Năm rồi về Long Xuyên thăm nhà, tôi nghe tin chú Cung mất. Tôi bàng hoàng, ra ngồi bên bờ sông nhớ lại bao chuyện cũ. Tôi nhớ về chú, cũng là nhớ về tuổi thơ ấu của tôi.
Tôi nhẩm tính, vậy là chú Cung đã già lắm rồi. Đây là lần đầu tiên tôi tính tuổi chú Cung. Từ lâu trong trí tôi, cũng như mọi người trong làng, chú Cung là người không có tuổi. Hồi tôi còn nhỏ chú Cung đã là người già, lưng cong cong, người gầy nhom cao lêu nghêu, mặt đen xạm, dáng đi tất bật, lầm lủi, cứ như sắp ngã về phía trước. Chú già như thế rồi không già nữa. Người trong làng gọi chú là “thằng Cung”, bọn trẻ chúng tôi cũng gọi là “thằng Cung”. Cũng có người gọi chú là “thằng khùng”, chúng tôi chỉ biết vậy. Riêng tôi chỉ thấy chú lầm lỳ, không mở miệng bao giờ. Quanh năm suốt tháng chú bận bộ quần áo bà ba đen bạc phếch nhưng mạng vá cẩn thận, tóc để dài bới lại thành búi nhỏ sau ót, cao phía trên đỉnh đầu. Chú nhớ hết các ngày giỗ trong làng, biết rõ ngày mở cửa mả, xả tang, đám cưới đám gả. Trước đó một ngày chú đến gánh nước đổ đầy các lu hủ, ròng rả từ sáng tới trưa, tới xế chiều. Rồi hôm sau quần áo chỉnh tề đến dự đám, được chủ nhà dọn cho phần riêng, một góc tối sau bếp, đồ ăn dư thừa còn lại của cuộc tiệc. Thuở đó tôi chưa tính được giữa công gánh nước đổ đầy hàng chục chiếc lu, đi từ dưới sông lên xa hằng mấy trăm thước, so với phần ăn dư thừa, hơn thiệt nhau là như thế nào. Nhưng đời là vậy, có người trên kẻ dưới. Chú là người “dưới”, phận hèn mọn nhưng cần thiết, không ai làm thay chú việc ấy, chú lại lành tínhm không nói gì. Có nói đâu mà nói?
Không biết bao nhiêu lần chú đến gánh nước ngày giỗ bà ngoại tôi. Không ai hỏi han gì tới chú, coi như việc đương nhiên. Chú lẳng lặng mở cổng đi vào, chó không sủa, đi thẳng ra sau sàn nước lấy chiếc gánh đôi thùng thiếc chú biết rõ chỗ, đi thẳng xuống bến nước, con sông nhỏ đục ngầu phù sa. Chú vục thùng múc nước động tác mềm mại như người uốn dẻo, bước đi cũng mềm mại, dáng đi thoăn thoắt tất bật, người cong cong nghiêng chúi về phía trước. Nhà tôi khá giả, đám giổ lớn, hàng lu mái cả mấy chục chiếc. Chú gánh nước từ sáng tới trưa, đổ đầy nước dảy lu, ngồi nghỉ một chút, đợi các bà các cô làm gà vịt, xài nước thỏa thích rồi gánh tiếp, đến xế chiều hoặc xẩm tối. Chú ra đi hồi nào không ai hay biết, lặng lẽ biến mất như lúc đến.
Sáng hôm sau cuộc tiệc linh đình, chủ khách ăn uống no say. Đến quá trưa dì Hai tôi sực nhớ hỏi:
“Thằng Cung đâu sao không thấy tới, đồ ăn còn dư nhiều quá đây nè?”.
Chú Cung tới liền sau đó, như chực sẳn ngoài bờ rào, đi thẳng ra sau bếp, đến ngồi vào chỗ quen thuộc ở một góc tối. Có người bưng đến cho chú một tô cơm lớn và một tô thức ăn gồm nhiều món đổ chung vào nhau. Chú đưa hai tay đón lấy ngồi xổm ăn rất mau, ăn bằng đủa rồi ăn bằng tay. Chỉ một loáng ăn xong đi rửa hai chiếc tô, rồi ra đi.
Suốt bao nhiêu năm chú Cung như một cái bóng xám xịt trong làng, xuất hiện trong các cuộc tiệc vui vẻ nhưng trông chú lại buồn buồn. Chỉ vậy thôi, không ai quan tâm. Việc chú là gánh nước, không làm được việc gì khác.
Có lần tôi hỏi dì Hai tôi:
“Sao “thằng Cung” nhớ ngày giỗ nhà mình tới hả dì? Có thấy nó ghi chép gì đâu? Mà nó có biết chữ đâu mà ghi chép?”.
Dì Hai tôi cũng không biết, không ai giải thích được điều đó. Đâu ai biết gì về chú, đâu thấy cần phải biết.
Bọn trẻ chúng tôi hay bày trò chọc chú Cung. Thoáng thấy bóng chú đi qua chúng tôi chạy theo sau la hét: “Thằng Cung! Thằng Cung!”. Má tôi rầy: “Con không được chọc ghẹo thằng Cung. Nó không phải là người xấu, chỉ phải khờ quá thôi”. Tôi không thấy chú Cung khờ chỗ nào, nhưng đứa khác chọc thì tôi chọc vậy thôi. Chúng tôi giở nhiều trò tai ác, buộc giẻ sau lưng chú, phóng pháo đốt, bắn ống thụt. Chỉ riêng việc xua chó cắn là không làm được. Bọn chó không hiểu sao, không sủa cắn chú Cung bao giờ.
Đáp lại những trò đùa tai ác của chúng tôi, chú Cung chỉ cười cười. Có quá quắt lắm chú hơi nghiêm nét mặt nhìn chúng tôi với ánh mắt buồn buồn. Rồi bỏ đi.
Lại một năm trôi qua. Năm đó tôi độ mười hai mười ba. Một buổi sáng nghe dì Hai tôi nói:
“Thằng Cung sao chưa thấy tới?”.
Tôi mừng rỡ la lên:
“A, vậy là tới đám giổ bà ngoại rồi!”.
Nắng lên một chút chú Cung tới. Con Vện xồ ra nhưng không sủa, chỉ ngoắc đuôi nhè nhẹ. Chú Cung lẳng lặng đi ra sau bếp lấy đôi thùng đi xuống bến sông múc nước. Tôi định chạy theo chú tìm chuyện chọc phá, nhưng sực nhớ có hẹn với cô bạn gái bên kia sông. Thủy Tiên trạc tuổi tôi nhưng tính tình kiêu kỳ, làm vẻ người lớn, hay giận hờn. Cô ta chơi thân với tôi cũng chơi thân với nhiều đứa con trai khác. Hôm nay chúng tôi hẹn nhau đi câu tép. Mùa nước đang lên, nước ngập tràn bờ đục ngầu phù sa. Tôi chuẩn bị sẳn giàn câu bằng cọng lá dừa, cột chỉ buộc mồi trùn. Hai đứa chỉ việc cắm câu dọc theo bờ, thấy tép cắn cần câu rung lấy rổ xúc, dễ như bắt cá trong ao. Những con tép đất trắng phao như miếng cơm dừa, nhảy lói xói trong rổ. Tôi ra bờ sông không thấy Thủy Tiên đâu cả. Trễ nãi là thông lệ của Thủy Tiên. Tôi ngồi chờ, ngó lên bầy chim trao trảo nhảy chuyền ăn trên ngọn cây me nước. Chú Cung đi xuống sông vục đôi thùng múc nước, ngước nhìn tôi, nhìn mớ cần câu, hơi mỉm miệng cười, còng lưng gánh đôi thùng đi lên, dẩm chân lạch bạch trên nền đất. Có tiếng mái dầm khua nước trên sông. Thủy Tiên lao chao bơi xuồng đi qua. Nắng lấp lóa trên mặt sông. Mái tóc vừa mới chấm dài của Thủy Tiên bay lỏa xỏa. Xuồng cặp bến, Thủy Tiên đưa cao hai tay bước lên, vấp chiếc rể cây chao nghiêng người, níu vai tôi, mái tóc dài xỏa qua mặt tôi, thỏng mùi hương thơm nồng. Tôi đang giận, nhưng liền sau đó mỉm cười:
“Thôi mình đi câu tép đi!”.
Thủy Tiên câu tép không ra làm sao, cắm câu cái chúi ngập xuống nước cái chổng lên trời, đang cắm giữa chừng bỗng ngẩn ngơ nhìn con chim thằng chài sà xuống đậu lên đầu chiếc cọc tre ngoài cầu nước. Rồi cười nói huyên thuyên, kể đủ thứ chuyện các cô bạn ở trường ở chợ.
Chú Cung vẫn đều đặn xuống bến gánh nước, dừng lại nhìn hai chúng tôi, vục thùng múc nước lạch phạch đi lên.
Tép ăn mồi rộ lên, tôi xúc không kịp. Thủy Tiên cũng xúc, con được con mất. Bỗng cô quăng rổ nói:
“Thôi không xúc tép nữa! Đi bắt bướm đi!”.
Tôi không ghét gì bằng trò bắt bướm. Rồi lại bày chuyện ép vào tập vở, ghi chú những câu thơ có trời mới hiểu được.
Tôi nói:
“Mùa này không có bướm đâu mà bắt. Mình xúc tép một chút rồi đi hái mận”.
“Em không ăn mận”.
“Thì đi bắt chim. Tôi sẽ bắt cho Thủy Tiên con chim dòng dọc nhỏ xíu”.
Thủy Tiên cũng không chịu đi bắt chim. Tôi đâm bực:
“Vậy thì làm gì?”.
Thủy Tiên dậm chân, nước mắt trào ra:
“Vậy thì thôi… Vậy mà anh nói…”.
Tôi không nhớ có nói gì. Nhưng không nên tranh luận với cô gái vào lúc này. Tôi nói:
“Thôi được, ta đi bắt bướm đi. Nhưng đừng ép vào tập vở, ghi thơ mất công lắm”.
Tôi đi theo Thủy Tiên một đoạn, chợt thấy thằng Hải Sún đi theo sau. Hải Sún là bạn thân của tôi, đầu têu trong các trò quậy phá. Nó lén chìa cho tôi coi lon mủ mít. Tôi mê món mủ mít này lắm, làm được rất nhiều chuyện, bẩy chim, bắt tắc kè, kỳ đà rắn mối cũng bắt được. Chỉ cần trét mủ mít lên nhánh cây, con gì bò đậu đều bị dính, leo lên bắt. Nhưng còn Thủy Tiên với đám bướm của cô ta thì sao? Tôi nhướng mắt về phía Thủy Tiên, hỏi Hữu Sún. Hữu Sún nhìn Thủy Tiên, cúi đầu làm thinh. Hữu Sún vốn tính không sợ ai, nhưng gặp Thủy Tiên nó như bị xì hơi, lắc đầu không gạ gẩm gì tôi nữa.
Nhà cho người kêu tôi về làm lễ cúng bà ngoại. Làm lễ cúng có nghĩa là lạy. Tôi ngán lạy lắm. Tôi không biết mặt bà ngoại nhưng năm nào cũng lạy trước bàn thờ có tấm hình lạ hoắc, đốt nhang khấn vái nhiêu khê. Thằng Hữu Sún bày cho tôi:
“Mày cứ vô lạy trước, rồi đi bẩy chim với tao”.
Má tôi nghe được, quát:
“Lạy trước là sao? Thằng Hữu Sún bày đặt phải không?”.
Thằng Hữu Sún lủi mất. Chút sau thấy nó ngồi vắt vẻo trên cây khế với lon mủ mít trong tay, nói vọng xuống:
“Thôi đợi chút cũng được. Giờ chơi trò này đi”.
“Trò gì?”.
Nó Leo xuống nhướng mắt chỉ về chú Cung đang gánh nước đi lên, thì thào vào tai tôi…
Tôi vào làm lễ cúng, quì lạy. Thằng Hữu Sún cũng nhào vô cùng lạy cho vui. Rồi hai chúng tôi ngồi vào bàn ăn cổ. Má tôi nói:
- Con Thủy Tiên đâu, sao không kêu nó vô cùng ăn?
Tôi bỏ đủa chạy đi tìm nhưng không thấy Thủy Tiên đâu, nghĩ bụng nó ghét thằng Hữu Sún bỏ đi rồi. Tôi chạy vào nói:
“Thủy Tiên đau bụng không ăn được”.
Chúng tôi ăn mau rồi đi ra sau bếp. Chú Cung đang ngồi xổm chờ cuộc tiệc tàn, ăn phần dư thừa của mình. Chúng tôi ngồi đợi, thấy buồn ngủ. Cuộc tiệc trên nhà kéo dài mãi, cuối cùng rồi cũng xong. Mọi người ra về, hai tô cơm thức ăn được đưa đến cho chú Cung. Chú nhổm dậy đưa hai tay đón hai tô cơm và thức ăn, thằng Hữu Sún nhanh tay thòi ra chiếc ghế con có trét mủ mít nhét dưới đít chú. Chú ngồi trở xuống ăn thật mau rồi đứng dậy, lôi theo chiếc ghế dính tòn teng dưới đít. Theo phản xạ tự nhiên, chú đưa tay gở chiếc ghế con ra, một mảng vải quần rách theo. Mọi người cười rộ lên. Má tôi đi ngang cũng cười. Rồi má tôi hiểu ra, nghiêm nét mặt đi tìm chúng tôi. Thằng Hữu Sún nhanh chân lủi mất, tôi bị đòn năm roi đau điếng.
Tôi buồn đi xuống bờ sông. Không thấy Thủy Tiên đâu cả. Hàng cây câu nằm chỏng chơ, cảnh quạnh hiu vắng lặng. Tôi đi dọc theo bờ sông. Không thiết làm gì, không buồn nhìn ngắm. Bỗng thấy bóng người trong bụi tầm vông. Chú Cung. Chú ngồi vá chiếc quần, vừa vá vừa khóc. Tôi chưa từng thấy người đàn ông khóc bao giờ, lấy làm lạ đứng nhìn mãi. Rồi tôi đi tìm thằng Hữu Sún, hai chúng tôi bày nhiều trò chơi nhưng không thấy hứng thú gì. Hình ảnh chú Cung ngồi khóc trong bụi tầm vông choán chật tâm trí tôi. Tôi bỏ thằng Hữu Sún, tiếp tục đi dọc theo bờ sông, đến một bụi gừa mọc de ra sông. Thủy Tiên đang chơi đùa với đám bạn trai của cô, có thằng Hùng Mập tôi ghét cay ghét đắng. Nó cũng ghét tôi. Nó đang ngồi vắt vẻo trên một nhánh gừa thè lưỡi ra với tôi:
“Ê, thằng bị đòn!”.
Thủy Tiên ngồi trên một nhánh gừa kế đó, cũng hùa theo:
“Bị đòn thật đáng, ai biểu chơi trò bậy bạ”.
Tôi tức điên người, thách thằng Hùng Mập:
“Mày “chơi” với tao không?”.
“ “Chơi” gì?”.
“Leo ra hai nhánh gừa kia kìa, coi thằng nào leo xa hơn”.
“Được”.
Thằng Hùng Mập nặng gấp đôi tôi, tôi tính thế nào nó cũng té trước, nào ngờ nó leo thoăn thoắt, tôi ra tới đâu nó ra tới đó. Nhánh gừa oằn sát mặt nước. Nó vẫn leo. Thủy Tiên còn khuyến khích nó: “Leo ra nữa đi anh Hùng! Leo đi!”. Tôi tức điên, leo rướn ra. Và rồi “rắc”, nhánh gừa gảy gục, tôi té đùng xuống sông.
Nước chảy xiết, tôi lội một khoảng xa tắp được vào bờ. Thủy Tiên đang đợi tôi ở đó. Tôi lóp ngóp leo lên, người ướt sủng, lạnh run. Nhưng nhìn lên Thủy Tiên tôi càng hoảng sợ hơn. Mặt Thủy Tiên lạnh bvăng. Tôi nhớ lại chuyện chiếc ghế trét mủ mít, chú Cung, cảnh chú ngồi khóc trong bụi tầm vông. Tôi thấy có cái gì đổ vở trong lòng. Tôi quay đi không dám nhìn Thủy Tiên, cũng không biết làm gì, đứng xớ rớ hết cởi áo ra vắt khô lại bận vào. Thủy Tiên cũng quay ngó nhìn chỗ khác. Sự thể không biết như thế nào nếu lúc đó không có chú Cung đi ngang.
Chú từ trong nhà đi ra, vai đeo tòn teng hai đòn bánh tét, má tôi cho để chuộc lỗi cho tôi. Chú đi lầm lủi. Chợt nhìn thấy chúng tôi chú dừng lại, ngẩm nghĩ một lúc, đổi hai đòn bánh tét từ vai này qua vai kia. Rồi đổi nét mặt sang vui cười chú đi bươn lại bờ sông, chỗ hàng câu, cầm lấy chiếc rổ chiếc giỏ rón rén dò tìm, dáng điệu trẻ thơ, động tác khuyến khích. Chú xúc một cái, con tép nhảy lói xói trong rổ. Chú xúc một cái nữa, một con tép nữa nhảy lói xói. Chú xúc liên tiếp, lần nào cũng được tép, hí hửng mừng rỡ bỏ từng con tép vào giỏ. Tôi tò mò bước tới coi cách chú xúc tép. Thủy Tiên cũng bước tới nhìn theo. Hai chúng tôi đứng sát vào nhau. Chú quay lại như ngạc nhiên, đưa chiếc rổ cho Thủy Tiên, đưa chiếc giỏ cho tôi, ra dấu bảo chúng tôi xúc tiếp. Chúng tôi xúc tép một lúc quay ra chú bỏ đi từ hồi nào.
Sau đó tôi lên học ở chợ tỉnh, rồi lên Sài Gòn. Tôi không gặp lại chú Cung nữa. Rồi tôi đi kháng chiến, suốt những năm ở rừng tôi vẫn nhớ về chú Cung, hình ảnh chú lẩn lộn giữa những giọt nước mắt và nụ cười của Thủy Tiên.
Sau ngày giải phóng có lần về thăm nhà tôi gặp chú Cung. Chú đã già lắm rồi, tóc bạc trắng, dáng đi càng còng hơn, không còn đủ sức gánh nước nữa, nhưng vẫn nhớ nhà tôi có đám giỗ đến chơi. Dì Hai tôi mời chú lên ngồi trên nhà trên. Suốt buổi chú ngồi lặng lẽ, không nói gì, nghe chuyện nhìn mọi người với ánh mắt tươi cười.
Thủy Tiên dắt con bơi xuồng qua thăm tôi. Tôi nhắc lại chuyện cũ, chú Cung không nhớ ra, Thủy Tiên mắc cở quay mặt đi. Nhân lúc hai đứa con của Thủy Tiên ra chơi ngoài sân, tôi hỏi nhỏ Thủy Tiên:
“Bữa đó chú Cung không đi ngang, Thủy Tiên giận tôi luôn phải không?”.
Thủy Tiên lắc đầu cười cười, giọng buồn buồn:
“Thôi mà… Chuyện lâu quá rồi mà…”.
Tôi bơi xuồng đưa má con Thủy Tiên qua sông. Cây dừa quì không còn, nhưng dòng sông vẫn chảy như ngày nào…
12-90
Nguồn: Tuyển tập truyện ngắn Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info
|