tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Truyện ngắn
07.09.2012
Lê Văn Thảo
Ông Cá Hô

Làng tôi là một cù lao nhỏ giữa sông Hậu, gọi là cồn Te, dài hơn ba cây số, ngang ba bốn trăm thước, đi dạo một buổi chiều là hết. Làng có vài trăm nhà rải rác trong các khóm cây um tùm, cây ăn trái lẫn với tre trúc, cây hoang cỏ dại mọc tràn lan, nhiều nhứt là cây trâm bầu chẳng ai trồng và cũng chẳng làm được chuyện gì, nhiều cây ô môi đến mùa nở bông đỏ rực thật vui làng xóm, nhưng thường ngày xám xịt, trái đen xì cứng ngắc, chỉ có đánh chó là tốt. Dân làng phần đông làm nghề chài lưới, một số ít đan lát hoặc cày ruộng, những thửa ruộng nhỏ xíu lúa gặt được không đủ cho gà ăn. Nói chung làng tôi là một làng nghèo, tuy gần sát bên chợ tỉnh, đứng bên này có thể nhìn thấy chợ Long Xuyên với nóc nhà thờ cao vút, tàu ghe đậu san sát dưới bến chợ cá.


Vậy mà một hôm có một gánh hát đến diễn ở làng tôi. Thật là một gánh hát mạt hạng, người ta nói thế, mấy đêm diễn ở đình làng chẳng có mấy người coi, chỉ có đám trẻ nít chúng tôi chạo rạo bên ngoài là nhiều. Nhưng sau khi diễn xong lại đâm ra vui tưng bừng. Ấy là do ông bầu tuyên bố rả gánh, rả ngay tại chỗ, ông sẽ trả đủ tiền mấy đêm diễn cho đào kép, quần áo trang phục của ai nấy giữ coi như cho luôn, rồi ai muốn đi đâu thì đi. Riêng vợ chồng ông chủ sẽ qua chợ Long Xuyên dọ giá coi có thể buôn ba khía được không, hoặc mở quán cháo lòng mì sợi. Nghe vậy đám đào kép chộn rộn lên. Đi đâu, làm gì giữa cù lao như vầy? Nhưng nước tới chân phải nhảy. Chỉ buổi sáng đám đào kép mặt mày còn đầy son phấn lo bán đổ bán tháo các món trang phục áo mão cân đai, mạnh ai nấy vẩy tay kêu đò máy, người đi Chợ Mới kẻ ngược xuống cù lao Giêng, kẻ lên tận miệt Tân Châu, Hồng Ngự. Bọn trẻ chúng tôi được dịp cha mẹ mua rẻ cho các thứ trang phục, buổi sáng cả đám bận đủ thứ quần áo xanh đỏ chạy rong khắp làng, đứa thành vua với áo long bào, thành công nương thái tử áo gấm lượt là, có đứa bận được chiếc áo thụng đen của Bao Công lúc xử án Quách Hòe, chiếc áo dài tới gối khỏi phải bận quần. Thật là vui, hoan hô gánh hát!


Nhưng có hai người trong gánh hát không đi mà ở lại với làng, đó là đào Hồng Điệp và kép Hoàng Dương. Kép Hoàng Dương cat một cái chòi ở đầu cồn, tính bề chuyển sang nghề đánh lưới bắt cá hô. Đào Hồng Điệp được bà chủ quán nhận làm người phụ việc.


Một bữa tôi mò ra chỗ ở của kép Hoàng Dương. Đầu cồn là một khoảng đất nhỏ, nhọn như mủi tàu, thấy rõ nước sông chảy rẻ ra hai bên. Kép Hoàng Dương đang ngồi chồm hổm ngó xuống sông coi nước chảy. Tôi bước tới làm quen:


“Chú Hoàng Dương diễn tuồng hay lắm!”.


Chú quay lại nhìn tôi, nghi ngại:


“Mày coi tao diễn hồi nào, tao đâu có diễn ở đây? Đào Hồng Điệp bịnh tao cũng nghỉ diễn luôn, hai chúng tao luôn diễn có đôi có cặp. Mày gặp đào Hồng Điệp chưa?”.


“Gặp rồi, đang rửa chén ngoài quán bà Ba”.


Thật ra tôi khong coi kép Hoàng Dương diễn, chỉ thấy chú bên ngoài rạp, hóa trang làm Cáp Tô Văn mặt xanh lông mày chổi xể, hai mắt bịt bạc bằng hai chiếc nắp muổng úp chụp vào mi mắt. Chú ngồi chồm hổm bày sòng bạc “bầu cua cá cọp” dụ đám nít tụi tôi, lắc rủng rẻng mấy cục “cá cọp” chung chi tiền ăn thua, vừa lắng nghe tuồng tích diễn bên trong. Hể nghe tiếng hô “Quân bây!”, chú liền bật dậy “Dạ” một tiếng thất lớn, kêu tụi tôi “dạ” tiếp cho xôm tụ.


“Ừ, tao là kép Hoàng Dương đây”, chú nói. “Cứ gọi Sáu Dương cho tiện. Quê tao ở Rạch Giá, cùng quê với đào Hồng Điệp. Nhà hai chúng tao ở cạnh nhau. Rồi cùng đi hát một lượt, diễn chung một tuồng. Bây giờ cùng ở lại đây, số kiếp như vậy”.


“Số kiếp gì?”, tôi hỏi.


“Không biết”, chú đáp. “Mày biết làm gì? Con nít không được hỏi chuyện người lớn”.


“Nhưng đâu ai bắt chú ở lại đây, ông chủ nói ai muốn đi đâu thì đi mà?”.


“Mày đúng là con nít, chuyện đi ở của người lớn khó lắm, đâu phải như đá cầu bắt dế. Tốt nhứt mày chỉ tao chỗ vụng sông nào có cá hô tao đánh lưới sống qua cơn thắt ngặt này coi”.


Chú sắm một chiếc ghe tam bản, mua ít tay lưới rồi cứ thế ngày đêm xuôi ngược trên sông giăng lưới đánh bắt cá hô. Đoạn sông vùng quê tôi có nhiều cá hô, ở hang hốc nào dưới đáy sâu không biết được. Những người già, khách thương hồ qua lại trên sông kể đôi khi họ nhìn thấy con cá trồi lên lớn bằng tấm ván ngựa, vẩy ánh bạc, hai mắt bằng hai cái  chén sáng rực, quẩy một cái làm nổi sóng lớn. Rồi lặn mất. Chú Sáu Dương miệt mài theo dấu từng con cá hô, có khi cả tháng trời, ăn ngủ luôn dưới ghe, người đen xạm gầy rạc, ngày đậu ghe dưới một lùm cây ngủ gà gật, đêm thức chong lắng nghe mọi động tịnh, dù là một gợn sóng nhỏ. Nhưng đám cá hô tinh khôn lẩn trốn chú hoài, như chơi trò cút bắt. Chú thả lưới chỗ này chúng trồi lên chỗ kia, nghe có đâu đó nhưng không thấy chúng bao giờ. Nhưng chú không thất vọng.


Chú nói: “Đám cá hô thành tinh, nhưng tôi cũng tu luyện mấy kiếp, chưa biết ai hơn ai đâu”.


Chú thành người ngư dân hẳn hoi, không còn bóng dáng người kép hát năm xưa. Đào Hồng Điệp vẫn rửa chén ngoài quán bà Ba, đôi khi được bà sai qua chợ Long Xuyên mua sắm đồ đạc. Chú Sáu Dương thỉnh thoảng ghé quán uống ly cà phê nói chuyện sông nước với khách thương hồ. Không thấy chú nói chuyện với đào Hồng Điệp, cô ta đi ra vô cũng không ngó chú.


Một bữa có người khách vui miệng nói:


“Ở đây có đào kép đủ cả, ta diễn tuồng coi đi!”.


Đào Hồng Điệp mím môi bỏ đi vô trong. Chú Sáu Dương cười nói giả lả:


“Thôi mệt rồi, giang hồ phỉ sức rồi! Lo mần ăn thôi”.


Có vẻ chú không còn quyến luyến gì tới nghề ca hát nữa. Nhưng một hôm chú tâm sự với tôi:


“Thằng nhỏ, mày không biết làm người lớn cực khổ như thế nào đâu. Mày hay ghé quán bà Ba uống cà phê không? Có thấy đào Hồng Điệp được mạnh khỏe không? Con người ta gắn bó với cái gì khổ với cái đó. Tao thương đào Hồng Điệp lâu rồi, từ hồi ở làng, lớn lên càng thương. Vậy rồi ngày tháng trôi qua, tới giờ tao chưa có dịp nào ngỏ lời với cô ấy”.


Tôi nói:


“Chị ấy ở ngoài quán kìa, sao chú không ra đó nói đi?”.


“Mày giỏi ra đó mà nói”, chú nạt. “Nói làm sao? Nói thương cô ta à? Cô ta không mày chịu nhảy xuống sông tự tử hả? Chuyện đời khó lắm, không dễ như bắt cá hô đâu. Tao đã tính trong bụng rồi, chừng nào thấy chắc đào Hồng Điệp thương tao tao mới dám nói. Không việc gì phải vội. Cái chính là đừng cho thằng khác xen vào. Mày rảnh rỗi ra ngoài quán canh chừng dùm tao. Tao thương đào Hồng Điệp quá mới theo gánh hát, tao biết hát hò gì đâu. Nhưng rồi cố gắng tập tành cũng hát được, hát chung với Hồng Điệp càng hát hay. Chuyện tao coi bộ xuôi chèo mát mái, biết đâu thành đào chánh kép chánh, tụi tao cũng nên vợ chồng. Đâu ngờ trúng nhầm gánh hát mắc dịch chưa chi đã rả banh như vầy”.


“Rồi chú tính sao?”.


“Tính gì? Tao đang đánh lưới cá hô đây còn tính gì nữa. Thôi xong hết rồi. Nhưng tao chắc đào Hồng Điệp chưa yên đâu, cô ta còn nhiều mộng tưởng lắm. Do vậy tao bàn với mày như vầy…”.


Chú Sáu Dương ngày đêm vẫn quần với bầy cá hô. Có một lần chú thả lưới trúng một con cá hô thật lớn. Tôi cùng đi với chú, con kình ngư quẩy hoài dưới nước không cách gì lôi lên ghe được. Chú nhào xuống nước quần với nó, nước sôi lên sùng sục, thấy có vẩy cá nổi lên rồi thấy có cả máu nữa. Cuối cùng chú trồi lên tay cầm tấm lưới rách bươm, lau máu ở mặt, nói:


“Thôi tha cho nó phen này, coi như rộng nó dưới sông. Mày ra quán nói chuyện với bà Ba chủ quán đi”.


“Nói gì?”.


“Tao dặn mày như thế nào? Nói đúng lời tao dặn không sai một tiếng. Đi đi!”.


Tôi chạy ra ngoài quán nói với bà Ba:


“Chú Sáu Dương nói bà để thư thả, chú sẽ chuộc chị Hồng Điệp ra”.


“Chuộc bằng gì?”.


“Bằng cá hô. Chú sẽ đền bà một con cá hô hai trăm ký, không thiếu một gờ-ram”.


“Biểu nó ra đây”.


Hơn tháng sau chú Sáu Dương bắt được một con cá hô lớn nằm chật cả lòng ghe. Chú chèo thẳng ra quán bà Ba, con cá khiêng lên nằm dài trên sàn quán, khách khứa bu lại trầm trồ chỉ chỏ. Chú Sáu Dương ngồi một góc uống ly cà phê phì phà điếu thuốc. Con cá hô há miệng ngáp ngáp, đập đuôi mấy cái mở to mắt nhìn mọi người. Đào Hồng Điệp đi ra vô không ngó con cá hô, cũng không nhìn chú Sáu Dương.


Bà Ba chủ quán đi ra kéo ghế ngồi xuống trước mặt chú Sáu Dương nói:


“Vậy là con cá hô này đây hả? Mày đem nó ra đây chuộc con Hồng Điệp hả?”.


Chú Sáu Dương cúi xuống với ly cà phê, không đáp. Bà Ba nói tiếp:


“Mày chuộc cái gì? Tao nuôi con Hồng Điệp chăm sóc thương yêu còn hơn con đẻ, mắc mớ gì mày phải chuộc? Mà mày nuôi nó nổi không? Mày trả tiền ly cà phê rồi về đi, con cá hô tao sẽ xẻ thịt bán trả tiền lại cho mày”.


Chú Sáu Dương chèo ghe ra về. Bà Ba xẻ thịt con cá hô bán lấy tiền dẫn đào Hồng Điệp qua chợ Long Xuyên mua sắm quần áo, mấy hôm sau nữa lại dẫn qua đó, không biết làm gì.


Chú Sáu Dương nằm khoèo ở nhà gác tréo chân, nói với tôi:


“Thằng nhỏ mày góp ý tao coi, phải làm sao đây?”.


“Tốt nhứt chú bắt cá hô thật nhiều”, tôi nói. “Bán lấy tiền cất cái nhà thật lớn, rước chị Hồng Điệp về ở”.


“Nên chăng?”, chú hỏi.


“Nên lắm”, tôi đáp. “Hay chú muốn chị Hồng Điệp rửa chén hoài ngoài quán bà Ba?”.


“Rửa chén thì tao không muốn rồi. Nhưng về đây ở thì… Thôi bỏ chuyện đó đi. Giờ mày tính dùm tao coi, mấy hôm rày bà chủ quán đưa Hồng Điệp qua chợ làm gì?”.


“Có thể bà ấy giới thiệu chị Hồng Điệp với mấy gánh hát bên đó”.


“Có thể như vậy không? Vậy thì được. Hồng Điệp cần phải lo sự nghiệp, còn tao đi bắt cá hô. Như vậy cũng hợp tình lắm”.


Bà chủ quán không biết chạy chọt thế nào, Hồng Điệp được nhận vào một gánh hát nhỏ bên chợ, cũng chỉ đóng vai phụ. Nhưng như vậy cũng được rồi, còn hơn rửa chén ở quán. Chú Sáu Dương nghe vậy mừng lắm. Tôi lúc đó đã qua học bên chợ. Chú dặn tôi theo dõi báo tin tức Hồng Điệp, đang diễn tuồng gì, sắm vai nào, bận quần áo son phấn ra sao. Bản thân chú cũng hứng khởi, đêm đêm nghe tiếng hát trên sông, lời ca vai diễn của chú và Hồng Điệp trước đây. Bài hát có câu như vầy:


Chàng ơi, phận thiếp đành bạc mệnh


Chốn loan phòng gãy gánh đường tơ


Suối lệ ngập tràn, nát cánh hoa rơi


Oi lang quân ơi, lang quân ơi thiếp đành lỗi hẹn


Lại có đoạn chú đóng khi vai này khi vai kia, tới lúc người chinh phụ đợi chồng chú ngân dài hơn hết thảy:


Chờ ai, chờ ai vắng bóng


Tiếng trống xa đưa, như là chiếu triệu chồng ta


Chốn giang biên, người có biết có hay chăng là…


Một hôm tôi về báo chú một tin vui:


“Chị Hồng Điệp được đóng vai chánh rồi, có hình dán ngoài cửa rạp”.


Chú trố mắt nhìn tôi:


“Hình thế nào?”.


“Không đẹp. Bị mưa làm lem. Nhưng coi cũng giống”.


“Đóng với kép nào?”.


“Không biết. Coi hình bên ngoài thôi mà”.


Chú trầm ngâm suy nghĩ. Hôm đó chú bắt được con cá hô khá lớn. Con cá hô giương mắt nhìn chú. Chú cũng nhìn lại con cá hô. Rồi nói:


“Được rồi, để tao qua đó coi thế nào”.


Chú đem con cá hô theo. Theo lệ thường bắt được cá hô người ta xẻ thịt bán ngay tại chỗ, miếng ngon mỗi người một ít. Chú Sáu Dương cũng làm như vậy. Nhưng chú chọn đúng ngay trước cửa rạp hát, dưới tấm hình đào Hồng Điệp xẻ thịt cá bán. Chú gỏ lanh canh con dao chào mời người qua lại, mua thịt cá hô mua vé xem hát, có đào Hồng Điệp diễn tuồng hay lắm. Rồi ứng khẩu tại chỗ một bài hát, lời lẽ có chuyện canh chua cá hô và một công nương nào đó bị phụ tình phải quyên sinh, hồn phiêu diêu nơi chín suối.


Chú bán hết con cá hô, ra về lòng vui khấp khởi, rủ tôi tới nhà ăn cơm nói chuyện:


“Mày không biết đào Hồng Điệp đóng tuồng hay như thế nào đâu. Đẹp người đẹp nết, đào Hồng Điệp đóng rất giỏi trong các vai công nương quyền quí, vai người yêu hoàng tử vai cô Tấm cô Cám, các người hầu trong cung, bà mệnh phụ và cô gái quê, các người vợ không bao giờ cưới…”.


“Đóng được hết thảy hả?”.


“Được hết. Chỉ lo soạn giả không kịp viết tuồng. Một lần Hồng Điệp đóng vai người thiếu phụ Nam Xương. Hồng Điệp ngồi bên khung cửi dệt vải vừa hát vừa khóc, tao đóng chung cũng mủi lòng khóc theo”.


Tôi ngờ rằng có sự lầm lẩn nào đó, chú hứng khởi nói lung tung vậy thôi, tôi không rành chuyện tuồng tích không biết như thế nào. Nhưng cũng không quan trọng gì, gánh hát đã rả chú đã yên tâm nghề đánh lưới bắt cá hô. Không biết sau lần bán thịt cá hô ở cửa rạp hát, gánh hát có bán thêm được vé không. Nhưng thấy chú Sáu Dương hào hứng lắm, sau đó bắt được cá hô chú đều đem qua đó bán, ngay dưới hình đào Hồng Điệp, cũng hát những lời lẽ có chuyện cá hô và chuyện các tình nương thiếu phụ. Cả chợ Long Xuyên đều quen mặt chú, khen chú hát thật hay thật vui. Không ai biết chú là kép hát ngày xưa, tên Sáu Dương không ai biết, người ta gọi chú là “Ông cá hô”.


Tôi lớn lên bắt đầu có những bận rộn riêng. Chú Sáu Dương cũng già đi, quan hệ chúng tôi thưa bớt dần. Một hôm chú cho kêu tôi lại, nói giọng buồn buồn:


“Nhỏ à nghe tao nói điều này…”.


“Cháu lớn rồi chú à”, tôi nói. “Cháu học trung học rồi”.


“Cũng không lớn hơn ai đâu. Mày nghĩ giúp dùm tao chuyện này, mày học hành để làm gì. Mày thấy tao như thế nào, chẳng lẻ đời tao chỉ đi bắt cá hô thôi sao? Không làm được chuyện gì nở mày nở mặt hay sao?”.


Chú trố mắt nhìn tôi khiến tôi mủi lòng:


“Vậy ta bàn đi”.


“Ừ ta bàn đi”, chú nói. “Nhưng mày ngồi ngay ngắn lại cái đã, học sinh trung học không có kiểu ngồi như vậy”.


Dạo đó tỉnh tôi có lệ tổ chức đua ghe ngo hằng năm, vào mùa nước lên, các quan chức tỉnh bày ra nhưng chỉ tham dự lấy lệ, cuộc vui sau đó là của dân chúng. Khúc sông được chọn làm lộ trình đua là nơi chú Sáu Dương thả lưới bắt cá hô, thông thạo lắm, nghĩ mình có thể chiến thắng được nó. Chú tìm đến một đội đua xin tham gia, làm chân giữ lái, suốt ngày cùng đám thanh niên miệt mài tập tành, hò hét gỏ phèng la inh ỏi.


Ngày đua đã đến. Khúc sông nước dâng tràn bờ, từ sáng sớm dân chúng đã bu nghẹt bên bờ sông. Dưới sông các ghe đua sắp thành hàng ngang, các tay bơi quần áo xanh đỏ ngồi thành đôi đều tắp, ghe được sơn phết thành hình rồng rắn, mủi ghe hình con cá ngẩng cao đầu. Trên khán đài các quan chức tỉnh theo thứ tự ngồi thành hàng từ dưới lên trên, bận đồ trắng đội nón trắng. Lại thấy có đào Hồng Điệp ngồi trong đó, giữa hai quan chức, đội chiếc nón trắng rộng vành như chiếc sàng gạo.


Thường là như vậy, trên những khán đài danh dự, do tính chất tôn nghiêm và xa xỉ của nó, để có đủ màu sắc, người ta chọn giới văn nghệ cùng ngồi với quan chức nhà nước, kiểu anh hề đi với vua, anh nhà văn đi cùng vị tổng thống.


Đào Hồng Điệp không mấy nổi tiếng ở tỉnh, nhưng do diễn lâu năm cũng được nhiều người biết tiếng, về sau lớn tuổi ít diễn, tăng cường công tác xã hội, dự các cuộc lễ hội, phát chẩn, trồng cây ở nghĩa trang, phất cờ trong các cuộc đua xe đạp. Đào Hồng Điệp ăn bận sang trọng, người hơi mập ra, cổ và tay đeo đầy vòng vàng, nghiêng bên này bên kia nói chuyện với hai vị quan chức, chiếc nón rộng vành cọ cọ vào cổ hai vị khiến họ bị nhột, bật tiếng cười rú rít.


Đúng chín giờ, vào lúc con nước nhửng*, phát súng lịnh nổ, các tay bơi cùng lúc cúi gập người xuống ấn sâu mái dầm, các ghe đua rướn lên. Mặt sông rùng rùng nổi sóng, tiếng hò dô, tiếng phèng la reo hò cổ vũ vang dậy cả một khúc sông.


Chiếc ghe đua của chú Sáu Dương ở đường đua sát bờ. Tôi chạy theo la hét động viên chú:


“Rán lên chú Sáu ơi! Có chị Hồng Điệp coi chú trên khán đài kìa!”.


Chú không nhìn lên, ghìm chặt tay lái, mắt gườm gườm nhìn thẳng về phía trước, chiếc khăn rằn sút sổ bay xỏa về phía sau. Mức đến ở ngay trước khán đài. Tôi vừa chạy vừa nhìn bám theo chiếc ghe chú Sáu Dương. Rồi nhìn lên khán đài. Hồng Điệp đang chỉ tay về chiếc ghe của chú Sáu Dương, cười nói gì đó với hai vị quan chức. Cô nói gì? Nhưng tôi không quan tâm. Không còn thì giờ nữa. Tôi cố gắng tăng tốc theo chiếc ghe của chú, vẩy tay la hét như điên, người tôi cũng hòa nhập vào chiếc ghe, bước chân tôi như tiếp sức được cho chiếc ghe.


“Rán lên chú Sáu ơi, mình gần thắng rồi!”.


Tôi hét đến khản cả cổ, chiếc ghe của chú Sáu Dương cũng theo đó rướn lên, tăng tốc mãi, so kè mấy chiếc đi đầu. Còn hai trăm thước, một trăm thước! Tiếng la của tôi bị át đi trong tiếng la của những người chung quanh. Còn năm chục thước! Chiếc ghe của chú Sáu Dương bỗng vùng lên dữ dội, nhô đầu vượt lên, càng lúc càng bỏ xa chiếc ghe cạnh bên. Tôi lại hét:”Mình ăn rồi chú Sáu ơi! Hoan hô chú Sáu!”. Và tôi chạy mau lại mức đến trước khán đài chờ đợi.


Không thể bỏ qua giây phút chú Sáu cán mức đến trước tiên. Tôi nhìn chú Sáu, rồi nhìn lên khán đài tìm Hồng Điệp để chia xẻ niềm vui. Và tôi đã thấy gì? Tôi thấy Hồng Điệp đang cười nói với hai vị quan chức, cánh tay trắng nuột nà đầy vòng vàng choàng qua vai hai ông. Có cái gì sụp đổ trong lòng tôi. Tôi vội quay ngó xuống sông. Chiếc ghe của chú Sáu Dương đang từ xa lao tới, như vũ bão, mũi ghe hình đầu con cá nhe răng ngẩng cao lên trong niềm hân hoan đón chờ chiến thắng. Còn hai chục thước, rồi mười thước! Bỗng dưng chiếc ghe quay ngang, nhảy chồm lên chúi đầu chìm lỉm, cả đội ghe cả chú Sáu Dương nhào lội loạn xạ, dầm chèo văng tung tóe.


Tại sao vậy? Chú Sáu Dương đã nhìn lên khán đài, nhìn thấy những gì tôi đã nhìn thấy chăng?


Chú lóp ngóp lội lên bờ người ướt sủng, buồn rầu nói với tôi:


“Tao trật tay lái, bậy quá! Thôi để năm sau…”.


Tôi an ủi chú:


“Chị Hồng Điệp muốn gặp chú”.


Chú liếc nhìn tôi:


“Gặp làm chi vậy?”.


“Không biết. Chị kêu chú đến quán…”.


“Mày đi với tao”.


Hai chúng tôi đến quán ngồi đợi. Lát sau Hồng Điệp đi tới, vén tà áo dài ngồi xuống, không nhìn chú Sáu, ngồi nghiêng ngó ra đường. Chú Sáu ngồi co ro, người ướt sủng, quần áo loang lổ xanh đỏ, hai ống chân khẳng khiu đầy bùn sình.


“Em Hai khỏe không?”, chú nói, giọng hơi run. “Lâu nay có được tin gia đình không? Em Hai ăn cái gì đi, hồi sáng tới giờ bận coi đua ghe chắc đói rồi”.


Hồng Điệp làm mặt giận:


“Trời ơi, anh Sáu còn nhỏ nhít gì nữa, đi đua ghe chi vậy? Lại còn bị chìm ghe nữa! Số anh Sáu luôn xui xẻo! Tôi hát chung với anh Sáu bị rả gánh, tìm gánh khác mới yên ổn như vầy”.


Chú Sáu mệt quá không ăn được, kêu cho tôi chiếc bánh tiêu chai nước ngọt. Hồng Điệp ăn một tô hủ tíu rồi ăn thêm mấy trái cam, dĩa bánh da lợn, uống ly nước trái mảng cầu rồi uống thêm ly sữa tươi. Chị nói:


“Anh Sáu để tôi trả!”.


“Không, để tôi trả. Tôi mới bán cá hô”.


“Anh Sáu làm ăn khá không?”.


“Cũng khá”.


“Vui không?”.


“Cũng vui”.


“Anh Sáu làm gì cũng được, nhưng đừng nói quen tôi nghen? Nhớ không?”


“Nhớ”.


“Thôi anh Sáu với thằng nhỏ về đi. Dẫn nó theo chi vậy?”.


Chú chào Hồng Điệp dẫn tôi ra về. Tôi tưởng chú buồn vì cuộc gặp gỡ nhạt nhẽo, nào ngờ chú lại thấy vui:


“Mày thấy sao? Hồng Điệp còn “tươi” quá hả? Là do Hồng Điệp biết chăm lo con đường nghệ thuật của mình. Ngay chuyện ăn uống cũng biết giữ gìn, ăn nhiều trái cây để da dẻ được mịn màng. Còn như ăn uống ẩu tả như tao với mày chỉ có nước đi đánh lưới cá hô”.


Một dạo bọn lính kéo về chợ tỉnh rất đông, ban ngày đi càn bố, ban đêm về chợ ngủ, nhậu nhẹt quậy phá các rạp hát quán xá. Rạp hát của Hồng Điệp cũng chịu chung tai họa ấy. Cứ tối đến rạp bắt đầu diễn chúng không mua vé kéo vào ngồi gác chân lên ghế hút thuốc uống rượu, ném đá lên sân khấu la lối hò hét, tan hát kéo ra cửa níu kéo các đào hát.


Tôi đi học về kể chuyện đó cho chú Sáu nghe. Chú cau mặt:


“Vậy tính sao?”.


“Đâu biết tính sao”.


Chúng đông quá, lại có súng đâu làm gì được. Chú cúi đầu ngẫm nghĩ:


“Phải, mình đâu làm gì được. Nhưng chẳng lẻ cứ để yên như vậy?”.


Suốt mấy ngày chú Sáu Dương trầm ngâm suy nghĩ, cá hô bắt được không đem qua chợ bán. Đã tới ngày cận Tết, các gánh hát đáng lẻ tăng suất hát, nhưng chỉ hát cầm chừng. Nhưng cũng không yên được với bọn lính. Chúng kéo tới cửa rạp hát đòi đem các đào ra cho chúng gặp mặt:


“Đào hát không diễn tuồng, như lính không đánh trận vậy hả?”.


Một buổi chiều đi học về tôi ghé qua nhà không thấy chú Sáu đâu, chạy đến quán bà Ba nói:


“Nó chèo ghe qua chợ rồi! Mày theo nó lẹ đi!”.


Tôi tốc nhảy xuống đò đi qua chợ. Trời đã tối, chợ đã lên đèn. Tôi đến trước cửa rạp hát thấy có người bu đông nghẹt. Một tốp lính đứng vòng quanh, chú Sáu Dương đứng chính giữa. Một tên lính đứng chống nạnh trước mặt chú, hỏi:


“Mày là thằng nào?”.


“Tôi là người đánh lưới cá hô”.


“Thằng cá hô mày nghe đây. Chuyện lặn hụp dưới nước là chuyện của mày. Chuyện đi coi hát giởn hớt với đeám đào hát là chuyện của tụi tao. Mắc mớ gì mày xía vô? Hay mày muốn giành mấy con đào với tụi tao?”.


“Tôi không giành giựt gì hết”, chú đáp. “Nhưng mấy ông phải để yên cho người ta hát”.


Tên lính cười sằng sặc:


“Để yên là sao? Đào hát là để chưng diện, không lẻ dấu trong buồng? Ta phải tính cho xong chuyện này. Mày muốn chơi kiểu nào?”.


“Mấy ông có súng, bắn chết tôi lúc nào chẳng được”.


“Súng tụi tao không bắn rồi. Nhưng tụi tao sẽ bắn chết đứa nào nhảy vô can vụ này. Mày chơi chớ?”.


Chú Sáu Dương đưa mắt ước lượng đám lính đứng chung quanh:


“Được. Nhưng tay không chớ?”.


“Dĩ nhiên rồi”.


Tôi đứng ngoài hét lên:


“Không được đâu, chúng đông lắm chú Sáu ơi!”.


Một tên lính chẹn lấy cổ tôi, bụm miệng tôi lại. Chú Sáu Dương không nghe tôi nói, đang bận bàn luận với đám lính:


“Từng người một nghen. Hết người này tới người khác. Ai có cà rá hoặc đồng hồ cũng phải gở ra”.


Tên lính đầu tiên là một tên say, chú Sáu Dương dễ dàng đấm trúng mặt nó. Nó té sấp, úp mặt xuống mặt đường, nước mắt nước mủi lẩn với máu chảy lầy nhầy trên nền đất.


Tên thứ hai thật dữ dằn, mặc dù cũng say nhưng nhảy tới lui nhanh nhẹn như con chồn đèn. Nó không dùng nấm đấm mà xòe các mấu ngón tay có móng nhọn cào vào mặt, vào cổ, vào bụng chú. Chú cố gắng né tránh nhưng cũng bị trúng mấy cú cào, máu bắt đầu chảy loang ra. Tôi đứng bên ngoài la hét chỉ chỏ để trợ giúp chú:


“Coi chừng nó cào vô bụng chú kìa! Che hông lại chú ơi!”.


Chú đưa tay gạt ngang, chém bổ dọc, tên lính ranh ma không cào nữa chụm mấy đầu ngón tay thành một mủi nhọn như một mủi giáo đâm thẳng vô bụng chú. Chú bị trúng liền mấy cái, lảo đảo. Nhưng thật bất ngờ, chú đang tay ôm bụng chân lại vung cao thành một cú quét ngang, kiểu như dùng phảng phát cỏ, trúng ngay vào cổ tên lính. Tên lính đổ sụp xuống, nằm đè lên tên lính trước.


Tới tên lính thứ ba chú Sáu Dương gần như đã kiệt sức, chỉ lo chống đỡ. Tên lính thấy vậy cứ nhầm chỗ mấy vết thương của chú mà đánh. Chú co người lại che các chỗ nghiệt, tìm cách bám lấy nó để tránh những cú đấm từ xa, rồi uốn người mềm như cọng bún để nó không thể quật chú xuống mặt đường.


“Mày đi ra, để tao!”, một tên lính khác quát lên, xắn tay áo để lộ những hình xăm vằn vện.


Tôi hét lên:


“Không được đâu!”.


Tên lính chẹn lấy cổ tôi:


“Mày binh hả? Cũng dân cá hô hả? Tao cho chết luôn một thể”.


Tên lính xăm mình đánh chú Sáu Dương bằng những cú đấm thẳng vào mặt, vào bụng, vào hai bên canh sườn, chú ói ra từng bụm máu. Các vết thương ở mặt, ở cổ cũng bật chảy máu ròng ròng. Cả người chú đẩm máu, môi và mắt sưng vù. Tôi giảy giụa nhưng tên lính lôi tôi ra xa, không còn thấy gì nữa, chỉ còn nghe tiếng đấm lịch bịch của tên lính vào người chú Sáu Dương. Và rồi tôi nghe chú thét lên, giọng không còn nhận ra nữa:


“Mày đánh chết tao đi, không tao cũng đánh chết mày!”.


Lâu lắm mới có quân cảnh tới. Chú Sáu Dương đã không còn đứng vững, hai tên lính phải kè giải chú đi. Chú quay lại nói với tôi:


“Đừng khóc, nhỏ! Báo với Hồng Điệp tao bị bắt rồi. Rồi tao sẽ ra tù trở về, tao không cho thằng nào phá Hồng Điệp đâu”.


Việc chú Sáu Dương bị giam đi tù như thế nào tôi không được biết. Sau đó thời cuộc biến chuyển tôi ra đi, nhiều chuyện khác xảy ra tôi quên dần cau chuyện của chú Sáu Dương, cũng như nhiều chuyện khác. Cho đến hơn hai mươi năm sau hòa bình tôi trở về…


Chú Sáu Dương vẫn ở chỗ cũ, ngay đầu cồn. Khoảng đất tưởng chỉ một mùa nước lũ bị cuốn trôi phăng đi, vẫn còn hoài với năm tháng.


Chú Sáu Dương chống gậy lần đi ra, mắt đã mờ, không nhìn thấy tôi nhưng nhận ra giọng nói của tôi:


“Mày về tới đó hả nhỏ?”.


Tôi cười đáp:


“Cháu già rồi chú ơi! Tóc cháu bạc hết rồi đây nè”.


“Cũng không già hơn tao đâu”, chú  nói. “Nhưng cũng lâu quá rồi. Tao không còn nhớ gì nữa, không còn tính được chuyện gì… Lâu nay mày sống thế nào? Có vui không? Có chuyện gì buồn không? Có nhớ món canh chua cá hô không?”.


Tôi đáp tôi cũng sống như mọi người, buồn vui lẫn lộn. Rồi hỏi chuyện chú, chuyện đào Hồng Điệp. Cũng vậy thôi, chú nói. Lần đó chú bị bắt đi tù, bị đưa đi khắp cả, có lần ra Côn Đảo. Hết hạn tù chú bị đưa đi lính. Ở lính chú đánh một thằng sĩ quan, lại đi tù. Rồi lại ra tù, trốn lên vùng rừng núi làm nghề cưa gỗ, săn thú. Có mấy năm chú lưu lạc ra ngoài vùng biển làm nghề thẻ mực, suốt ngày ngồi dang nắng trên chiếc thuyền thúng, lòng cứ nơm nớp lo sợ thằng chủ quên ghé rước, coi như phơi xác luôn trên biển. Chú đi linh đinh khắp cả, ở đâu làm nghề gì chú vẫn nhớ về đào Hồng Điệp, tìm cách hỏi thăm tin cô, được biết cô sống bình yên chú yên lòng, cố gắng sống cho qua thời gian khổ của mình.


“Như vậy đó nhỏ à”, chú nói tiếp. “Rốt rồi tao về đây, mày cũng về đây. Đào Hồng Điệp vẫn ở bên chợ. Mọi chuyện đâu cũng vào đó, ai nấy đều yên vui với cuộc sống của mình. Mày hảy bình tâm, không việc gì phải nóng vội. Ở lại đây ăn cơm với tao, nghèo hèn tao cũng đải được mày canh chua cá hô. Rồi mày có qua chợ cho tao nhắn lời thăm Hồng Điệp…”.


Tôi ra ngoài đầu cồn thấy nước sông vẫn chảy rẻ ra hai bên, cuộn xoáy. Thỉnh thoảng nổi lên những hình thù kỳ dị, rồi biến mất, không để lại dấu vết gì…


 


  7 – 1993


Nguồn: Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007. Tuyển truyện ngắn Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 


______


* Nước nhửng: Nước đứng, giữa nước ròng và nước lớn.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người tù - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Mẹ đất - Hà Thúc Sinh 09.03.2020
Những linh hồn chồng chéo - Hà Thúc Sinh 06.03.2020
Chị Ngát - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật ở thềm đá - Hà Thúc Sinh 04.03.2020
Bí mật cuốn gia phả - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Dại miệng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Người sông nước - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng - Vũ Xuân Tửu 25.02.2020
Khu rừng Chim Công - Bùi Nguyên Khiết 17.02.2020
xem thêm »