tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
13.08.2012
Lê Văn Thảo
Anh cà kheo ghé qua làng

Anh chàng tuổi độ ba mươi, người ốm ròm da mốc thích, cao lêu nghêu như cây sào, chuyên sống trên sông nước, “nhà” là chiếc ghe tam bản với chiếc cà-rèm nhỏ xíu rách lủng lổ chổ, phía sau có đủ nồi niêu lò bếp, sau nữa là chiếc rộng đầy cá neo dưới lái. Chúng tôi đang lặn hụp đùa giởn dưới bến, anh chèo ghe đi ngang dừng lại đứng nhìn. Rồi khoác tay kêu: “Tao cho cá nè, ăn không?”. Anh kéo chiếc rộng lên bắt cá chia cho chúng tôi, rồi nhào xuống cùng lặn hụp. Anh là tay lặn khá. Cả bọn quẩy lội đùng đùng một chập lên ngồi bên gốc cây gừa nói chuyện. Anh hỏi chuyện làng chúng tôi, quan chức hội đồng ai hiền ai dữ, trai làng làm nghề gì, con gái làng đẹp không. Anh có vẻ mặn về đàn bà con gái, hỏi chuyện các cô gái chưa chồng sang các cô lở thời, các đàn bà góa… Chúng tôi kể tất cả, không biết đàn bà con gái đẹp xấu thế nào. Nhưng con gái ông chủ ruộng có nhiều người dạm hỏi. Anh hỏi ai dạm hỏi. Chúng tôi đáp con trai ông hội đồng làng bên, giàu lúa ngập bồ. Anh nói giàu cũng không làm nên tích sự gì, của cải rồi cũng trôi sông trôi biển. Anh nói chính cái đẹp cần phải được ngắm nhìn. Chút nữa chúng tôi dẫn anh đi coi cô con gái ông chủ ruộng, anh sẽ đánh giá sau.


Chúng tôi dẫn anh đi. Anh ngó nhìn hai bên đường, than phiền làng nghèo quá, nhà cửa thưa thớt thấp lè tè, nhưng hàng rào lại cao nghệu. Đình chùa nghĩa địa cũng có hàng rào, kiên cố vững chãi như bức tường thành. Coi vẻ anh không ưa hàng rào. Cả đời sống trên sông, chiếc ghe tam bản giữa đường neo đậu, anh cần hàng rào làm gì? Nhưng ngoài chuyện đó ra trông anh cũng vui, có thể kết bạn làm tay lặn hụp được. Anh nói sang chuyện khác, kể đã đi khắp nơi biết vô số chuyện, thấy nhiều cảnh lạ vật lạ, những làng xóm những con người kỳ dị cách sống lạ thường. Nhiều vùng nhà ở toàn trên sông, trên những chiếc bè gỗ bè tre bè cỏ nổi bập bều, đất liền chỉ để canh tác làm ruộng rẫy, tới mùa lên bờ thu hoạch sản vật khoai củ chở hết xuống ghe neo giữa sông, không giống thú nào có thể phá tán được. Lại có vùng nhà toàn trên ngọn cây cao, như những chuồng chim khổng lồ, mười bữa nửa tháng người trên nhà – chuồng chim xuống đất đào củ hái trái rồi leo trở lên. Hầu hết thời gian ở trên đó, chuyện vãn kêu hú nhau như loài khỉ vượn. Có lần anh qua một cù lao cây trái sum suê, không thấy nhà cửa đâu cả. Ở nán lại đêm, giữa khuya thấy có người từ trong các hang hốc trồi lên, gặp nhau thì thầm chuyện vãn, rồi lại biến mất dưới những hang hốc. Đó là làng ngầm, kiểu địa đạo thời chống Mỹ. Nhiều làng xóm nhà cửa còn kỳ dị hơn, những căn nhà sàn nhà rông nhà ống tròn như ống cống. Duy chỉ có điều không nhà nào có hàng rào, đường sá thông thương chó mèo chạy rôn, trẻ con vui đùa chạy từ nhà này sang nhà khác.


Chúng tôi đến nhà ông chủ ruộng. Đó là cơ ngơi khang trang hàng rào cao quá đầu người, làm bằng cây tràm lụt chen khít, con thằn lằn chun không lọt. Anh đứng nhìn cau mặt. Chó sủa dậy lên. Cả một binh đoàn chó nhào ra chồm chồm qua hàng rào, nhe răng phun mước miếng phì phì. Cô gái con ông chủ ruộng đi ra. Trước đây cô hay chơi với chúng tôi, thả bè trên sông săn chuột trong đồng. Sau này nghĩ mình đã lớn cô trở nên e dè xa cách. Cô nhìn anh chàng cao kều. Rồi nhìn chúng tôi hỏi:


“Làm gì chọc chó sủa om sòm vậy?”.


“Tụi tôi coi hàng rào”, chúng tôi đáp.


“Hàng rào mà coi cái gì?”.


“Ông anh đây chuyên nghề làm hàng rào”, chúng tôi chỉ anh cao kều nói: “Ông anh khen hàng rào nhà chị đẹp lắm”.


“Đẹp xấu gì cũng của người ta. Đi chỗ khác chơi đi”.


Anh cao kều không nói gì cả, lặng thinh lặng ngắt, đó là điều khác thường. Chúng tôi đi tiếp. Anh kêu đói, bảo dẫn đến quán kiếm gì ăn. Chúng tôi dẫn anh đến quán bà Mập. Quán ở đầu làng giữa đồng, bà chủ quán không chồng tuổi độ bốn mươi, môi đỏ má hồng, tính tình vui vẻ cởi mở. Bà lập quán cách nay vài năm, chúng tôi tiếp bà làm hàng rào, kéo chà chôm quây sơ sài như bãi chăn gia súc, được bà đải ăn cơm nấu trong chảo đụng. Quán tiếp khách suốt ngày đêm, đồ ăn thức uống không nhiều, nhưng lúc nào cũng có, bà chủ quán lúc nào cũng tươi cười hớn hở. Đàn ông con trai buổi chiều đi làm đồng về ghé tạt ngang uống ly rượu ăn dĩa lòng heo, cá nướng ốp trong bẹ chuối, rượu cay xè có mùi mật ong và mùi lông trâu.


Chúng tôi đến cổng thấy bà Mập đứng đợi sẳn, không biết thông tin từ đâu.


“Ai đây?”, bà chỉ tay anh cao kều.


“Ông làm hàng rào”, chúng tôi đáp. “Hay phá cũng được. Bà muốn phá hàng rào quán bà không?”.


“An uống thì vô đây”, bà đáp. “Dân phá tán thì đi chỗ khác”.


Chúng tôi vô quán. Anh cao kều nhậu rượu trắng với khô nướng, chúng tôi ăn khoai luộc bắp luộc. Bà Mập ngồi kế bên nói chuyện đẩy đưa.


“Ông ở đâu tới?’, bà hỏi anh cao kều. “Già đầu chơi với con nít hả?”.


“Tôi là họ hàng hà bá”, anh buồn bã nói. “Đang cơn thắt ngặt phải lên cạn, đói quá tính kiếm chuyện gì mần ăn”.


“Ông làm được chuyện gì?”.


“Bất cứ chuyện gì. Tôi là người giỏi giang nhứt xứ này”.


“Đàn bà con gái cũng bao la lắm phải không? Hồi nảy tôi nghe chuyện ông đến dòm ngó con gái ông chủ ruộng. Ông tính mần ăn kiểu gì?”.


“Bà đừng nghi oan cho người lành. Tôi có tật hay nhìn ngắm, không đi xa hơn. Hôm nay tôi nhậu không có tiền trả, bà ghi nợ dùm tôi”.


“Trả bằng gì?”.


“Bằng cá. Tôi là dân hà bá mà”.


“Được thôi. Hay hùn mần ăn luôn đi?”.


“Hùn như thế nào?”.


“Ông đánh cá cho quán, tôi nuôi ông ăn ở”.


“Vậy thành vợ chồng rồi, còn hùn mẹ gì nữa”.


An hết rổ khoai chúng tôi đi bắt cá đìa. Anh vẫn ở lại quán. Mấy ngày sau đi ngang thấy anh ngồi chễm chệ trước cửa, như ông chủ, đoạn rào phía trước phá tan hoang. Có chuyện gì vậy? Chúng tôi hỏi. Phá chơi vậy thôi, anh đáp. Để lấy tầm nhìn. Quán xá là chỗ tiếp đón mọi người, không được che chắn.


Rồi anh chỉ rổ khoai, nói:


“Tụi bây ăn rồi phải làm việc. Mai tới tiếp phá hàng rào cho tao”.


“Phá hết hả?”.


“Phá hết”.


“Phá hàng rào mà làm việc cái gì?”.


“Đó là việc quan trọng nhứt trên đời. Sau này lớn lên tụi bây sẽ hiểu”.


Không biết sao anh thuyết phục được bà Mập cho phá hàng rào. Bà vui vẻ dẫn chúng tôi đi chỉ nhổ chỗ này phá chỗ kia, hăng hái y như lần chúng tôi tiếp bà xây hàng rào. Chỉ buổi sáng chúng tôi phá tan hoang tất cả, không còn hàng rào, bốn bên trống trơn lộng gió. Anh đi quanh, giang hai tay cười lớn nói:


“Mát không? Rộng quá không?”.


Chuyện quán bà Mập phá hàng rào gây chút xôn xao trong làng. Tưởng hay ho gì, mấy bà nói. Lập quán giữa đồng tụ tập đàn ông con trai nhậu nhẹt trửng giởn, giờ rước gả lang thang về ở, phá hàng rào phơi mặt tênh hênh cho mọi người ngắm nhìn. Nhưng lời nói gió bay. Quán giữa đồng trống trải khách nhậu nhẹt ồn ào từ chập tối đến giữa đêm ra về, chẳng gây hại gì cho ai. Chúng tôi đi hớt cá lia thia, câu lươn, xom cua đinh, thỉnh thoảng trên đường về ghé tạt qua quán. Anh cao kều vẫn ở đó, có vẻ an phận với vai ông chủ hờ. Anh đải chúng tôi khoai luộc bắp luộc, hỏi chuyện trong làng, con gái đẹp còn nhiều không, con gái ông chủ ruộng lấy chồng chưa. Chúng tôi đáp con gái đẹp chúng tôi không màng, nhưng con gái ông chủ ruộng sắp lấy chồng rồi. Đã định ngày đám hỏi, chàng rể con ông hội đồng ốm nhom xanh lè như người ho lao. Anh hỏi đám hỏi ngày nào tháng nào? Chúng tôi đáp ngày này tháng này, còn vài ngày nữa. Anh nói có khi anh đến giúp vui, người trong làng với nhau.


“Tụi bây đi ăn đám hỏi với tao không?”, anh hỏi.


“Đi!”, chúng tôi đáp.


Đến ngày hẹn chúng tôi đến không thấy anh đâu. Gọi không thấy trả lời. Gọi nữa nghe tiếng văng vẳng, ngó lên thấy anh đứng ngang tầm ngọn cây, đôi chân dài thượt như hai cây sào. Là anh đi cà kheo.  Anh biết đi cà kheo hồi nào vậy? Anh cười khà khà đi một vòng cho chúng tôi coi, ra vẻ thành thạo lắm. Anh biết đi cà kheo hồi đi bán thuốc dạo, làm đủ trò khác nữa như nhai ống khói đèn, nuốt lưỡi lam, hút thuốc thở khói ra cả hai bên tai. Anh rời quán đi trước, chúng tôi đi thành hàng theo sau. Bà Mập đứng ở cửa nhìn theo. Đường làng lồi lỏm khúc khuỷu, uốn lượn qua lại. Qua cầu dừa cầu tre, chúng tôi đi lắt lẻo bên trên, anh lội cắm xuống bùn, thân mình vẫn còn tuốt trên cao. Chúng tôi đi chậm, dụ đám con nít hai bên đường đi theo sau. Nhà ông chủ ruộng ồn ào khách khứa, đèn hoa kết tụa, cổng chào hoành tráng với hai cột trụ cả vòng tay ôm. Chúng tôi đứng nép qua bên cổng, chờ khách đằng trai khăn đóng áo dài bưng mâm lễ vật vào trước, rồi đi nối theo sau. Không ai hỏi han gì, người bên này tưởng chúng tôi người bên kia. Khách đằng trai vô nhà, chúng tôi đi vòng quanh sân làm đủ trò múa may, mọi người vỗ tay hoan hô, anh đi cà kheo coi thật vui mắt.


Vui nhứt là cô gái con ông chủ ruộng. Cô nhìn ra anh, đã gặp anh hôm đến coi hàng rào. Hôm đó chúng tôi chọc chó sủa cô bực tức không nói chuyện gì được. Nhưng hôm nay cô cảm động lắm, anh nhiệt tình với ngày vui của cô. Nay mai cô phải tìm gặp anh nói lời cám ơn. Cô nghe anh ở quán bà Mập, bà chủ quán không chồng tiếng tăm không hay ho gì, tụ tập đàn ông con trai nhậu nhẹt giởn hớt thâu đêm. Nhưng đó là chuyện ở quán, giờ đây anh là người giúp đỡ cô.


Hôm sau cô đến quán một mình, bối rối thấy quán trống trơn, không còn rào rấp gì nữa. Sáng sớm quán chưa có khách, anh tiếp cô ở bàn giữa, bà chủ quán đứng trong bếp nhìn ra. Cô nói lời cám ơn chuyện đi cà kheo của anh. Anh đáp ơn nghĩa gì, chút trò vui vậy thôi. Nhưng thật là vui, cô nói. Chưa thấy ai đi cà kheo hay như vậy. Cả đời sống dưới ghe sao anh biết đi cà kheo? Phương kế sinh nhai vậy thôi, anh đáp. Cả đời sống dưới ghe, sông nước là quê hương, lang bạt vùng này qua vùng khác, phải tìm trò kiếm ăn, đến chỗ này đi cà kheo chỗ kia nuốt rắn hổ, nhai ống khói đèn, đi trên lửa, trói mình lặn xuống sông lâu đến nỗi đàn bà con gái khóc thét lên. Bà con thương tình cho rổ khoai thúng gạo sống qua ngày. Vậy sao giờ neo ghe ngồi chụm lửa bán quán như vầy? Đi đã đời mệt mỏi neo ghe đậu nghỉ một thời gian. Rồi sẽ đi nữa, số kiếp lang thang đâu dừng được. Hai người nói chuyện mê mải, bà chủ quán đi ra vô xô bàn đụng ghế. Cô ra về, nhắn lời ba cô nhờ anh đến phụ giúp việc nhà. Nhà nhiều người làm nhưng không ai biết việc tháo vát như anh. Được thôi, anh đáp. Ngồi một chỗ lâu rồi cũng cần động đậy tay chân. Anh có thể đẻo ách trâu, làm bắp cày, đánh dây da trâu, đánh rơm chất thành cây vung tròn như tai nấm. Đào ao thả cá cũng là nghề của anh. Anh còn có tài tìm nước mội. Làng này nước mội nhiều, anh thấy rồi. Chỉ cần rảo một vòng, bật vài lát cuốc nước mội vọt lên thành vòi, xây hồ chứa nước xài quanh năm.


Sáng hôm sau anh đến nhà ông chủ ruộng nhận việc, ngồi giữa sân đẻo bắp cày, mở banh hai cánh cổng, luôn miệng chào hỏi người qua lại ngoài đường, con nít đi ngang ngoắc kêu vô nói chuyện. Xế chiều ông chủ ruộng ra coi công việc đẻo bắp cày tới đâu rồi, thấy hai trụ cổng bị nhổ phăng, đoạn rào hai bên bị dở bỏ, cửa nhà lộ ra thông thoáng như  cửa ngõ bến xe. Anh vẫn điềm nhiên ngồi gọt đẻo. Ông chủ phiền lòng lắm vô, nhà than vãn với con gái. Cô nói hàng rào nhằm nhò gì, cơ ngơi nhà này mới là quan trọng. Cần phải chuẩn bị đủ đồ đạc dụng cụ trước khi cô đi lấy chồng. Ông chủ ruộng cảm động lòng hiếu thảo của con gái, đổi giận làm vui, đi ra khen anh chàng đẻo gọt siêng năng tháo vát, phá hàng rào chút đỉnh không nhằm nhò gì. Anh chàng hứng chí ngay buổi chiều phá hết đoạn rào phía trước, hôm sau phá đoạn bên hông. Và tiếp theo, trong lúc làm chiếc chày giả gạo bằng sức nước, chiếc xa quạt lúa, đòn sóc mỏ sải, liềm gặt, gàu dai tát nước, hàng rào quanh nhà trống quang hết cả.


Cần phải có tầm nhìn, anh nói. Công việc càng nhiều tầm nhìn càng rộng. Chúng tôi ghé quán không mấy khi gặp anh. Bà Mập cho ăn khoai luộc, nói anh ở luôn đằng nhà ông chủ ruộng rồi, lâu lâu về về chun vô mùng ngủ, quán này như nhà trọ. Anh cũng không thiết gì đến việc chài lưới kiếm cá cho quán, chiếc ghe tam bản dưới bến ngập nước, chiếc quai chèo mục nát. Anh bị con gái ông chủ ruộng hớp hồn rồi.


Chuyện anh chàng cà kheo phá hàng rào được sự đồng tình của ông chủ ruộng, nhưng bên đằng trai dạm hỏi thì không. Họ đã đặt trầu cau rồi, cô con gái coi như con dâu, gia sản một phần cũng là của họ. Nhà không có hàng rào thì thành gì? Làm sao giữ của? Lại còn anh chàng cà kheo ở trong nhà nữa, “tầm nhìn” là cái con khỉ gì? Chẳng qua muốn làm “tay trong” cho bọn trộm cắp, phá hàng rào để đồng bọn dễ bề xâm nhập, có ngày kho lúa ông chủ ruộng không còn một hột, chuồng trâu không còn một con. Phải qua gặp ông chủ ruộng nói chuyện mới được. Ông hội đồng dẫn thằng con trai sang, hai bên ngồi đối diện nhau ở bàn giữa. Sao hàng rào trống quang như vầy? Ông hội đồng hỏi. Cho mát vậy thôi, ông chủ ruộng đáp. Nhà ai nấy rào, phá cũng vậy, ông chủ ruộng nói thêm. Ông hội đồng hỏi: nhưng hai gia đình đã là thông gia, của bên này cũng là của bên kia, không có hàng rào làm sao giữ? Thì rán giữ, ông chủ ruộng đáp. Lâu nay có hàng rào vẫn bị trộm cắp đó thôi.


Chuyện vãn không đi tới đâu. Ông chủ ruộng cưng con nói theo giọng con gái. Ông hội đồng tức giận dẫn thằng con ho lao ra về, tìm cách khác đối phó. Có thể mất con dâu nhưng không thể mất mặt. Mọi chuyện là do thằng cà kheo ở trong nhà, một thằng lang thang không ra gì, đi cà kheo không là trò khỉ gì. Phải tìm cách vu tội nó, đuổi nó ra khỏi nhà. Đám cưới phải được tiến hành, rước dâu đem về cùng của cải thừa kế. Ông hội đồng suy nghĩ mãi, cuối cùng nghĩ ra một kế. Lâu nay ông chuyên bắt những tên đầu trộm đuôi cướp, giờ cho người đi tìm trộm cướp về. Gia nhân tìm được một tên trộm già đời, chuyên nghề trộm trâu, đã mười lần vô tù. Ông hội đồng mời tên trộm ngồi ở bàn giữa, tự tay châm trà nước.


“Ta nhờ ngươi làm chuyện này”, ông hội đồng nói.


“Tôi vô tù mười lần rồi”, tên trộm khoe.


“Thì đây là lần thứ mười một. Nhưng đừng lo, ta là hội đồng không bắt ngươi ai bắt? Ngươi cứ vô nhà này trộm trâu cho ta, trâu trộm được bán lấy tiền xài, ta cho thêm tiền thưởng”.


Một đêm tối trời nhà ông chủ ruộng mất hai con trâu. Ba ngày sau mất thêm con nữa. Bẳng cả tuần tưởng yên rồi, cũng một đêm tối trời mất một lúc ba con. Rồi không đợi tối trời, mất thêm hai con sau đó. Ông chủ ruộng cho gia nhân túa đi tìm trâu, không dò ra chút dấu vết nào, một sợi lông trâu cũng không. Nhà không có rào cổng sao không mất trộm được? Mọi nghi ngờ đổ dồn vào anh cà-kheo. Nhưng anh không nói gì, cắm cúi làm. Một hôm người ta tìm thấy bộ xương trâu da trâu chôn sau hè quán bà Mập, chứng cứ không thể chối cải được. Bà Mập bị lính làng dẫn lên quận tra hỏi, anh bỏ trốn. Cô gái con ông chủ ruộng buồn lòng cũng lấy chồng sau đó, không phải con ông hội đồng mà là con ông chủ lò gạch làng bên. Bà Mập được thả ra cũng dở quán bỏ đi luôn.


Cuộc sống trở lại như cũ. Thỉnh thoảng xuống bến tắm nhìn thấy chiếc ghe ngập nước chìm một nửa, chúng tôi nhớ đến anh. Nhớ những ngày lặn hụp, phá hàng rào quán bà Mập, đi cà kheo trong ngày đám hỏi con ông chủ ruộng. Nói chung cũng vui, làng xa heo hút như vầy, đâu phải lúc nào cũng được cười nói thảo thích như vậy.


Một hôm một đứa trong bọn chúng tôi đi chơi xa ngủ quên, chạng vạng tối đi băng đồng về nhà, thấy xa xa trong cụm rừng ánh đỏ lập lòe như ma trơi. Linh cảm có điều gì, nó về báo với chúng tôi. Cả bọn kéo ra phục rình, nhìn thấy xa xa bóng người đi tới lui trông quen lắm. Chúng tôi bạo dạn đi vào, căng mắt tìm kiếm. Chợt nghe tiếng gọi khẻ:


“Tao đây! Tao đợi tụi bây mấy hôm rày”.


Là anh cà kheo của chúng tôi! Anh ốm nhom râu tóc bù xù, quần áo rách tả tơi, chắc lang thang đói khát trong rừng từ đó tới giờ! Anh kéo chúng tôi ngồi lại kể chuyện. Anh bỏ đi từ dạo ấy, bỏ trốn và cũng để tìm bọn trộm. Anh lặn lội trong rừng cả tháng trời, ăn củ rừng nhai bông súng củ co, ban ngày dò tìm dấu chân trâu, tối ngủ dựa gốc cây. Mấy ngày đầu đã tìm thấy dấu chân trâu, rồi mất hút, rồi lại tìm thấy. Anh theo miết không hề nãn chí, cuối cùng tìm đến một bãi trống quang giữa rừng, bọn trộm gom trâu lại đó chờ lảnh tiền thưởng, rồi bán trâu lấy tiền xài. Không thể một mình đánh bọn trộm, anh về nhờ chúng tôi tiếp một tay. Kế hoạch là như thế này. Chúng tôi về làng làm cho anh đôi cà kheo thật chắc, may chiếc áo dài màu sắc vằn vện, có thể bận trùm phủ từ đầu tới chân. Cùng chiếc thùng đựng dầu lửa. Riêng chúng tôi chuẩn bị ống mỏ phèn la, bất cứ vật gì có thể đập gỏ được. Chúng tôi coi lại chiếc ghe, tát nước bện lại quai chèo, đậu sẳn dưới bến cho anh.


Chúng tôi trở về làm gấp rút, mấy ngày sau trở vào anh đón ở bìa rừng. Anh chờ trời tối dẫn chúng tôi đến một chỗ ánh lửa dọi lên sáng cả một vùng rừng, bọn trộm đang nhậu nhẹt say sưa cười đùa ngả ngớn. Anh biến mất sau bụi cây, chút sau hiện ra với hình người cao nghệu trong bộ áo dài sặc sỡ như ma quái, phun những làn lửa dài đỏ rực tiến về phía bọn trộm. Chúng tôi đi theo sau đập gỏ phèn la, rúc tù và, đập ống tre lốp bốp inh ỏi, cảnh tượng như ma quỉ hiện hình. Bọn trộm đang trong cơn say, thần hồn nát thần tính, bỏ chạy tán loạn, bầy trâu cũng bứt dây tháo chạy ra rừng. Chúng tôi bắt lại được một ít, số còn lại thành trâu rừng, lâu lâu về làng húc chết trâu nhà, cả vùng đồng bằng trên hai nhánh sông đều nễ sợ.


Anh ra đi ngay đêm hôm đó, trên chiếc ghe tam bản chúng tôi tát nước chuẩn bị sẳn dầm chèo. Anh buồn bã nói:


“Thôi tao đi. Tao ghé qua làng không làm nên tích sự gì, phá hàng rào bị vu tội ăn trộm, được hai người phụ nữ thương yêu cũng không nên cơm nên cháo. Số kiếp lang thang trở về với sông nước thôi, được lặn hụp với tụi bây một dạo cũng vui rồi ”.


“Anh đi đâu?”, chúng tôi hỏi.


“Đâu biết đi đâu. Sông nước mênh mông là nhà của tao. Tao đâu có ý gì xấu, phá hàng rào chỉ để nhà cửa thông thoáng, con nít chạy chơi, bà con mình qua lại gần gủi. Rảnh rỗi tao đi cà kheo đến từng nhà chào hỏi, làm trò giúp vui. Nhưng dân làng không chịu vẫn giữ nề nếp cũ nên tao thân tàn ma dại như thế này. Đành vậy thôi. Chắc tao không còn dịp trở lại. Tụi bây lớn lên rán giữ gìn, phá hàng rào phải cho cẩn thận, dính với đàn bà con gái là tàn đời….Tụi bây nghe lời tao không?”.


“Nghe”.


Anh ra đi, chúng tôi lớn lên cũng tứ tán cả. Tôi có chuyến chu du nửa đời người, trở về đi ngang nhà ông chủ ruộng thấy vẫn như cũ, hàng rào cao quá đầu người, hai cánh cổng khép chặt, bầy chó chạy ra sủa inh ỏi. Lát sau có bóng người con gái đi ra, tôi định kêu hỏi nhưng giọng lanh lảnh át mất:


“Ai đó? Tìm ai? Hỏi cái gì?”.


Nhớ lời anh dặn tôi bỏ đi  luôn…


 


8-2008


Nguồn: Tuyển tập truyện ngắn Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »