguồn gốc chúng con có gì đó chưa thật sáng tỏ? Hay là cha và mẹ không thật? Hay là biết không phải nhưng chúng con cứ dựng nên gốc gác mình cho sang? Hay là…”


     “Ta không trách con những băn khoăn nghi ngờ. Ngay cả ta còn ngờ ngợ huống chi… Nhưng thôi, chẳng lẽ mẹ con ta cứ loay hoay mãi về vấn đề nguồn gốc của các con mà ta đã nói là tiền định.”


     “Vậy chúng con, để cũng cố niềm tin bằng cách dựng tượng đài cho cha và mẹ thì mẹ giúp chúng con chứ?”


     “Ta sẵn lòng. Không có gì khó khăn trong chuyện này cả. Nhưng lâu nay ta và cha con đã từng có tượng đài rất vững chắc trong lòng các con đấy thôi, tượng đài không thể phôi phai theo mưa nắng, thời gian. Vì sao bây giờ phải làm tượng đài thật. Có ai đó nghi ngờ nguồn gốc xuất thân của các con chăng?”


     “Một nguồn gốc xuất thân sang trọng như thế việc gì nội bộ chúng con nghi ngờ, dù rằng, thật ra chúng con chẳng thương yêu nhau lắm. Chúng con chỉ gắn kết với nhau khi thấy có nguy cơ bị tiêu diệt. Chỉ vì cứ loay hoay mãi chúng con vẫn thấy chưa xứng tầm với gia phả. Và có thể người ngoài sẽ bảo chúng con là những kẻ khoác lác?”


     “Thật đáng tiếc, ta chẳng giúp gì cho các con trong vấn đề nội bộ. Còn người ngoài không ai quan tâm đến thành phần xuất thân của người nước khác. Xứ sở nào chẳng có cái cách riêng của mình để hình thành một cộng đồng đáng tự hào. Sự hùng mạnh mới có sức thuyết phục chứ không phải gia phả.”


     “Mẹ có thất vọng về chúng con không, trong chuỗi dài mấy ngàn năm tự khẳng định mình?”


     “Không. Ta đã chẳng giúp được gì cho các con khi từ cách sinh ra, các con đã tự gánh lấy một sứ mạng nặng nề. Sự tồn tại mấy ngàn năm đã là khẳng định. Nhưng có chút âu lo là các con đã quá hãnh diện về sự tồn tại này.”


     “Đôi khi chúng con nghĩ dại rằng đất nước nghìn năm của chúng ta những thời điểm nguy nan là thực sự tốt đẹp. Khi ấy chúng con khá hơn nhiều, yêu thương nhau, đoàn kết tạo ra sức mạnh đáng kể và kẻ thù hùng mạnh nào cũng bị đánh bại. Thời bình lại lắm thói hư tật xấu, lại tranh giành xâu xé nhau. Sẽ có cách nào đó thoát ra khỏi tình trạng này, mẹ hãy giúp chúng con!”


     “Giá như mẹ có thể.”


     “Vì sao?”


     “Các con không ai chịu ai. Mọi xưng tụng nếu có cũng chỉ vì mục đích có lợi. Cũng đành, như đã nói với nhau, chuyện này không phải lỗi ở các con. Nếu cần một lời khuyên, ta chỉ nói rằng, hãy giảm bớt niềm kiêu hãnh!”


     “Làm sao biết được mức nào là kiêu hãnh cần thiết?”


     “Ta không biết thế nào là kiêu hãnh cần thiết. Nhưng hãy nghĩ cách làm sao cho tương lai tốt đẹp hơn là cứ tổ chức những cuộc tán tụng nhau về quá khứ.”


     “Thực ra vì như con đã nói, chúng ta chỉ giỏi đánh giặc để tồn tại. Chúng con chỉ thật giỏi giang khi đất nước lâm nguy. Khi cầm gươm cầm súng chúng con cũng nghĩ là vì tương lai tốt đẹp hơn đấy chứ?”


     “Giặc đến thì đánh, đó là lẽ tự nhiên. Đánh đuổi giặc để bảo vệ nòi giống, đó là điều tốt. Nhưng hùng mạnh để không ai dám bức hiếp mới là thật đáng tự hào. Sao không bảo ban nhau vì mục đích bền vững lâu dài và là cơ sở căn bản cho độc lập tự chủ thực sự này?”


     “Chúng con không ai chịu ai… Cùng một tiếng nói mà mỗi vùng miền đã phát âm khác nhau… Kẻ thô mộc chê người kinh lịch giả trá; người đô hội có ý phô trương văn minh khai hoá… ai cũng tự hào về cái điều vụn vặt vùng mình, nhà mình và rất thích dùng chữ truyền thống. Chữ truyền thống được lạm dụng đến mức nó ngơ ngác với chính mình rồi thành một món lẩu thập cẩm tha hồ mọi người vứt bừa vào đó thứ gì mình khoái khẩu, thậm chí chỉ là thứ sẵn có trên tay chớ không cần lựa lọc… Thực tế này mỗi thời một khác nhưng nó là một thứ mặc cảm tự tôn đã ăn sâu trong máu thịt. Mẹ hãy giúp chúng con hoá giải…”


     “Phải, lỗi tại ta, cơ sự này…”


 


2.


     Vua nói: “Ta thoái vị thôi. Muôn dân đang trông chờ người tài đức hơn ta để gánh vác trách nhiệm này.”


     Hội đồng bô lão nói: “Ngài cứ tại vị. Chúng tôi biết ngài không có tài nhưng ngài cần cho chúng tôi. Như thế là quá đủ.”


     Vua nói: “Nhưng còn dân chúng? Và đất nước đang phải nhịn nhục, bị o ép nhiều phía? Ta biết mình không được học hành tử tế, không được đào tạo căn bản để làm vua.”


     Hội đồng bô lão nói: “Ngài từng biết nước ta có nhiều vị vua không hề được học hành tử tế, không được đào tào căn bản để làm vua. Dân chúng thì thời nào cũng vậy, họ luôn đòi hỏi. Họ đang ở xa. Chúng tôi mới trực tiếp bỏ phiếu cho ngài. Ngài sẽ không chịu thiệt đâu.”


     Vua nói: “Nhưng đời sau sẽ lên án, nguyền rủa chúng ta tham quyền cố vị, làm suy kiệt đất nước. Càng lúc ta càng thấy muôn dân coi thường triều đại mình. Các ngươi không thấy sao?”


     Hội đồng bô lão nói: “Thì có riêng triều đại ta đâu, lịch sử có khối ra đấy. Tiếng thơm tiếng nhơ. Vả lại, đã chắc gì người khác giỏi giang hơn. Ngài cứ an vị.”


     Vua nói: “Thôi thì ta nghe theo các ông. Ở ta còn có những vị trí ngoài luật. Nhưng các ông đừng vì thế mà quá quắt.”


 


3.


     Người dân 1 nói: “Sắp tới chúng ta sẽ giàu có sung sướng. Mới có chiếu vua ban rất quan tâm đến quyền lợi đám dân đen chúng ta.”


     Người dân 2 nói: “Đúng là một bậc minh quân!”


     Người dân 3 nói: “Sắp tới bọn quan lại không còn nhũng nhiễu dân chúng nữa. Mọi người đều bình đẳng và hành xử theo luật.”


     Người dân 4 nói: “Vừa rồi nhà vua đã ra chiếu nhận lỗi với muôn dân vì có quá nhiều sai phạm nghiêm trọng của quan lại trong triều. Chắc chắn bọn này sẽ bị nghiêm trị. Dân tộc ta thật có phúc!”


     Người dân 5 nói: “Lạy trời, đời ta tận hiến không uổng. Con cháu ta sẽ được sung sướng.”


 


     Quan 1 nói: “Dân vẫn còn tin chúng ta!”


     Quan 2 nói: “Sẽ cho họ chút ít quyền lợi. Bản chất của đám đông là cả tin. Nhưng đừng cho nhiều quá. Được voi họ sẽ đòi tiên!”


     Quan 3 nói: “Mềm nắn rắn buông.”


     Quan 4 nói: “Sẽ có nhiều lễ hội, nhiều vui chơi giải trí tập thể. Người dân sẽ hài lòng vì được xã hội quan tâm. Đây là một kiểu tín ngưỡng mới của chúng ta.”


     Quan 5 nói: “Huy chương và bằng khen không hạn chế số lượng. Thứ tự rồi đều có cả.”


 


4.


     Tất cả các dòng sông đều chảy.


     Núi, đồng bằng và biển.


     Nắng.


     Mưa.


     Gió bão.


     Mỗi mùa một khác.


     Mặt trời lúc ẩn lúc hiện đi qua bầu trời ngày ngày. Mặt trăng lúc mọc lúc lặn đi qua bầu trời đêm đêm.


     Những bông hoa cứ tàn rồi nở. Nở để rồi được tàn úa.


     Một đứa bé đang hình thành bảo: “Tôi có quyền không sinh ra chứ?”


 


5.


     Mẹ Âu Cơ nghĩ ngợi lung lắm. Bà có điều khó xử. Chẳng lẽ cứ để mọi thứ diễn ra theo quy luật, hết mưa rồi nắng hết thịnh lại suy? Trong cái hữu hạn đời người rất không thể lựa chọn sống thời thịnh, cũngkhông thể biết mức nào là cực thịnh cực suy. Đám đông con bà phải bám vào ảo tưởng thường trực để tồn tại. Số ít tầng lớp trên thì tham lam, ma mãnh. Lỗi tại ta, bà nghĩ, có thể sẽ làm lại một cuộc “vượt cạn”. Một thế hệ mới sẽ ra đời cho đất nước phồn vinh. Nhưng liệu chúng nó có thực muốn ta sinh nữa không? Và những đứa con trong lựa chọn sửa sai của ta có muốn chào đời?


 


Suối Trầu, 20 – 6 – 2006


 


DI TẢN


 


Đàn kiến đã đang di tản. Như dòng họ của chúng từng di tản cách đây ngàn vạn năm. Có một điều lạ, kiến thì đen mà trứng, con non của chúng thì trắng, trắng phau. Và thêm một điều nữa, kiến không biết tiếng người. Nhưng có một người nghe được tiếng kiến. Người đó là vợ tôi. Dù rằng vợ tôi ít học chưa hề biết có cuộc di tản vĩ đại của con thuyền Noah mà thượng đế đã thương tình cứu vớt loài người và vài cặp con vật. Chúa bảo với Noah “Hãy chấm dứt các thú vui xác thịt trước mắt ta, trái đất dẫy đầy bạo lực cũng vì điều này. Và lúc này ta sẽ huỷ diệt con người trái đất. Ngươi hãy tự biến mình thành chiếc thuyền lớn bằng gỗ gopher…Lúc này ta sẽ mang đến trận Hồng thuỷ- nước phải bao phủ trái đất tiêu diệt mọi sinh linh nơi đó”. Dù đọc nhiều lần sách Sáng Thế, sự việc cách đây cũng ngàn vạn năm tôi còn chưa nhớ huống chi. Chuyện này không bàn thêm nữa.


Đàn kiến đã đang di tản. Cả cha con chồng vợ. Tất nhiên sau này rất lâu vợ tôi mới nói cho tôi biết vì sao hôm đó đàn kiến di tản. Lũ kiến nói với nhau: “Chúng ta phải tự cứu lấy mình!” Điều này không hề làm tôi xúc động. Thật đấy. Cuộc sinh tồn khốc liệt bây giờ đã dạy tôi quá biết. Nhưng vợ tôi thì ngạc nhiên. Đời nàng quá suông sẻ. Tôi yêu nàng và nàng triền miên ngủ. Ngay cả lúc làm tình. Tôi không hiểu vì sao với tất cả những người phụ nữ tôi từng chung đụng không ai ngủ lúc ấy mà vợ tôi vẫn ngủ. Có lần tôi hỏi lúc nàng thức dậy rằng vì sao em ngủ nàng bảo nàng thích ngủ, tôi còn biết giải thích thế nào, hở trời? Nhưng đó là vợ tôi, chuyện nội bộ, hãy để chúng tôi tự giải quyết, đừng ai xía vào. Bởi vì, đàn kiến đã đang di chuyển, không, đang di tản. Và chuyện này có can hệ rất lớn. Với mọi người, tôi nghĩ thế.


Di tản là bản năng sinh tồn. Người anh ruột của vợ tôi, thiếu tá quân đội Sài Gòn đã di tản và anh  bị một người cấp dưới của mình gõ vào sọ một phát để sau đó bị xẻ thịt cứu đói cho cả thuyền đang lạc đường trên biển, trong lộ trình tìm “đất hứa”. Không thể đòi hỏi rằng đáng lý anh gõ vào sọ thằng đó mới phải. Chuyện sinh tồn chưa bao giờ có màu sắc cấp trên hay cấp dưới. Tôi hiểu, quá hiểu, nhưng vợ tôi thì không. Và nàng ngủ. Đó là quyền của nàng. Tôi không máu mủ gì với thiếu tá. Thậm chí nếu gặp nhau trước đây, tức là thời chiến tranh có khi tôi và anh vợ tôi bắn nhau không chừng.


Nhưng tôi đang kể chuyện đàn kiến đã đang di tản.


Một lần khi hoàn toàn thất nghiệp, về căn bản tôi luôn thất nghiệp, tôi lên rừng tìm bắt trứng kiến về bán cho đám người thành phố thích chơi chim. Thời ăn sung mặc sướng bây giờ ở phố ai cũng thích chơi chim nên mỗi chuyến đi tôi kiếm cũng được vài ngày hồn nhiên ru vợ ngủ. Chỉ đột nhập gấp gãy mới kiếm được đủ tiền cho điều mới nói. Đám kiến, đừng tưởng, chúng thính nhạy gấp ngàn lần con người về thông tin nguy hiểm, hay có thể nói cách khác, con người không đến nỗi ngu ngơ nhưng về nguyên tắc, đứa này chết là niềm vui của đứa khác, bi kịch của người này là hạnh phúc của người kia. Phải không? Nhiều lần tôi hỏi bạn bè, bạn bè chỉ cười cười, nói chung chung. Nhiều lần tôi hỏi vợ tôi, nàng chưa kịp trả lời thì đã ngủ. Vậy tôi hỏi mọi người bằng câu chuyện này.


Bọn kiến di tản hẳn có lý do riêng. Vì có lần vô công rồi nghề, tôi cứ ngồi từ sáng tới tối bắt những con kiến lang thang kiếm ăn thả vào bẫy cát của đám cút. Những con cút cụt đuôi. Tôi thích thú nhìn những con kiến bị nạn không lên khỏi những hạt cát mịn hình nón ngược. Có vẻ tôi hài lòng vì ít ra tôi cũng có  thể tiêu diệt được vài sinh linh. Vợ tôi bảo, kiến có tổ chức tốt lắm, những con đi không, là sếp, dù sếp này không phải do cộng đồng kiến bầu. Đừng tưởng, kiến mê tín hơn người. 


Hôm qua vợ tôi kể cô Thảo bỏ chồng, đúng ra là không thể không bỏ đi vì bị chồng đánh quá dữ. Chồng say xỉn triền miên, mới ngoài ba mươi đã hết xí quách theo cách nói của mọi người. Chuyện chồng cô thượng cẳng tay hạ cẳng chân bàn dân thiên hạ chẳng lạ gì dù cô bán quán nhậu bình dân và nuôi heo rất giỏi. Cô không hẳn nhan sắc nhưng rất ấn tượng ở cái vẻ rừng rực, nhất là khi chồng cô cứ bạ đâu ngủ đó, bất chợt tỉnh say lại tìm về đè nghiến cô ra. Chắc chắn cô không thể hài lòng. Cô cũng là người chớ không phải kiến- liên tưởng này không chắc lắm nhưng tôi cứ nói đại khái thế- cô là người. Ai cũng biết cô trai gái với vài thằng trong vùng. Sểnh ra là trai gái. Một lần chồng cô rình và bắt được sau khi giả bộ say về nhà cha mẹ ngủ như mọi khi, như mọi khi trốn vợ, như mọi khi say xỉn, và vẫn như mọi khi luôn lè nhè chưởi đứa nào bảo vợ mình trai gái. Thảo đã rơi vào bẫy. Dù không bắt quả tang nhưng vết tích giữa đùi cô chưa kịp phi tang không thể cãi được. Và nó đánh. Chồng nó đánh rất tàn bạo ngay lúc ấy. Nếu không có người hàng xóm tốt bụng qua ôm giữ cho cô thoát chạy luôn trong đêm mất dạng, án mạng như chơi. Vợ tôi hùa với hàng xóm lên án Thảo. Nhưng có vẻ như vợ tôi và hàng xóm ganh tị với người đàn bà này. Họ không dám làm như cô. Và ganh tị, trong những dè bỉu về đức hạnh. Thực ra đức hạnh là điều gần như không thể luận bàn cũng như chỉ có thể quan sát bề ngoài chuyện đàn kiến di tản. Trừ vợ tôi ra, tôi thách cả thế giới này biết được vì sao kiến di tản.


Đấy, đàn kiến vẫn đã đang di tản. Theo một trật tự, kỷ luật rất bí ẩn chỉ vợ tôi biết. Nhưng vì luôn ngủ và ít học nên vợ tôi không thể biết thông tin mới nhất trên mạng Internet về những “đại gia” có tiền gởi các ngân hàng uy tín nhất thế giới. Tới vài trăm. Phần đông số này là tai to mặt lớn. Phần đông có vẻ rất liêm khiết. Do đâu họ nhập hàng giàu có nhất nước tôi, tôi còn chưa hiểu huống chi vợ tôi, người liên miên ngủ và nghe được tiếng nói của lũ kiến. Nhưng rõ ràng kiến cũng không biết rằng đây là một  kiểu di tản của con người. Nhưng rõ ràng kiến mê tín hơn người và sau này rất lâu vợ tôi mới cho tôi biết vì sao đàn kiến đã đang di tản.


Vợ tôi bảo kiến cũng ăn kiến chớ không riêng gì chuyện người ăn người. Chuyện ông anh thiếu tá Sài Gòn của nàng bị thằng cấp dưới gõ một phát vào sọ và bị xẻ thịt không hề nguôi ngoai trong nàng. Liệu nàng triền miên ngủ, cả trong lúc làm tình có phải là một kiểu di tản? Khi mà nàng cũng đồng tâm nhất trí với những người phụ nữ chung quanh lên án đức hạnh cô Thảo. Dù sao tôi vẫn cứ yêu nàng. Dù đàn kiến không bao giờ dự báo sai thời tiết để chết hàng loạt trong mưa bão như con người. Con người liên miên dự báo sai và không ngừng nghỉ tàn sát nhau chớ không riêng chuyện thiếu tá anh của vợ tôi bị thuộc cấp gõ một phát vào sọ rồi bị xẻ thịt. Cả khi no con người cũng tàn sát nhau.


Vợ tôi luôn có lý do để triền miên ngủ và dè bỉu đức hạnh giống cái trong đời. Cả khi nghe một nhà thơ ngợi ca nàng vọng phu bồng con chờ chồng mà hoá đá. Nàng bảo giả dụ là nàng thì nàng để đứa con hồn nhiên hoá đá thay nàng vì chỉ đứa con khờ khạo không biết gì! Những đứa con khờ khạo suốt dọc dài đất nước này đã hoá đá. Một phần cũng là lỗi của chúng. Và nàng chắc chắn nói thật lòng trong lơ mơ ngủ, trong lúc chúng tôi đang làm tình. Không bao giờ tôi nghi ngờ phụ nữ những biểu hiện của họ lúc đang làm tình và ngủ. Nhưng giả dụ tôi là Noah trong chiếc thuyền huyền thoại kia thì tôi cũng cẩn trọng như ông, ba lần thả quạ mới thả thử chim bồ câu và biết nước đã cạn khi chim câu không bay về chớ không lấy vợ thả thử vì nàng cứ triền miên ngủ. Nàng ngủ nhưng khác đứa con vọng phu vì nàng còn nghe được tiếng nói của loài kiến trong cuộc đã đang di tản. Có thể nàng có kinh nghiệm từ một người phụ nữ áp bầu vú mình vào mặt đứa con đến chết ngộp để cứu một cán bộ trong hang khi đứa bé không hề hiểu thế nào là di tản, mà chung quanh đầy rẫy kẻ thù. Nó chỉ biết khát sữa. Câu chuyện này thời bình được kể như lòng tự hào dân tộc về truyền thống yêu nước. Đứa bé đã hoá đá vì không phải là loài kiến được di tản.


Vợ tôi không phải người phụ nữ đó. Tôi yêu nàng. Nhiều lần nghe từ lũ kiến, nàng cảnh báo tôi di tản thoát nạn. Tôi đã không bị chết ngạt từ bầu vú để cứu một ai tôi chưa hề biết. Có thể đó là lý do chính tôi yêu nàng. Nàng từng cứu tôi không bị chết ngạt trong bầu vú. Vì một ai đó tôi chưa hề biết.


Tuy được cứu nhưng có lúc vô công rồi nghề tôi cũng nhổ một bãi nước bọt vào dòng dài dằng dặc lũ kiến đã đang di tản, khoái chí thấy chúng rối nhặng xị đôi chút. Có lúc còn bắt vài con thả vào bẫy cút. Tôi không ưa cuộc di tản triền miên của chúng. Tôi không thích đã sống là triền miên di tản. Nhưng tôi không thể thoát ra khỏi nỗi ám ảnh triền miên trong cuộc đã đang di tản của chúng. Hình như chúng cũng tự biết điều này chớ không hề có sự khai báo nào của vợ tôi vì vợ tôi cứ ngủ, luôn ngủ.


Cho tới một hôm nàng giật mình ớ ra rồi tỉnh giấc khi nghe một thông tin trên đài phát thanh rằng đàn kiến di tản ngàn vạn năm qua bỗng nhiên biến mất trên lộ trình. Có thể chúng đã bị nhấn chìm trong trận đại hồng thuỷ thứ hai. Có thể chúng đã không cần di tản, chúng vốn thính nhạy nguy hiểm hơn con người gấp ngàn lần. Có thể chúng biết rằng di tản là vô ích. Không có thì tương lai cho cuộc di tản ngàn vạn năm này.


Nhưng khi vợ tôi thức dậy, tôi vĩnh viễn không thể biết vì sao đàn kiến đã đang di tản như có lần nàng hứa sẽ giải thích cho tôi nghe. Vĩnh viễn. Thông điệp duy nhất của lũ kiến có lần vợ tôi phiên dịch trong lơ mơ ngủ là “Chúng ta hãy tự cứu lấy mình!” Nhưng bí mật đã đang di tản của kiến chắc chắn không phải chỉ có vậy. Vì di tản không có trong mật mã sự sống. Nó chỉ là sự khởi đầu. Của nỗi sợ sống. Điều này không đúng với cô Thảo vì cô đã không di tản. Vợ tôi chắc chắn không hài lòng nên không ngủ nữa. Tôi không còn một cơ hội nào trong đời cũng như thiếu tá anh vợ tôi và đã lập tức hoá đá. Dù không có bầu vú nào áp vào mặt. Lời hứa của tôi về câu chuyện không có đoạn kết.


LHL.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »