Trước khi lên tới chốn “rừng thiêng nước độc” này, ngài tân chánh sứ Cút-xô (Cousseaux) đã nuôi những dự định hết sức hấp dẫn phù hợp với “tinh thần khoa học”' và lòng ham mê những điều mới lạ của ngài, dĩ nhiên là cũng phải phù hợp với tinh thần “khai hóa” của “nước mẹ Pháp vĩ đại” đang ban phát cho dân chúng thuộc địa đến cả những nơi heo hút hoang dã nhất...
Vừa chân ướt chân ráo đến Sơn La, chưa ngồi ấm chỗ chiếc phô-tơi dành cho ngài trong buồng riêng, chánh sứ đã gọi "con lợn" Ga-bô-ri ( ngài gọi viên "sếp" ngục như thế) sau khi đã được nghe rất nhiều chuyện không “sạch sẽ” gì về một vị sĩ quan của nước Pháp quang vinh, cùng những quan chức người Pháp và người Việt tới tòa sứ để ngài huấn thị. Trong cuộc xã giao "lịch sử" đó, ngài chánh sứ mới đã gây được một ấn tượng đặc biệt trong lòng người. Thay thế cho một đít-cua hùng hồn bằng tiếng mẹ đẻ, ngài đã tuôn ra hàng tràng câu tiếng Việt có đầy đủ các thành phần chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, làm người nghe bực bội và mệt mỏi hơn là thích thú và khâm phục. Tuy nhiên, cái ấn tượng mạnh mẽ về tính sùng bái khoa học ngôn ngữ lẫn phong cách mẫu mực của một nhà thuộc địa đã choán hết tâm trí của những người được ngài chánh sứ tiếp chuyện. Hơn nữa, ngài cũng không quan tâm đến phản ứng của người nghe bằng chính cái tâm trạng bị kích động của ngài. Ngài liên tưởng tới nhà truyền giáo Pháp La Phít-tơ ở thế kỷ XVIII đã từng nghiên cứu về người Anh-điêng (l) ở Bắc Mỹ. Ngài thầm so sánh mình với Brô-ni-slap Ma-li-nôp-xki (2) và nghĩ rằng chính cái trường phái dân tộc học mà ông ta khởi xướng ra trong những năm hai mươi của thế kỉ này, hiện giờ chính ngài đang đổ mồ hôi ra để thực nghiệm và bổ sung cho hoàn chỉnh. Trong những nhà khoa học thực dân châu Âu cận đại và hiện đại, có mấy ai giàu lòng dũng cảm và tinh thần thực tiễn như ngài. Bọn thổ dân ngu dốt ở cái lục địa châu Mỹ, châu Phi và châu Ấ, cả ở đây nữa - dân Anamít hèn hạ - làm sao hiểu nổi tư tưởng cao quí của những người mang sứ mệnh “khai hóa thuộc địa” mà ngài là đại diện ?
Một trong những việc đầu tiên mà quan Cút làm là kiểm tra danh sách tù chính trị cùng những hoạt động của nhà tù. Nhận được từ tên chúa ngục bản danh sách mật, Cút-xô muốn vò nát tập giấy đánh máy khi luồng mắt cú vọ của y đập phải một cái tên ở phần ghi những người mới đến Sơn La cùng năm với y. “Trần Huy Liệu - số tù vuông B 1573”. Dòng chữ đè nặng lên kí ức Cút-xô, gợi cho y những cảm xúc trái ngược. À thì ra tục ngữ An-Nam vẫn lưu truyền: "kẻ cắp gặp bà gìa", “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa” là như thế này đây ! Tính sĩ điện bị tổn thương bấy lâu nay tưởng đã vĩnh viễn chôn vào quá khứ giờ lại đùng đùng trỗi dậy. Nhưng ngay sau đó nó được lắng xuống trong một tình cảm tai quái: chỉ cần nghĩ đến trả thù là y cũng được khoái trá và thỏa mãn. Trong đời chinh chiến, Cút-xô ít khi hồi hộp, nhưng bây giờ y phải hồi hộp. Y sắp phải đối đầu với một đối thủ lợi hại. Nhạy cảm đặc biệt của một tên mật thám cáo già đã đánh hơi được tính chất quan trọng và mức độ gay gắt của cuộc đụng độ sắp tới giữa y và kẻ thù riêng của y.
Chính tù nhân R 573 cách đây không lâu đã “chơi” y một vố khá đau. Dạo đó Cút-xô làm giám đốc sở địa chính Bắc Kì. Nghiên cứu chính sách thuộc địa của các vị toàn quyền Đông Dương- từ Pôn Đu-me (Paul Doumer) cho tới Bơ-rê–vi-ê (Brévié) , tự cho mình có một bộ óc cách tân táo bạo, Cút đã có những ý kiến phê phán tinh vi. Trước khi Bơ-rê-vi-ê sang làm toàn quyền Đông Dương, thuế thân của mỗi dân đinh ở Việt Nam nhất loạt là 2đ5 một người không kể phụ đảm. Sang Đông Dương, Bơ-rê-vi-ê bãi bỏ chế độ đó và thay vào một chế độ thuế thân có nhiều bậc khác nhau: người dân đinh không có ruộng mỗi năm buộc phải đóng mỗi năm 1 đồng, người có vài thước đất trở lên phải đóng 2đ5, rồi đến những loại thuế thân 7 đồng, 40 đồng một năm. Cút-xô phát hiện ngay ra tính chất "công bằng phi lí" trong chính sách thuế khoá của bậc bề trên - một người theo y mới chỉ có đầu óc chính trị chứ chưa có đầu óc kinh tế. Lợi dụng tính không khí ôn hòa của tình thế lúc bấy giờ, muốn bắn một phát súng trúng nhiều đích, Cút-xô với cương vị giám đốc sở địa chính Bắc Kì đã đưa ra một chủ trương rất hấp dẫn.Y muốn mị dân thuộc địa và gây tiếng tăm ở chính quốc, và biết đâu những lực lượng cánh tả sẽ tôn y lên làm nhà cách tân táo bạo của thế kỉ hai mươi, tên tuổi y sẽ được đưa lên những đòng "tít" lớn của báo chí phương Tây. Nhưng cái chính yếu của vấn đề thì y không dám thừa nhận ngay với chính bản thân (nó trái ngược với cái tinh thần "khoa học” và táo bạo của y) - tức là chủ trương này nếu được thực hiện, y sẽ thu thêm lợi cho quỹ nhà nước thực dân hàng triệu đồng - và dĩ nhiên là nhà băng Đông Dương lẫn những nhà băng lớn ở Pari, Thụy Sĩ cũng sẽ không hẹp hòi gì mà không nhận thêm từ túi y những khoản tiền lớn bù đắp cho những năm tháng lặn lộn vất vả ở một xứ sở xa xôi... Cút chủ trương thế này: đem ruộng đất các làng xã chia đều cho nông dân, như vậy, mỗi dân đinh sẽ có một vài chục mét vuông ruộng hay vài trăm mét vuông ruộng. Hạng thuế thân 1 đồng sẽ không còn nữa và chí ít mỗi dân đinh một năm sẽ phải nộp chính quyền là 2đ5 . Y không mất gì. Chính phủ Pháp và bộ máy cai trị thuộc địa giờ đây cũng chẳng mất gì. Hơn thế, y sẽ phá vỡ được cả một tập quán lâu đời của công xã nông thôn Việt Nam như một dấu hiệu đáng buồn của một xã hội thiếu văn minh! Những người cố nông Việt Nam không mảnh đất cắm dùi từ bao đời nay đã được một lối thoát bé nhỏ, trên những mảnh ruộng công mà họ gọi là ruộng “quan điền” này, sau khi đã bị địa chủ bóc lột đến xơ xác. Dù sao, cầy cấy trên mảnh ruộng công và tuân theo một hình thức luật lệ làng xã mà cả đến vua chúa cũng phải tôn trọng, họ được cái vỏ khá vững chắc của một tập quán bảo vệ phần nào. Sản phẩm họ làm ra trên mảnh đất ấy tuy không được "bát cơm đá lớn quan tiền trao tay" như họ từng mong ước, nhưng cũng không đến nỗi để họ phải dứt từng khúc ruột khi nhìn thấy chúng chảy như trút vào kho của bọn địa chủ. Nếu ruộng công chia ra thì có khác gì một miếng mồi béo bở cho những tên có "máu mặt” ở làng xã! Đến được tay người cày thì có lẽ chỉ còn xương xẩu, rồi ngày một ngày hai cũng tuột khỏi tay những người đáng lẽ phải là chủ nhân thực sự của ruộng đất, vì nợ nần thuế khóa. Trong lúc đó thì định mức thuế thân mới sẽ rơi xuống đầu người dân nghèo như một định mệnh khủng khiếp...
Phải tưởng tượng được sự hí hửng của viên giám đốc địa chính thì mới hiểu được sự điên khùng của y khi đọc một bài báo đã công khai đập thẳng vào cái dã tâm khoác vỏ hào nhoáng mà y chưa kịp đem ra thực hiện. Y căm tức cái thời kì dân chủ chó má làm cho những tên cộng sản cũng dám ngang nhiên chửi bới một người có vai vế trong hàng quan chức Pháp như hắn ở ngay cái đất thuộc địa này. Nhưng lịch sử nước Pháp là lịch sử chuyên chế - y nghĩ như vậy và lập tức gọi têlêphôn thẳng về trụ sờ báo Đời nay , lúc bấy giờ đương kim chủ bút là Trần Huy Liệu, một nhà báo đã nổi tiếng từ Nam Kì tới Bắc Kì. Trịch thượng và lạnh lùng, Cút-xô cố giải cái giọng nói chứa đầy tiếng sủa bên trong: "Thưa ngài chủ bút nhật báo Đời Nay, tôi là một độc giả đã hân hạnh được đọc một tiểu luận tân văn của ngài đăng trên quý báo, phê phán một chủ trương cấp tiến mà tác giả chủ trương đó là tôi, vâng, là tôi - y nhấn mạnh - Với một thiện ý cao cả đối với đồng bào của ngài, với một tinh thần khoa học tôi rất hoan nghênh lòng dũng cảm của ngài, một kí giả trung thực. Tôi rất mong ngài đến gặp tôi tại văn phòng Tòa địa chính Bắc Kì, vào lúc mười bốn giờ đúng chiều nay". Nhưng y cũng lập tức được nghe một giọng nói bình thản và đượm vẻ khiêu khích từ bên kia dây nói:
- Thưa ngài giám đốc địa chính, nếu như ngài đã tự cho là một độc giả của báo, thì yêu cầu ngài hãy đến tòa báo chúng tôi để thảo luận những vấn đề ngài còn thắc mắc. Vì điều kiện thời gian, chúng tôi không thể đến gặp từng độc giả được. Mong ngài thứ lỗi.
Cút-xô cố giữ lịch sự:
- Tôi là một quan chức Pháp, tôi không thể đến tòa báo của người cộng sản Việt Nam. Mời ông đến nhà riêng của tôi vậy.
- Nếu một quan chức Pháp như ông không thể đến chỗ những người cộng sản Việt Nam, thì tôi, một người cộng sản lại không thể đến nhà một quan chức Pháp.
Cút-xô muốn bóp nát ống nghe trong tay. Cơn giận dữ làm y tím mặt...
Vậy mà không ngờ bây giờ kẻ thù riêng lại nằm gọn trong tay y. Con quỉ báo thù ngóc cổ đậy và phun phì phì, đốt cháy lòng dạ y. Vớ vội cái ba- toong nạm bạc treo trên tường, Cút-xô rảo cẳng bước tới nhà tù.
Trần Huy Liệu được gác ngục gọi ra gặp công sứ. Ông đeo kính đen vì đau mắt, đi đôi guốc mộc cao lênh khênh, chiếc áo tù màu cháo lòng: trang phục đó cộng với dáng gầy, nước da đen của ông gây cho Cút-xô ngay từ đầu một cảm giác vừa khó chịu, vừa thất vọng. Quên cả thói quen chào hỏi lịch sự, vừa nhìn thấy Trần Huy Liệu, y chống ba toong gật gù :
- À thì ra đây là chủ bút báo Đời Nay. Thế nào, ông lại ở đây à, sự đời lắm tình cờ thật.
Trần Huy Liệu ném vào mặt tên công sứ:
- Vâng, tôi đây, chủ bút báo Đời Nay.
Cút xô ngoáy ba toong và cười khầy:
- Kể ra đời làm báo của ông cũng nay đây mai đó nhỉ. Ít người được lịch lãm như ông. Tôi cũng phải ghen với ông đấy, ông Trần Huy Liệu ạ - Y nhấn mạnh ba chữ Trần Huy Liệu.
- Tôi cũng vậy, thưa ngài chánh sứ. Tôi cũng ghen tị với ngài bởi cho đến bây giờ ngài vẫn được lận đận đến chốn này để đo đất cho riêng ngài. Ngài quả là người trung thành với nghề nghiệp đấy - Trần Huy Liệu hơi nhếch mép.
- Ông Trần Huy Liệu, ông không nên khiêu khích làm gì. Hiện giờ ông là khách của tôi.
- Ấy, đâu dám, ông đến thăm tôi kia mà.
- Thôi được, tôi đến đây để báo trước với ông rằng: tôi và ông còn món nợ với nhau cần thanh toán. Chắc giờ ông vẫn sẵn sàng tiếp độc giả của ông chứ?
- Vâng, đó là điều chắc chắn, thưa ngài chánh sứ. Tôi sẵn lòng hầu ngài, bất cứ lúc nào ngài muốn.
Một tia mỉa mai phóng ra qua cặp kính đen. Trần Huy Liệu quay người bước vào buồng giam.
Sáng hôm sau, trong giờ điểm danh, viên giám binh Pháp trại lính khố xanh lệnh cho đội Miên áp giải chính trị phạm đeo số vuông Trần Huy Liệu tới trình diện công sứ. Đội Miên đến trại giam, đưa giấy xuất tù của người chúa ngục cho người gác. Đây là lần thứ hai đội Miên được giao công việc “ngoại thành”, coi kho quân trang. Do cần cù chịu khó và ít mắc lỗi lầm, năm 1939 anh đã được thăng lên đội nhất... Anh đi sau người tù nhỏ bé, mảnh khảnh, và tương phản với cái oai phong bệ vệ của người đội là những ý nghĩ xao động thầm kín. Linh tính của một người thanh niên dân tộc trót mặc bộ đồ khố xanh vẫn còn nhiều lương thiện giúp anh đoán được những gì ghê gớm sẽ đổ xuống người tù này. Anh đã được nghe nhiều chuyện về viên công sứ mới đổi lên. Sự khát máu cũng như những “chiến công” của y người ta đồn đại như những truyền thuyết về ma quỉ. Người tù kia liệu có thể chịu được nổi cuộc đối mặt này không? Lòng trắc ẩn pha chút xót xa tội nghiệp cho người tù chợt dấy lên. Đội Miên đã từng đọc nhiều sách báo tiến bộ hồi Mặt trận Dân chủ. Nhưng những đống sách báo ngồn ngộn chỉ làm cho cái đầu óc vốn là học sinh tiểu học của anh thêm rối rắm bao vấn đề xa lạ và khó hiểu. Những biến động lớn của thời cuộc chỉ đến với anh nơi rừng rú này quanh những trang báo Đời Nay, Đông Pháp, Le Peuple (Dân chúng), Le Travail (Lao động), v.v, thông qua một nhận thức chính trị mở hồ đã bị nhồi nhét bao quan điểm thực dân. Anh cũng nghĩ về hai chữ cộng sản như mọi người vẫn nghĩ về những điều thời thượng khác, có xen lẫn hoài nghi đối với sự bôi bác của bọn bồi bút hay ở miệng những thượng cấp của anh. Và đây, người tù nằm trong tầm một qua thụi của anh kia là một "chính trị phạm nguy hiểm" - có gì là đặc biệt? Đôi guốc mộc ngất ngưởng, bộ quần ảo trắng ngả màu vàng đục, cái đầu tù cạm nham nhở, mảnh số tù vuông nhức nhối đập thẳng vào mắt, tất cả mọi thứ đó trong hầu hết mọi trường hợp đối với anh đều gợi lòng thương hại nhiều hơn là căm ghét hay bất cứ một thứ tình cảm nào khác. Nhưng dội Miên không ngờ rằng chính người tù đi trước anh vài bước lúc này lại là người sẽ cứu anh thoát khỏi cái vực thẳm mà anh đang chớm chân tới, sẽ mãi mãi đi vào trong tâm khảm anh...
Tòa sứ được xây ngất ngưởng trên mỏm đồi, cách nhà tù không xa. Càng gần tới tòa sứ, đội Miền càng hồi hộp. Anh cũng không hiểu rõ mình chờ đợi cái gì - cơn thịnh nộ của tên công sứ, số phận của người tù hay số phận của chính anh?
Phòng khách của công sứ Cút-xô hiện ra. Một chiếc bàn dài phủ nỉ xanh xám ở giữa, các cạnh bàn được đánh véc-ni tăm-pông bóng loáng. Cút-xô đứng tựa thành cửa sổ, y mặc chiếc áo vét-tông trắng, quần dạ màu xám, thắt cà-vạt màu nước biển.
Đội Miên dập gót chào theo đúng qui định:
- Thưa chánh sứ, tôi đội Miên có mặt theo lệnh ngài.
Cút-xô vồn vã giơ cả hai tay:
- Ô bông-giua mơ-xi-ơ (3) Trần Huy Liệu ! Mời ông vào và ngồi xuống đây - Y tự tay kéo ghế và dường như để cho đối thủ không kịp trở tay trong sự ồn ào, y tiếp thêm - Vậy là hôm nay chủ bút Đời Nay phải đến tòa sứ chúng tôi.
- Tôi là tù Trần Huy Liệu đến gặp công sứ Sơn La - Trần Huy Liệu dằn từng tiếng.
- Ấy ông Trần! Ở đây chúng ta xin xóa bỏ mọi ranh giới, mọi hằn thù. Tôi rất trọng những người có tài năng và tâm huyết như ông. Nếu ông Ga-bô-ri lỗ mãng và bọn lính tráng có xúc phạm đến ông, mong ông rộng lượng đối với họ. Họ là những người ít văn hóa. Có gì, ông cứ đề nghị thẳng với tôi.
- Xin cảm ơn ông. Xưa nay tôi vẫn ưa những người biết lẽ phải và công bằng. Vậy xin hỏi thẳng: ông cho mời tôi đến đây để làm gì?
Trần Huy Liệu vốn là người trầm tĩnh, nhưng ông đã thấy nóng ruột và muốn chấm dứt càng sớm càng tốt cái trò đấu trí vô bổ sắp diễn ra.
Cút-xô xoa tay tự mãn:
- Hôm nay tôi với ông sẽ tranh luận với nhau về bài báo của ông dạo nọ, đăng trên tờ báo của ông.
- Vâng, nếu như ông cho phép nhà báoTrần Huy Liệu nói chuyện với độc giả Cút-xô...
Cút xô cười ha hả.
- Tôi vẫn nghe người ta nói rằng ông là một chính khách khôn ngoan. Tiếng đồn quả không ngoa. Vâng, tôi xin chiều ý ông. Tôi sẽ cởi áo công sứ để tiếp chuyện với ông.
Trong cử chỉ và giọng nói của tên thực dân có một cái gì mềm mại uyển chuyển, nhún nhường. Cút-xô buông mình trong những cảm giác của một con báo vồ được mồi, trước khi dự bữa tiệc ngon lành phải đùa dỡn con vật khốn khổ sa vào tròng đến mệt lử mới thôi. Bằng sự lọc lõi, ngạo mạn, bằng quyền lực, hiển nhiên là y có thể ngấu nghiến ngay lập tức kẻ thù riêng, bất cứ lúc nào muốn. Khoái cảm dâng đầy lồng ngực, Cút-xô cố kéo dài những giây phút đó. Y chắp tay đi đi lại lại trong phòng, nhấm nháp những ý nghĩ sắp sửa tuôn ra, để bẻ gãy một tư tưởng, đè bẹp một tinh thần có danh vọng trong hàng ngũ đối phương. Y chẳng cần ước lượng sức nặng của những điều sẽ nói. Thậm chí Cút-xô thấy rằng đây là lúc chứng tỏ cho mọi người - và cho chính bản thân y nữa - rằng y không phải là một kẻ keo kiệt những tình cảm chân thành. Vì thế, y nói rất du dương, bóng bẩy, như bộc bạch tâm sự:
- Ông thấy đấy, ông Trần ạ, tôi là một người yêu đời và lo đời thái quá, đến nỗi mọi người phải hiểu lầm tôi.
- Riêng tôi thì không hiểu lầm ông chút nào cả !
Trần Huy Liệu cắt ngang. Nhưng cảm xúc của Cút-xô không hề giảm bớt.
- Sao, ông Trần, đúng dạo đó ông đã hiểu lầm tôi rồi đấy. Tôi xin nói để ông rõ: bây giờ tôi cũng là một người cộng sản Pháp, tôi vốn yêu thích những tư tưởng cộng sản - Y xòe hai bàn tay chuối mắn và lông lá ra như để phân trần - ông là một người cộng sản Việt Nam. Chúng ta cùng là cộng sản.
Cút-xô đã nhiều lần vung ba-toong tới khắp các khu trại giam để thuyết phục anh em tù chính trị tin rằng y là một người cộng sản, và làm điều đó một cách đầy cảm hứng y hệt lúc chứng minh cho người tù rằng: ăn ớt cay có thể chống lại bệnh sốt rét và cho một nắm ớt vào mồm nhai nhồm nhoàm... Trần Huy Liệu đập bàn đứng dậy, quắc mắt:
- Ông là một chính khách thực dân! Ông đừng bôi nhọ những người cộng sản Pháp. Ông không có một tư cách nào để tự nhận đứng trong hàng ngũ của họ!
- Ấy, ngồi xuống ông Trần. Đừng nóng, đừng nóng vội ông - Cút-xô có thói quen ấn người khác đang nóng ngồi xuống bằng sự nhã nhặn đặc biệt của y. Nhờ vậy, một người đã đang nóng tới đâu khi ngồi xuống, mọi ngọn lửa giận dữ sẽ có cơ bị dập tắt - Tôi cần khẳng định với ông một điều rằng: Tôi là một người cộng sản. Người cộng sản Tây Âu chúng tôi có những điều khác với các ông. Dĩ nhiên. Nhưng tôi đã từng nghiên cứu Mác. Vì thế chủ trương cải cách của tôi trên đất nước này là phù hợp với tiến trình lịch sử. Ông nghĩ lại mà xem?
Trần Huy Liệu nhìn y, cái nhìn đầy khinh bỉ.
- Tôi cũng phải bật cười, ngài chánh sứ ạ. Không hiểu ông đã có những ý nghĩ kì quặc đó từ bao giờ. Chắc ông còn cho rằng ông là một người cộng sản lập dị và đã mang cái nhãn cộng sản dán lên lá cờ ba sọc của nước Pháp thực dân, vì đã "hạ cố" đi theo một đội quân viễn chinh xâm lược thuộc địa?
- Sự đời nhiều khi lạ lùng và trái ngược thế đấy. Nhưng dù ở cương vị nào, tôi cũng không quên mình là một người cộng sản.
- Này ông Cút-xô, ông tưởng rằng thuyết phục được chúng tôi một điều hết sức ngây ngô như vậy, ông sẽ bắt chúng tôi phải qụi lụy, xin xỏ ông? Xin thưa với ông, điều đó đối lập với cái mà ông gọi là tư tưởng cộng sản!
- Xin lỗi ông Trần. Tôi thấy những bậc tiền bối của ông sáng suốt hơn ông nhiều, khi họ đã nêu cao ý chí đề huề Pháp - Việt. Huống chi, tôi với ông lại là những đồng chí không may mắn của nhau.
Một thoáng giễu cợt trên cặp mắt nhăn nheo hơi nhíu lại của tên công sứ quỉ quyệt.
- Ông không có quyền xúc phạm đến cả những sai lầm của họ. Các ông, ngay cả đến thống chế Pháp nữa cũng không xứng đáng nói về những bậc tiền bối của chúng tôi!
Tên thực dân đã động đến phần sâu thẳm nhất trong lòng Trần Huy Liệu. Ông xuất thân từ một gia đình nho học. Cụ tú Trần Huy Trình, thân sinh ra ông là một nhà nho “bất đắc chí” đã để nhiều thời gian dạy ông chữ Hán. Và cũng giống như cụ tú thân sinh, nuôi chí hướng trong mớ giáo lí Khổng - Mạnh, ông cũng không quên được cái thân phận nhục nhã của một người dân mất nước. Trong trái tim ông từ thuở tóc trái đào đã mang dòng máu của thủ khoa Huân, Nguyễn Cao, Nguyễn Quang Bích... Đã mấy thế hệ rồi, những người Việt nối tiếp nhau làm cho đội quân xâm lược Pháp chưa một phút nào yên trên mảnh đất này. Cách mạng Việt Nam từ thời kỳ cận đại chuyển sang thời kỳ hiện đại, cho tới hôm nay đã trải qua những chặng đường đầy máu và lửa. Bản thân ông cũng đã bị lưu đầy hết khám lớn Sài Gòn tới Côn Lôn; và ông đã từ một người Hán học, một nhà nho đọc “Tân thư” trở thành một chiến sĩ cách mạng dày dạn. Những năm tháng hoạt động và tù đầy đã in lên vầng trán của ông. Để đối địch với một kẻ ghê gớm như Cút-xô, ngoài sự từng trải lão luyện của một cán bộ cách mạng, ông còn có cái khí tiết của các bậc chí sĩ và nho tướng thuở nào. Trần Huy Liệu rất hiểu ưu thế của mình so với tên quan lại cai trị thuộc địa đang dương đương tự đắc kia. Những cao trào cách mạng ngày một rộng lớn khắp ba kì, mặt trận chống Phát xít đã hình thành trên phạm vi toàn thế giới. Còn đế quốc Pháp đã lao đầu vào vòng chiến như một con thiêu thân để hòng duy trì địa vị và quyền lợi của một kẻ đã từng làm mưa làm gió ở những thuộc địa vùng Viễn Đông, châu Phi. Nhưng liệu chính phủ quân phiệt độc tài Pê-tanh (Pétain) và đội quân đánh thuê có được nổi một phần mười dũng khí cần thiết của nhà binh trước uy lực của bọn Đức quốc xã và bọn phát xít Phù tang ? Trần Huy Liệu cười khẩy... Bấy lâu nay, Trần Huy Liệu có dịp nghiền ngẫm về những sự kiện lịch sử trong và ngoài nước. Ông yêu khoa học lịch sử lắm và dự định khi nào được thanh thản sẽ đi sâu vào nghiên cứu lịch sử một cách có hệ thống. Với năng khiếu tiềm tàng của một sử gia, ông có thể dễ dàng nhìn thấy cách mạng Việt Nam đang bước vào con đường lớn của lịch sử trong sức mạnh không gì ngăn cản nổi… Trần Huy Liệu hơi nghiêng mắt nhìn tới người đội khố xanh đang đứng ở một góc nhà, như ước lượng sức tác động của những điều minh sắp nói. Ít ra ở đây ông cũng có thể tranh thủ thêm được một người bạn đồng minh. Cần hạ uy thế của Cút-xô trước mặt hạ cấp của y. Chất hùng biện trong con người diễn giả và nhà báo của ông đã trỗi dậy. Trần Huy Liệu nhìn thẳng vào viên công sứ đang tái mặt đi vì bị xúc phạm. Ông không thể kìm lòng được nữa.
- Các ông là những kẻ hậu sinh đáng hổ thẹn của những người Pháp đáng kính thế kỷ trước. Các ông đi “bảo hộ” thuộc địa, nhưng các ông đã làm những gì để giữ gìn thanh danh của nước Pháp? Ông tự cho mình là một người cộng sản, thật là một sự ngộ nhận kì quặc, nếu không muốn nói là một ảo tưởng điên rồ. Không! Vì sự trong sáng của những người cộng sản thực sự, chúng tôi còn nhìn thấy điều còn lố bịch đáng ghê tởm hơn thế: ông đang lừa bịp mọi người. Phải, đều là một sự lừa bịp trắng trợn, cái “mác" cộng sản lẫn cải cách điền địa!
Cút-xô cười nhạt.
- Ông Trần Huy Liệu, tôi cho mời ông đến để cốt được tâm sự với một trí thức có tên tuổi. Ông không nên mạt sát một quan chức như vậy.
- Tiếc rằng ông chưa được nói chuyện với những người nông dân một chữ bẻ đôi không biết vì chính sách ngu dân của các ông, nhưng lại có thể dạy cả những người tự xưng đại trí thức những điều về đạo lí, về công bằng và bác ái, về sự thật hiển nhiên.
- Ông bênh vực đồng bào của ông là phải, và tôi tin rằng công cuộc cải cách của tôi sẽ mang lại cơm áo hạnh phúc cho hàng triệu người dân thuộc địa. Lẽ nào một người uyên thâm như ông lại không hiểu tình cảm của những người nông dân đối với ruộng đất dù ở vùng Xanh Giéc-manh hay ở xứ Bắc Kỳ, đâu cũng vậy?
Giọng Trần Huy Liệu bỗng chứa đầy sự mỉa mai, giễu cợt, ông từ tốn nói như người ta vẫn dạy trẻ con vậy
- Chắc một người thông thạo Á Đông như ngài cũng đã biết câu chuyện Thư Công nước Tống nuôi khỉ? Một lần Thư Công muốn hạn chế lương ăn của bọn khỉ, ông mới hỏi những con vật đáng thương thế này: bây giờ ta sẽ cho chúng bay ăn sáng bốn, chiều ba hạt dẻ, chúng bay thấy sao? Bọn khỉ nhao nhao phản đối. Ông ta liền bảo: vậy ta cho chúng bay ăn sáng ba, chiều bốn. Những con khỉ tội nghiệp liền reo lên mừng rỡ... Thật bịp bợm! Nhưng ngay từ những phát ca-nông đầu tiên của chiến hạm các ông nã vào cửa biển Đà Nẵng cho tới nay, người dân Nam Việt đã hiểu rõ những “thiện ý” của một đạo quân xâm lược nhà nghề, chuyên bắn giết, đốt phá và hãm hiếp...
Ngừng lại một chút để thở, Trần Huy Liệu nói tiếp, mỗi lúc một tăng,, lòng căm giận và khỉnh bỉ đã tràn ngập tâm hồn khảng khái của ông:
- Hãy mở to mắt ra mà “chiêm ngưỡng” những “thành quả vĩ đại” mà người Pháp ở Đông Dương đã gây ra đối với đất nước và nhân dân Việt nam, nếu ông còn chút lương tri của một con người nó đã giúp ông tự dám cho mình có tư tưởng cộng sản! Ngay trên đống tro tàn và xương máu do các đồng sự của ông và cả chính ông gây ra, ông lại định xây dựng một tòa lâu đài bịp bợm chỉ có thể đánh lừa được những kẻ mê ngủ và được sự thừa nhận của những kẻ đã cam tâm bán rẻ tổ quốc, cúi đầu làm nô lệ?
Cút-xô đã bị kích động sâu sắc. Y đập bàn:
- Trần Huy Liệu. Ông là một người không biết điều ! Ông phải nể uy tín và sự trân trọng của tôi với ông chứ?
- Xin lỗi, nếu điều đó làm ông không hài lòng - Trần Huy Liệu cố tình nói theo kiểu câu tiếng Pháp, ông nghiêng đầu tỏ vẻ lịch sự nhạo báng - Nhưng nếu ông cần đến sự vuốt ve và chiều chuộng những thói quen của ông bằng sự uốn gối bợ đỡ, thì ông không nên cho gọi tôi đến đây.
Cút-xô lại đập bàn. Y giống như một viên chánh án thiếu công minh, phải liên tục tuyên bố lời bác bỏ một cách tuyệt vọng và khổ sở khi người ở vành móng ngựa đang chất vấn lại nhân chứng ép uổng.
Trần Huy Liệu cũng đập bàn trả lại, kiêu hãnh. Dự kiến của Cút-xô hầu như sụp đổ hoàn toàn. Y lồng lộn. Nhưng biết làm thế nào được! Sự đắc thắng một lần nữa của kẻ thù riêng mà y chôn chặt nỗi uất hận trong lòng thật là hiển nhiên, nhưng cũng thật là vô hình, trước bạo lực của y. Còn sự bất lực của y thì trương phình ra trong một bộ não mệt mỏi, cay cú và điên loạn. Nhưng không thể để kéo dài tình trạng thanh danh của một viên công sứ mới đưa ra bị báng bổ nhiều hơn nữa; không thể kéo dài một sự tự công nhận bi đát lâu hơn nữa. Cút-xô dưa ngón tay trỏ dứ dứ vào Trần Huy Liệu, tưởng chừng hiệu lực của sự đe dọa này phụ thuộc vào tốc độ di động của ngón tay thô bỉ. Một tràng tiếng Pháp như bị nén lại sau cả tiếng đồng hồ mới chọn được thời cơ để xổ ra một cách chối tai.
- Păng-xê-vu, Trần Huy Liệu, vu-dết-ong pơ-ri-zon-ni-ê ! (4)
Không hiểu có phải ngài chánh sứ muốn thông qua một thứ ngôn ngữ nào đó để diễn đạt tất cả sự xúc động nội tâm lẫn khuynh hướng của tình thế một cách tế nhị hơn, bớt trơ trẽn đi? Dù sao chăng nữa, ngài vẫn đủ tỉnh táo để nhớ rằng tiếng mẹ đẻ có thể làm tốt nhất công việc nhiều thiện ý này đối với một địch thủ “bản xứ". Như vậy vẫn là đáng qúi hơn cái ngôn ngữ bằng quả đấm quả đá, ít nhất trong lúc này, giữa căn phòng khách sang trọng. Và oái oăm thay, viên công sứ đã vô tình lột tả được cái định mệnh của nhà sử học đối phương!
- Thôi được - Trần Huy Liệu ngán ngầm xua tay. Tuy vốn tiếng Pháp còn ít ỏi và giống như tất cả những người tự học ngoại ngữ, ông không quen nói, quen nghe tiếng Pháp, nhưng cũng hiểu hết nội dung những lời lẽ vừa thốt ra từ miệng quan công sứ, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng - ông đã muốn “lấy thịt đè người” thì đành chịu. Theo tôi được biết thì những người Pháp chân chính biết cách cư xử hơn ông nhiều.
Trong đời, chưa bao giờ Cút bị người nào lăng nhục đến thế, tệ hại hơn lại là một người tù sinh mệnh nằm trong tay y. Cút gầm lên:
- Mẹc!...
Y ghìm ngay được câu chửi tục tĩu chưa xổ hết vì chợt nhớ ra y là một viên công sứ có học cao.
Trần Huy Liệu từ tốn đứng dậy, không thèm nhìn đối thủ vừa bị ông “điểm huyệt” lần nữa. Ông quay đi, bước ra cửa, qua mặt người đội áp giải đang đứng ngây ra như tượng.
Người lính khố xanh đeo lon đội nhất sau khi đặt chân trên con đường rải sỏi theo người tù về trại giam vẫn không tin được sự việc vừa xảy ra là đúng như thế. Anh giống như một kẻ vừa bị ném từ trên mây xuống, bỡ ngỡ và lạ lùng, có chút sợ hãi mơ hồ.
Từ đầu cuộc đối thoại đến giờ, anh đã không thể tự chủ được cảm giác của mình. Anh bị dẫn dắt từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Trong cuộc đời chỉ biết tuân theo những qui định ngặt nghèo của binh lính, những mệnh lệnh quái gở và tàn nhẫn của bọn sĩ quan võ biền Pháp, đội Miên đã dần bị thít chặt ý thức phản kháng. Một ngôi nhà sàn, một người vợ và hai đứa con, những đồng lương mỗi kỳ tút-xê, một tâm hồn hay mơ mộng kết hợp chất thị vị của núi rừng và những khúc tình ca Thái với màn sương lãng mạn của “Tự lực văn đoàn”, “Tiểu thuyết thứ bảy”... tất cả những cái đó đã vô tình buộc anh vào một sự cam phận hầu như tuyệt đối. Nhưng tại sao anh lại cảm thấy nhoi nhói trên đỉnh đầu, bệnh đau đầu từ sáu năm trước đến bây giờ lại trở về hành hạ anh. Đội Miên nhớ lại rõ mồn một... Dạo đó, anh mới đăng lính. Tên giám binh tên là Đơ Noay-ăng được giao nhiệm vụ vẽ bản đồ Sơn La. Miên cùng một số người nữa phải đi theo hắn phục dịch. Anh thường phải mang theo ghế, bàn con, hộp dụng cụ cho hắn. Một hôm đi đo, đang ngắm thước thợ, anh nghe thấy tiếng mấy cô gái Thái đi qua trêu chọc nhau. Vốn tuổi trẻ, anh hơi quay ngang liếc trộm họ. Nhưng không may dây dọi bị lệch. Thế là một trận mưa nắm đấm giáng xuống đầu; anh chỉ biết đau ba bốn quả đầu tiên, sau đó bị tê đi như một cái bị thịt vô tri vô giác. Sau trận đòn ấy, Miên bị nhức buốt tận đỉnh đầu trong suốt mấy năm liền những khi trái gió trở trời. Một lần khác, Miên mang hộp dụng cụ cho hắn, sơ ý để rơi cây bút chì vót nhọn khi đi qua một cái rãnh. Anh nhặt lên mà không xem lại, cho ngay vào hộp. Thằng Pháp này thực sự là một kẻ dã man tới mức điên rồ: Hắn nhìn cây bút chì gẫy đầu kẹp trong hai ngón tay múp míp, đôi mắt tròn xoe vì tức tối, hắn xòe cả bàn tay lông lá to sụ ra chộp một cái khủng khiếp vào bộ ngực anh lính khố xanh - chỗ mà hắn quen làm như vậy đối với đàn bà con gái “bản xứ” (Ngực Miên sau đó tím bầm đến ba tháng trời). Miên liền chạy xuống vườn rau nhà tù ngồi một xó khóc tấm tức. Một người tù số vuông làm rau gần đó bèn buông cuốc, đến gần anh và ân cần hỏi han. Lúc đó, sự sợ hãi và nỗi đau đớn thể xác của anh dần được thay thế bằng một cảm giác nhục nhã.
Giờ này đội Miên lại cảm thấy nhoi nhói cái cảm giác ấy ở đâu đó trong lòng anh. Anh thấy xót xa cho chính mình, và hầu như tất cả lòng thương hại cho người tù lúc sớm đã dồn trở về cho anh. Một giọt nước mắt to bất chợt hiện ra trên khóe mắt đục mờ. Và chính khi đó, một nỗi xúc động ấm áp dâng lên chầm chậm giữa ngổn ngang bao tâm trạng của đội Miên. Sao anh lại trở nên đa cảm thế này. Người tù đáng kính kia nếu quay lại nhìn thấy thì thật chẳng hay ho gì. Miên lén đưa ống tay áo có thêu kim tuyến lên quệt vội giọt nước mắt cứ chực lăn ra để vỡ òa giữa tim anh...
Giây phút đó mau chóng qua đi như một con mưa rừng đầu hạ. Giờ đây đội Miên bình thản hơn để ngắm nhìn người tù với một thái độ trân trọng, vì nể - cái vì nể gần giống như đối với tên giám binh Mi-la-ni lúc hắn khoe đã từng đấu đá và kiện cả công sứ Hải Dương tận phủ thống sứ Bắc Kỳ, nhưng lại không xen một chút sợ sệt cố hữu của một người lính đối với thượng cấp. Và lòng trân trọng vì nể đó cứ toát ra một niềm vui trìu mến kì lạ, quấn quít quanh chiếc áo tù sạch sẽ, trắng mộc mạc - như một cái gì thật gần gũi và cũng thật cao cả.
Trần Huy Liệu bước xuống ca-sô và đi tới cửa xà- lim dành riêng cho ông. Người cai gác kéo chốt sắt ở cửa nghe rờn rợn. Trần Huy Liệu quay lại. Dường thấy rõ cả đôi mắt ông đang nheo cười sau cặp kính đen, trong bóng tôi hầm ngầm mờ ảo.
- Thế nào, ông đội, ông thấy buổi gặp gỡ vừa rồi thế nào? - Đội Miên chưa kịp trả lời, ông đã hỏi tiếp - ông không nói được nhiều tiếng Kinh à?
Đội Miên chỉ gật đầu lấy lệ, ngượng nghịu. Người tù lập tức bị đẩy vào căn buồng giam tối mịt. Cánh cửa gỗ nghiến nặng nề sập lại. Khóa sắt loảng xoảng.
Khi đội Miên bước lên khỏi hầm ngầm xà-lim, nắng tháng ba đã rọi trên đỉnh đầu. Mùa xuân miền Tây đang độ chớm gió Lào, giữa xuân mà nắng gay gắt tựa mùa hè. Những dải núi trập trùng đang tràn ngập trong một biển nắng lóa trước mặt cổng trại lớn. Nắng chói chang như sắp làm bốc cháy cả những bức tường đá xám xịt và nham nhở rêu đen.
Nếu lúc đó đứng trên một ngọn núi khác nhìn sang, cả khu nhà tù giống như một con quái vật khổng lồ đang hấp hối nằm phủ phục giữa sa mạc lửa.
NAT.
Tác giả gửi www.trieuxuan.info
____________
(l) Tên gọi chung của những người bộ lạc da đỏ ở châu Mỹ.
(2) Nhà dân tộc học người Ba Lan, đề xướng ra trường phái chức năng của dân tộc học tư sản hết sức phản động.
(3) Lời chào buổi sáng - ngài, ông.
(4) Trần Huy Liệu, anh hãy nên nhớ rằng anh là một tên tù!
|