tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
27.07.2013
Chu Lai
Nhà lao Cây Dừa (1)

Nhân kỷ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân, NXB Văn học tái bản tập ký sự Nhà lao Cây Dừa, cuốn sách nói lên truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất của chiến sĩ các lực lượng vũ trang ta trong nhà tù ở đảo Phú Quốc, dưới chế độ Mỹ ngụy.


Nhà lao Cây Dừa là một trong những trại giam qui mô đã có từ thời thực dân Pháp đến thời Mỹ ngụy. Từ những năm đầu khi bọn tay sai Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, chúng gạn lọc, chuyển tù chính trị ra Côn Đảo hoặc về các nhà tù trong đất liền, tại đây chỉ dành riêng cho tù binh chiến tranh khắp các miền của đất nước dồn về, có lúc con số lên đến 40.000 người.


Với ý đồ cách ly mọi quan hệ với xã hội bên ngoài, chúng đặt địa điểm nhà lao nằm sát mũi đất phía nam của huyện đảo Phú Quốc. Chính sách nhà tù ở đây có phần khắc nghiệt hơn mọi nơi. Bọn giặc dùng mọi trò mua chuộc, phân hóa, đàn áp, hành hạ, đánh đập dã man không thiếu một thủ đoạn nào, bởi đây là những người lính, những con người đã từng đối mặt trên các chiến trường làm cho chúng liên tiếp hứng lấy những cơn sấm sét phủ đầu, từng chiến thắng các chiến lược về mặt quân sự  của chúng. Chúng lo sợ và căm uất triền miên, có dịp, chúng thẳng tay trả thù bằng mọi kiểu cách tàn bạo, đê tiện nhất. Vì vậy mà những tù nhân ở đây luôn luôn phải gánh chịu mọi cực hình man rợ mỗi khi chúng bị thua trên các chiến trường bên ngoài. Chúng thua càng đậm thì đổ đòn khủng bố trả thù càng nặng vào anh em tù nhân ở nhà lao Cây Dừa. Tuy nhiên với ý chí bất khuất, hiên ngang, dũng cảm và thông minh, anh em tù nhân đã đối phó lại chúng bằng mọi cách để tiếp tục giành chiến thắng. Đấu tranh cá nhân, đấu tranh có tổ chức lãnh đạo từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, giáo dục tranh thủ, phân hóa hàng ngũ địch, diệt ác ôn để tổ chức vượt ngục, tiếp tục chiến đấu ở đảo hoặc trở về đất liền…


Nhà lao Cây Dừa là nơi quân thù tập trung nhiều nhất những tên khát máu tàn bạo, thâm hiểm và hèn hạ. Chúng có nhiều kinh nghiệm khủng bố tù nhân, nhiều thủ đoạn tra tấn, hành hạ con người. Biết rằng về tinh thần, về ý chí không thể nào khuất phục nổi tù binh, nên chúng tìm mọi cách kềm kẹp khắc nghiệt nhất, bày mọi trò hình phạt dã man nhất để làm chết dần chết mòn và họa chăng moi ra được một vài sơ hở yếu đuối của một số người để chúng lấy đó làm thành quả thắng lợi.


Nhà lao Cây Dừa là nơi tập trung điển hình về tội ác của chế độ Mỹ ngụy ở miền Nam Việt Nam. Ở đây, kẻ thù tự do đặt ra nhiều kiểu hành hạ con người một cách tối dã man vào tinh thần, vào thể xác tù nhân tưởng chừng như loài người chưa nghe thấy trên hành tinh này. “Nhất nhật lao tù thiên thu tại ngoại”, bởi vậy ở đây cũng là nơi trui rèn, ung đúc và sản sinh những tấm gương, nhiều con người cực kỳ dũng cảm và thông minh mà sự thật đến bàng hoàng như huyền thoại!


Ở đây, ta thấy “lửa càng đỏ tuổi vàng càng cao”, đó là sự nổi bật khí tiết cực kỳ dũng cảm và trung thành của người chiến sĩ cách mạng. Tình đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, tính chiến đấu, tính tổ chức kỷ luật cao xoay chung quanh sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng được thể hiện rõ nét nhất cũng tại nơi đây.


Qua ngòi bút dẫn chuyện của nhà văn Chu Lai, chúng ta sẽ hình dung được cái tổng thể của nhà lao Cây Dừa, chúng ta trông thấy được hình ảnh những bộ mặt điển hình thâm độc, tàn bạo và man rợ của những tên tay sai của đế quốc Mỹ; và những tâm hồn, ý chí đầy khí phách hiên ngang, đầy thông minh can đảm của những chiến sĩ cách mạng trung thành, kiên trì đauatranh trên chiến trường và khi đã sa cơ bị cầm giam, tù đày; sự đấu tranh với ý chí sắt đá vì lý tưởng cộng sản, vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của giai cấp.


Nhiều con người trong một trại giam, nhiều trại giam trong một nhà lao và một nhà lao trong một vùng đất đảo bị cô lập với đất liền. Anh em trong nhà lao chiến đấu kiên cường, vượt rào, trốn trại đều có phần tác động, hỗ trợ tích cực của Đảng, quân và dân Phú Quốc. Ngược lại, Đảng, quân và dân Phú Quốc mỗi ngày phong trào cách mạng lớn mạnh, lực lượng vũ trang và các cơ quan, đoàn thể được bổ sung phải nói là có không nhỏ sự cống hiến, hy sinh của anh em tù nhân vượt trại từ nhà lao Cây Dừa. Những nhân chứng sống của Phú Quốc, của nhà lao Cây Dừa còn đó! Trải qua bao nhiêu năm, nhưng những viết đau thương còn âm thầm hay những đóm sáng chói rực trong ký ức của mỗi người vẫn còn đậm nét, với ngòi bút thông minh, với nghệ thuật ghi chép hấp dẫn, nhà văn Chu Lai dắt chúng ta đi mãi trong những hoàn cảnh sự việc, những tâm tư con người có dính dáng mặt này mặt khác chung quanh nhà lao Cây Dừa một cách có hệ thống. Và chúng ta cũng thấy được đây là một điểm chiến đấu vô cùng khắc nghiệt, dũng cảm điển hình của dân tộc Việt Nam bất khuất.


Đây là một cuốn sách ký sự lịch sử. Câu chuyện có thật, địa danh có thật, con người có thật và thời gian có thật, tuy cốt truyện được sắp xếp theo trình tự văn chương nhưng chuyện hoàn toàn không hư cấu. Chúng ta còn có những  nhân chứng đang hiện diện và đáng tin cậy.


Mặc dù vậy, nhưng với một bối cảnh mênh mông, với nhiều nhân vật đang sống rải rác trên khắp miền đất nước, dĩ nhiên sự ghi chép của tác giả, sự  đối chiếu, xác minh, điều chỉnh, bổ sung của chúng tôi vẫn còn nhiều sơ hở, thiếu sót. Mong bạn đọc gần xa thông cảm, phát hiện thêm, chân tình góp ý, chúng tôi xin thành thật biết ơn.


NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC


HỘI CỰU CHIẾN BINH KIÊN GIANG


 


 


1


 


Nhân một chuyến đi công tác vào phía Nam, tôi quyết định dành phân nửa thời gian ra thăm đảo Phú Quốc. Cái sự ra thăm này không phải là chuyện ngẫu nhiên. Nó tích tụ bởi những nguyên nhân hợp lý. Thứ nhất, do tính chất nghề nghiệp, tôi đã được đặt chân lên khá nhiều nơi, đã ăn cơm uống nước của khá nhiều thiên hạ nhưng riêng hòn đảo xa lạ này tôi lại chưa có một lần lai vãng tới. Lý do thứ hai, người đàn bà vốn là bạn thân thiết của vợ tôi, nhìn sâu trong ánh mắt vẫn thấy buồn lắm! Sao lại thế? Đã ngót hai chục năm rồi nhưng chị ấy vẫn ràng níu nghĩ đến người chồng cũ chẳng rõ hy sinh, mất tích ở đâu? Nghe phong thanh có người nói rằng có thể anh ấy bị đày ra đảo Phú Quốc rồi chết ở đó, chị càng khổ và biết tôi kỳ này có ý định ra đảo, nửa đêm chị còn sang nhờ cậy tôi thử hỏi thăm tin tức xem sao. Hỏi nhỏ tôi, gần như thì thụt bởi lẽ ông chồng mới còn đang nằm sờ sờ ra kia và tính tình cũng nhỏ hẹp, ít chịu nghĩ trước nghĩ sau. Nghe cái cách nói thảng thốt chìm sâu của chị, tôi cứ chắc mẩm rằng, nếu không có cái người đàn ông kia, chị dám khăn gói cùng tôi lên đường đi tìm lắm! Bỗng dưng thấy cảm động! Rốt cuộc, hình ảnh người lính, người chồng lính tưởng lâu nay do hiện tại nghiệt ngã đã vĩnh viễn chìm trong quên lãng của người đời lại không ngờ vẫn nằm sâu ẩn náu, ám ảnh không nguôi.


Nguyên cớ thứ ba lại thuộc về bệnh nghề nghiệp. Từ nơi xa tôi loáng thoáng nghe được nhà tù Phú Quốc có nhiều điều lạ. Nào là số lượng tù binh cao đến mức kỷ lục với tất cả những số phận éo le, nhiều màu sắc văn học, nào là tại đấy, chỉ bằng một cái muỗng con, người ta đã đào được những đường hầm dài cả trăm mét vượt ra ngoài, nào là hàng rào gai tầng tầng lớp lớp như thế mà tù binh dám bươn ra giữa trưa nắng an toàn… Trong đó không thể không kể đến những ngón đòn bạo tàn và độc đáo mà ở những nhà tù khác thường không thấy. Lý do thứ tư, cái lý do này tưởng vu vơ nhẹ tênh nhưng lại thật nặng. Nặng đến xót xa. Đó là thằng con lớn của tôi, một sinh viên có thể tạm cho là đại diện cho lớp trẻ hôm nay, biết tôi đi đã nói ráo hoảnh: “Bố lẩn thẩn rồi. Cả nước người ta đang quay cuồng trong cơn sốt làm giàu, trong cuộc tranh đua vật lộn trên võ đài kinh tế, một mình bố lõm bõm lội ngược dòng tìm về quá khứ xem chừng lạc lõng đấy bố ơi!”. Tôi tê dại cả người song vẫn cố làm ra vẻ điềm tĩnh hỏi lại: “Mày có biết Phú Quốc là gì không?”. “Biết! Hạt tiêu Phú Quốc, nước nắm Phú Quốc ai còn lạ”. “Chỉ thế thôi à?”. “Vậy là quá đủ!”. Tôi im lặng. Tuổi trẻ hôm nay làm sao có thể giải thích được cho nó hiểu rằng Phú Quốc không chỉ có thế, Phú Quốc còn là nơi giam giữ khốc liệt tù binh trên toàn miền Nam trong thời kỳ đánh Mỹ mà bố nó cũng có một lần suýt nữa thì chịu chung số phận, và nếu có giải thích chăng nữa, chắc chắn sẽ nhận trở lại một câu trả lời còn ráo hoảnh hơn: “Ô! Thế à? Thế mà tụi con cứ tưởng chỉ có Côn Đảo mới là đảo tù. Buồn cười nhỉ!”. Buồn cười nhỉ! Thế đấy! Quá khứ ư? Oanh liệt ư? Đau thương ư? Tất cả trở thành buồn cười, thành lá mục giữa rừng hết. Thì tôi lên đường. Càng cần phải lên đường, dù có làm một cuộc hành trình lõm bõm lội ngược dòng thì đã có sao! Ở đời, nhiều khi những cú đi ngược đó sẽ giúp cho người ta thực sự tìm được yên tĩnh, tìm được cái đẹp nhân bản mà bấy lâu do mải vật lộn để sinh nhai đã rơi vãi đi khá nhiều nếu không muốn nói là rơi vãi đi gần hết.


 


2


 


Thời buổi cơ chế kinh tế bung tỏa, tất cả tự hạch toán, tất cả tự chịu trách nhiệm kể ra cũng dễ chịu thật! Chuyến xe đò tốc hành nửa đêm xuống Rạch Giá hôm ấy có cả những chào mời đon đả, những khóc cười duuyên dáng và có cả vidéo đa hệ. Ngồi ngả người trong chiếc ghế êm ái, vừa nghe gió sông, gió đồng ve vuốt hai mang tai, vừa mơ màng xem một đoạn phim lãng mạn, tự dưng thấy nhân cách, nhân quyền lên chót vót đến ngất ngây, đến khó tin là có thật. Mười hai giờ dằng dặc trôi qua cái vèo, tưởng như mình chưa đi, chưa lận đận qua bắc qua sông bao giờ. Cái cảm giác này càng được tênh nhẹ khi đến nơi lại được ngồi giữa làn không khí trong lành ấm áp tình đồng đội của các đồng chí cách mạng lão thành trong Ban lãnh đạo hội cựu chiến binh, Ban lịch sử Đảng, Ban chủ nhiệm câu lạc bộ truyền thông kháng chiến Kiên Giang. Chính những người lính già sáu mươi, sáu lăm, bảy mươi tuổi đã cởi bỏ quân phục này đã khuyến khích và tạo điều kiện tối đa cho tôi, một lữ khách phương xa, được tiếp cận rẻo đất Phú Quốc. Thì ra, phía sau những mái tóc bạc, những đồng lương quân nhân hưu trí nhỏ nhoi, những số phận ngặt nghèo, trái tim người lính một thời ngang dọc vẫn đập mạnh mẽ trong lồng ngực các anh. Anh Chín Cửu, nguyên Khu ủy viên khu Chín, nguyên bí thư tỉnh ủy, nay đã thành ông nội, ông ngoại nhưng vẫn giữ được cái cười rất vang – Phải chăng con người có một độ tinh khiết tâm hồn thế nào, một cách sống thế nào mới có được cái cười khoáng đạt như thế – cùng anh Ba Kính, nguyên tỉnh đội trưởng, anh Sáu Nghĩa, tổng thư ký Hội, thường có lối  chuyện trò rất hóm và anh Năm Chiến, chánh văn phòng ngấp nghé tuổi sáu mươi mà vẫn ồn ào sôi nổi như thời trai trẻ bắt chặt tay tôi và chúc tôi tìm được nhiều quặng trong cảm xúc và vốn liếng tư liệu. Anh Ba Tiến với dáng người cao to, khuôn mặt cân quắc, nguyên thường vụ tỉnh ủy năm xưa dặn theo một câu:


-         Cái này hết sức quan trọng đối với lòng dân ông ạ! Vừa rồi có bà má tám mươi tuổi, đảng viên, con cháu theo cánh mạng hy sinh gần hết đề đạt nguyện vọng nếu chết xin được chôn tại ngay bờ biển để ngày ngày được nhìn ra Phú Quốc. Bả nói, nơi đó thời Pháp – Mỹ anh em mình tù tội khổ đau, mất mát và anh dũng chiến đấu hy sinh nhiều lắm. Bả yếu lắm rồi…


Giọng anh Ba Tiến nghèn nghẹn, rồi không nói thêm được nữa. Sống mũi tôi bất giác cay cay, im lặng. Anh Chín Cửu nói lời sau chót:


Sau này nếu có kinh phí, nhất định ta sẽ dựng một cái tượng đài ở đó, ngay giữa nhà tù. Và không thể thiếu được hình ảnh bà mẹ. Không phải chỉ là bà mẹ Rạch Giá, bà mẹ Kiên Giang, đây là biểu tượng của bà mẹ Việt Nam tần tảo hướng vọng, đợi chờ muôn đời khắc khoải những đứa con đang sống trong lao tù tàn bạo, phải dựng bằng được, bỏ qua đi, có tội với anh em, với bà con cả nước và với cả đám trẻ hôm nay lắm!


Sóng biển và gió chuyển mùa quyện vào câu nói tâm huyết của những người lính già đè nặng xuống vai tôi. Tôi đâu có lội ngược dòng thời thế mà ở ngay chính nơi đây, giữa những tấm lòng nhân hậu, tôi bắt đầu thực hiện một hành vi lội ngược dòng lịch sử để tìm về những giá trị đích thực.


Tôi lên tàu đò ra với trùng dương khi chiều đến muộn.


 


3


 


Từ bờ ra Hòn Tre đi mất hai giờ. Hòn Tre ra Hòn Nghệ hai giờ nữa. Và từ Hòn Nghệ đến khi cặp đảo mạn An Thới hết đúng bốn tiếng. Tất cả là tám tiếng nếu trời yên biển lặng. Con tàu vạch một đường chỉ thẳng trong đêm, cứ hết hòn này, tầm mắt đã lại mờ mờ trông thấy hòn khác. Cứ mỗi cái mờ mờ đó là hàng chục cây số. Ba cái vấp mắt hết 115 cây số. Đảo cách thị xã Rạch Giá 115km. Chao ôi! Xa xôi diệu vợi biết bao! Diệu vợi trong thanh bình, càng diệu vợi trong chiến tranh. Tự dưng hình ảnh côi cút của đứa con xa mẹ đời này qua đời khác đòi hỏi phải sức vóc tự lực tự cường dữ dằn lắm mới không bị tan vụn chìm xuống đáy đại dương, dần dần nhen lên trong tâm trí tôi như một mạch ngầm, một âm hưởng chủ đạo về hòn đảo mang hình lưỡi mác này.


-         Đảo Phú Quốc ngày xưa bà con kêu là hòn Củ Cải, vì nó giống củ cải, vậy thôi. Theo truyền thuyết…


Thiếu tá Tư Quý, phó chỉ huy trưởng huyện đội Phú Quốc châm cho tôi một điếu thuốc thơm, nói tiếp:


-         Theo truyền thuyết, cách đây năm trăm năm đảo chưa có người, khắp nơi chỉ toàn rừng rậm và cây gai hoang vu. Trên rừng thì cọp rống sáng đêm, dưới rạch thì từng đàn cá sấu lội ngược lội xuôi đi kiếm mồi. Mà rừng ở đây nhiều gỗ quý lắm anh ơi! Sến, Táu, Gụ, Trai… Ôi chà! Tóm lại trên rừng có loại gì quý thì ở đây có ráo trọi. Đặc biệt là Trai. Thứ này đóng bàn, đóng tủ còn ngon lành hơn cả Cẩm Lai. Dùng chục năm, hai chục năm rồi nhưng chẻ ra bên trong thớ gỗ vẫn còn tươi rói. Cá nữa. Tất cả mọi loài cá quý hiếm trên đời này đều có. Phú Quốc mà! Phú Quốc là đất giàu mà anh Mười.


Tôi mỉm cười và nằm sát lại gần Tư Quý hơn. Người con trai đất đảo mới hơn ba mươi tuổi, vốn sinh ra và trưởng thành ở Phú Quốc này đang say sưa giảng giải cho tôi bài học địa lý vỡ lòng đầu tiên về đảo. Đêm trở lạnh. Tiếng máy nổ rì rầm. Sóng vỗ lao xao mạn đuôi tàu. Không gian bao la và ngan ngát gió. Gối đầu lên thành lan can gỗ, kéo thêm tấm vải nhựa lên sát ngực, bụm tay hút điếu thuốc, tôi lắng nghe tiếng nói của Quý thỉnh thoảng bị sóng gió chặt vụn ra trong cảm giác mơ màng hư thực.


-         Bảy mươi phần trăm diện tích đảo là núi rừng có đủ cả nai, khỉ, lọ nồi, trăn, càng tôm… Càng tôm! Chà, thứ này nhậu đã lắm anh, chặt nhỏ xào khô với sả, cắn miếng nào cũng có xương, miếng nào cũng thơm lựng.


Trời lạnh thế này mà Quý chép lưỡi hít hà một cái rõ kêu như đang nhậu thật.


-         Đảo có 99 ngọn núi nhấp nhô cao thấp khác nhau. Ngọn cao nhất là Vồ Quắp cao tới gần 600 mét so với mặt biển, thành thử quanh năm có khí lạnh sương mù lãng đãng như đỉnh Trường Sơn. Quý cười thật hiền – Trường Sơn… Là nghe thiên hạ nói thế chứ em đã nhìn thấy nó hồi nào. Đảo dài tính mút đầu mút đuôi khoảng 50km. Chỗ rộng nhất tại Bắc đảo là 28km, chỗ hẹp nhất chỉ có 3km. Tính trung bình là 15km. Đo giáp vòng đảo khoảng 128km. Đảo có hai con rạch lớn là rạch Cửa Cạn dài 28km, và rạch Dương Đông 10km. Đó là chưa kể trên hai trục con rạch nhỏ khác ngắn dài chằng chịt như bàn tay người giữ chặt lấy đất đai. Ủa! Sao cười ta?


-         Không! Mình có cười đâu. Nói tiếp đi! Hay lắm! Thi sĩ lắm! – Tôi chống chế và siết chặt tay Tư Quý – Mình có cảm nghĩ, chỉ cần lênh đênh một đêm ra đảo như thế này, con người ta dù không muốn cũng trở thành thi nhân. Tất cả đều tan chảy, tất cả đều bồng bềnh như trôi về miền hoang sơ chẳng vướng bận mảy may cái lo toan vặt vãnh thường nhật.


-         Nếu mình lùi lại một ngày thì sớm mai anh sẽ được chứng kiến ngày lễ hội cụ Nguyễn Trung Trực – Quý nói, không mảy may để ý tới cái mẩu cảm xúc của tôi vừa lóe cháy… - Đám giỗ to lắm! Năm nay làm ăn được, càng to. Cụ không phải người đất này nhưng là một trong những người dám phất cờ đánh Pháp đầu tiên trong toàn cõi, sau khi đốt cháy tàu Tây trên sông Nhật Tảo, sau khi bằng vũ khí thô sơ chiếm lại được cả tỉnh lỵ Rạch Giá, yếu thế, cụ lui binh về đảo lập căn cứ tác chiến lâu dài nên nhân dân coi như người anh hùng của Sông Kiên, của Phú Quốc. “Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa. Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần”. Chắc anh đã nghe hai câu thơ này?


-         Có. Mình còn biết trước khi bị giặc chặt đầu, cụ vẫn thét to: “Bao giờ nhổ sạch cỏ nước Nam thì người Nam mới thôi đánh Tây”. Lời hịch kêu trong máu đó phát sáng, ăn nhập vào tâm khảm người Việt Nam cho mãi đến những năm tháng chống ngoại xâm sau này.


Chúng tôi cũng im lặng, để mặc cho tiếng động thời gian, tiếng động của lịch sử từ xa xưa rì rầm theo sóng vọng về. Choáng ngợp và nao lòng.


-         Có chuyện này lạ lắm anh Mười! Quý nói tiếp – Cùng lui về đảo với ông có bà vợ. Lúc chồng chết, bà lại sinh con, sinh giữa rừng trong vòng vây của giặc, trong đói rét. Giặc ra lệnh: “Nếu ai tiếp tế dù chỉ một hạt gạo cho vợ con tên “trùm giặc cỏ”, ắt sẽ rơi đầu! “Không ai dám vào rừng cả. Bà không có sữa cho con bú nên đứa bé lăn ra chết. Trước lúc chết theo con, bà cất lời nguyền: “Bất cứ người đàn bà nào ở đây sinh con đều không nuôi được!”. Quả là linh ứng. Từ đó trở đi, phụ nữ xã Cửa Dương cứ đẻ con ra là chết. Sau bà con phải lập đền thờ bà tại Cửa Cạn, tai nạn ấy mới qua. Kỳ không? Nếu ông Nguyễn Trung Trực nêu tấm gương sáng về khí phách làm người thì Bà đã lưu lại cho dân đảo một bài học thấm thía về lẽ thủy chung, điều nhân nghĩa.


-         Nói đùa. Đáng lẽ ông phải làm cán bộ nghiên cứu lịch sử thay vì cái quân hàm thiếu tá huyện đội này – Tôi nói.


-         Làm dân Phú Quốc phải rõ nòi giống ông bà Phú Quốc chớ anh. Nói tiếp chuyện hồi nãy nghen! Hồi đảo còn hoang vu nghe nói Gia Long cũng chạy dạt ra đây đó anh. Từ thời Gia Long trở đi, bà con miền Trung mới bắt đầu di dân vào mỗi lúc mỗi đông. Có thể nói hết thảy những người gọi là dân Phú Quốc rặt – hôm nay đều có gốc là người ngoải.


-         Có! Hôm rồi gặp anh Hai Phi, anh cũng có nói.


-         Hai Phi hả? Hai Phi chủ tịch hội đồng nhân dân tỉnh, cao to, trắng trẻo như Tây, nguyên là bí thư đảo này thời kỳ năm bảy ba, bảy lăm đó. Vậy ngon rồi! Ông biết nhiều lắm!


-         Anh Hai đã cho mình một cái Kim chỉ nam, một cái xương sống để lần tìm tung tích nhà tù Cây Dừa.


-         Ở đảo có gia đình ông Hai Phi và gia đình ông Ba Nghĩa là theo cách mạng đông nhất, cả nội lẫn ngoại có tới bốn, năm chục người lận. Muốn tìm hiểu nhà tù, anh thử hỏi ông Ba Nghĩa coi! Ổng là người chỉ huy quân sự đầu tiên ở đảo thời chống Pháp đó anh ạ. Chắc ổng biết nhiều chuyện.


-         Mừng quá trời Tư Quý ơi! Về nhà tù, ở tỉnh không có một mẩu tài liệu nào. Mà nghe nói ở huyện cũng không có nốt. Chỉ còn một cách là dò tìm những nhân chứng sống. Vợ mình có một bà bạn có ý nhờ mình tìm hộ tung tích người chồng tên là Quang. Cậu có nghe nói…


Tôi dừng lại. Vì cạnh tôi, tiếng ngáy vô tư của Quý đã nhè nhẹ vang lên. Chao! Giấc ngủ của chàng trai Phú Quốc đến mới êm đềm nhặm lẹ làm sao! Tôi lần mở công tắc cái đài con đặt ngang mặt…” … Tình hình vùng vịnh Pécxích vẫn hết sức căng thẳng. Hàng triệu quân của lực lượng đa quốc gia đã tập trung về đây. Liệu một cuộc chiến tranh đẫm máu có xảy ra không?…”.


Tôi thoắt nghẹn lồng ngực. Những người chết chưa tìm ra, loài người lại mấp mé miệng vực một cuộc chiến tranh nữa. Tôi thiếp đi…


 


4


 


Ngồi đằng sau chiếc Honda 67 của trung tá huyện đội trưởng Tư Dũng phóng ràn rạt giữa thung lũng An Thới mà tôi thấy hẫng hụt cả người. Theo anh kể thì đây chính là khu vực nhà lao Cây Dừa ác nghiệt năm xưa. Một nhà lao khổng lồ, choán toàn bộ khoảng trống 5 cây số vuông chạy suốt từ dốc đồi sim tới tận rạch Cầu Sấu, chứa trong lòng nó có lúc tới 40 ngàn tù binh mà giờ đây lại biệt vô tăm tích như thế này ư? Xung quanh tôi bát ngát một màu xanh cây cỏ hiền hòa và hui hắt, đâu rồi những phòng giam chật ních người, những chuồng cọp và lô cốt, đâu rồi những hàng rào kẽm gai trùng điệp, những cột đèn pha xé nát bóng đêm? Chỉ có nắng và gió xôn xao như nơi đây hàng ngàn năm vẫn quạnh quẽ chẳng một bóng người, như dấu tích đau thương oanh liệt của một thời chiến tranh chưa hề chạm bàn chân tanh tưởi của nó đến một lần. Bỗng dưng thấy buồn! Chiến tranh chả lẽ chỉ là bóng câu qua cửa rồi vĩnh viễn chìm trong câm lặng thôi sao? Chia sẻ cùng tôi dòng cảm nghĩ ấy, Tư Dũng khẽ nói:


-         Tôi cũng mới về đây nhưng nghe nói lại, chỉ sau bảy lăm vài tháng là khu nhà tù lập tức bị san thành bình địa rồi. Bộ đội, hải đoàn tới mang đi. Hàng chục vạn tấn sắt thép, tôn thiếc chứ ít gì đâu. Khu vực của Hải quân vùng Năm dùng làm căn cứ mà.


-         Đi thôi!


Tôi giục Tư Dũng. Thực lòng tôi không muốn nấn ná ở lại lâu trước cái có nghĩa và vô nghĩa của sự vật này. Dễ mủi lòng buốt ruột lắm!


Xe chúng tôi đang bon trên con lộ giữa, chỉ lát nữa thôi, chúng tôi sẽ quẹo qua con lộ cạnh chạy theo mép biển về thị trấn Dương Đông rồi Cửa Cạn… Xin lỗi! Vì câu chuyện về những người tù còn dài nên tôi dừng lại một chút để bạn đọc tạm hình dung ra hình hài của đảo. Với diện tích khiêm nhường trên dưới 600 cây số vuông, mạng đường của đảo cũng thật sơ sài. Trước đây toàn đảo chỉ có một lộ chữ T nằm như cái giá đỡ lấy phần đất phía Nam, còn để mặc cho phần đất phía Bắc gọi là Bắc đảo cứ gục gặc cái đầu nặng nề muốn nhủi xuống đại dương. Sau này, Mỹ mở thêm con đường ven biển để tiện hành quân cơ động. Nhìn sơ, mạng đường hôm nay giống như hai sợi lạt buộc cứng lấy tấm bánh hình trái ấu. Trước đây lúc đánh Pháp, Phú Quốc chỉ có một thị trấn Dương Đông và ba xã: Cửa Dương, Bãi Bổn và Dương Tơ. Nay, theo cái lô gích chia nhỏ tỉnh, nhỏ huyện trên cả nước, Phú Quốc cũng đẻ thêm tên đất tên làng: Cửa Dương thêm Cửa Cạn, Dương Tơ thêm An Thới. Vậy là thành năm.


Lúc này chiếc 67 đang lượn rèn rẹt trên con đường ấp khu Tượng thuộc Cửa Dương. Gió thổi mạnh, đường êm như lụa, tôi ngắm nhìn những đỉnh núi nối nhau điệp trùng ở xa xa mà ngỡ ngàng như đang lạc vào một vùng Mèo Vạc, Đồng Văn ở biên giới phía Bắc. Phú Quốc, hòn đảo hình lưỡi mác, hòn đảo hình giọt lệ từ phía Nam đất nước chất chứa nhiều đau thương chảy ra nhập nhòa vào biển cả sao lại thu gom vào lòng mình tất cả cảnh sắc của một quốc gia: Có miền biển, có sơn cước, có trung du và có cả đồng lúa, hồ ao của xứ đồng bằng? Phú Quốc cách đây vài trăm năm mới có con người đến sinh sống, sao lại chứa trong lòng nó tất cả sắc tộc của cả ba miền Bắc, Trung, Nam? Điều này khó nhân. Một lữ hành lần đầu đến đảo như tôi, mới thoáng nghe giọng nói ắt nghĩ rằng tất cả cư dân nơi này là người Nam, người Phú Quốc. Nhưng chỉ cần bước lên chiếc xe đò đông nghẹt chạy An Thới –Dương Đông mới thấy mình nhầm. Trên xe, do va chạm, do cự cãi chen lấn mà thiên hạ bỗng bật ra giọng nói thứ thiệt của quê mình. Nghệ Tĩnh có, Nghĩa Bình có, Hà Sơn Bình và cả Hoàng Liên Sơn xa ngái cũng có nữa.


Phú Quốc là quốc gia thu nhỏ. Phú Quốc là xã hội gom tụ tạo thành đại gia đình bốn mươi ngàn người hôm nay.


-         Độ này là dân cư đông nhất đó – Anh Tư Dũng nói – có thời chỉ vỏn vẹn năm, bảy ngàn người, có thời lính đông gấp mấy lần dân, có thời tù đông gấp mấy lần cư dân lẫn lính gộp lại.


Vào đường cát, chiếc xe lạng nghiêng ngả. Tôi ôm chặt lấy mảng lưng chắc lẳn của vị trung tá bốn mươi bảy tuổi vốn là dân đặc công ven Sài Gòn năm xưa một cách tin cậy. Tôi biết, để tìm ra được hơi thở và hình hài nhà lao, con người nhiệt tình và cởi mở này sẽ còn phải cưu mang, gắn bó với tôi khá nhiều.


Đứng trước tôi là anh Ba Nghĩa. So với tuổi gần bảy mươi, anh còn khá tráng kiện, khuôn mặt nở nang, hồng hào mặc dù tiếng nói có chiều run run, thật khó mà nhận ra cách đây bốn mươi lăm năm, anh là người chỉ huy đầu tiên lực lượng vũ trang trên đảo. Với cái cười tươi và hóm, anh nói:


-         Phú Quốc là một chiến hạm án ngữ, phòng thủ phía Tây nam của Tổ quốc. Nó có một vị trí chiến lược đặc biệt nên suốt từ thời Tây, Tàu, Nhật cho đến Mỹ, Phú Quốc khi nào cũng nằm trong tầm nhìn thèm thuồng của họ nhưng không gặm nổi. Đất Phú Quốc cứng lắm ông ơi! Đất ba dan, đất sét pha sỏi mà.


-         Anh Ba! Xin anh kể cho nghe…


-         Khoan! Đừng vội ngắt lời tôi. Đồng chí muốn hỏi về nhà lao Cây Dừa chứ gì? Thì tôi đang nói dần dần đây. Tại sao gọi là nhà lao Cây Dừa? Biết không? (Tất nhiên là tôi lắc đầu). Là vì nơi đó ngay từ đầu thế kỷ thằng tư sản người Pháp tên là Giăng Lớn đã mộ phu từ miền Trung vào lập đồn điền trồng dừa cho nó. Nhưng nhà lao buổi sơ khai đâu phải ở đó và cũng chưa kêu bằng Cây Dừa. Nó ở sát mí biển An Thới, nơi hải đoàn 5 đóng tổng hành dinh bây giờ kia. Nhớ xem nào… Đúng! Khoảng tháng 5-1953 khi quân Tàu Tưởng vừa rút đi hết…


-         Sau lại có Tàu Tưởng xen vào đó, anh Ba?


-         Vậy mới dài dòng. Quân Tưởng Giới Thạch do tướng Hoàng Kiệt chỉ huy bị Hồng quân Trung Quốc đánh chạy dạt về đây. Họ có hai binh đoàn: Hoa Bắc và Hoa Nam, tất cả trên ba chục ngàn lính. Khi đó dân đảo mới ước chừng bảy ngàn. Bảy ngàn trên ba chục ngàn! Mới nghe tưởng tan đảo, nát nhà; Phú Quốc sẽ bị xéo nát hả? Không! Mình phải thuyết phục, phải lúc rắn, lúc mềm chứ. Họ xin gỗ làm nhà, được. Họ xin đất trồng mì, được. Nhưng phạm vô hạt lúa, củ khoai của dân là không xong, là phản đối, là kêu lên cấp chỉ huy của họ rần rần. Ngay từ thời đó, sức mạnh đấu tranh chính trị và pháp lý của dân đã bộc lộ rõ lắm! Họ ngán, họ sợ và họ nằm im. Trong số quân này có bốn đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bạn mật báo cho ta biết như vậy – để tìm cách liên lạc với cách mạng ta. Nhưng khi ta tìm được mối thì cả bốn đều bị sát hại hết rồi. Sau họ rút, rút trên những chiếc tàu Mỹ há mồm to như trái núi vậy mà cũng mất vài tháng mới hết. Tuy thế vẫn có người chốn ở lại làm ăn, lấy vợ đẻ con tạo thành một cộng đồng người Hoa mới trên đảo. Tôi nhớ trong đó có một đại úy lấy vợ của một thiếu tá rồi cả hai trốn ở lại, bây giờ không biết ở đâu, xã nào, có còn trên đảo không?


Nghe anh Ba nghĩa nói đến chuyện này không ngờ ít ngày sau trong câu chuyện với một tù binh nhà lao, tôi lại được nghe lại về chi tiết của cái cộng đồng người Hoa mới có.


-         Lính Hoàng Kiệt rút – anh Ba nói tiếp – Pháp thừa cơ nhảy vào, lợi dụng những khu doanh trại có sẵn liền củng cố thiết lập nhà tù luôn. Phải thừa nhận thằng Pháp có con mắt tinh đời. Phú Quốc không phải chỉ là một vị trí quân sự có tầm chiến lược, nó còn là một cô đảo tách xa đất liền, rất xa, làm nhà tù thì thuận lợi mọi bề. Thuận lợi về đàn áp, đối xử, thuận lợi về phòng thủ an ninh. Vượt ra khỏi nhà tù đã quá khó. Vượt từ đảo về đất liền còn khó ngàn lần hơn. Doanh trại Tàu Tưởng đẹp dữ. Kết bằng gỗ, bằng tranh, tre, nứa, lá thôi nhưng khá khang trang, đều tăm tắp, đứng trên cao nhìn xuống như doanh trại của quân Tào trong Tam quốc chí. Thực ra từ năm 1942, 1943 sau khởi nghĩa Nam Kỳ, Pháp đã vẽ thiết kế, lên sơ đồ và tập kết nguyên vật liệu bước đầu định dựng nhà tù nhưng không kịp do cách mạng Tháng Tám nổ ra. Tất nhiên không phải chỉ có thế. Tầm cỡ, mức độ cuộc chiến tranh càng lớn thì số tù binh càng nhiều, nó đòi hỏi phải hình thành thêm những nhà tù quy mô. Phú Quốc nằm trong đặc điểm ấy. Nhưng năm “năm ba” nhà lao chưa có mấy tù binh, khoảng hai ngàn gì đó, vào tháng sáu, toàn tù Thủ Đức, Hải Phòng về, tháng bảy đã lên ba ngàn. Chúng dự định đưa về 10 ngàn vào tháng 11 thì tình thế đột ngột biến động. Bố phòng nhà tù hồi này còn sơ sài dữ lắm, năm ba lớp rào thưa thớt, chó má, đèn pha, xe cộ chưa có; chế độ nhà tù còn dễ chịu do một thằng quan Tư Pháp chỉ huy. Nói thêm, khác tất cả các huyện khác đều do ngụy quyền cai quản, riêng Phú Quốc từ xưa đã có một thằng quan Pháp đứng ra trực tiếp điều hành. Kể ra đặc công đánh một đêm là xong, nhưng mấy ngàn con người ra rồi ăn đâu, ở đâu? Đảo thiếu lương thực dữ lắm và thiếu thường xuyên. Đảo nuôi dân đảo đã mệt, làm sao nuôi nổi từng ấy con người? Thành ra muốn đánh lắm mà đành nuốt nước miếng chịu.


-         Nghe nói lúc ấy anh Ba là huyện đội trưởng?


-         Đó! Tôi đâu có muốn nói về tôi nhưng do đồng chí hỏi đó nghen! Phú Quốc có một đặc điểm về mặt lịch sử Đảng là năm “bốn lăm” có chính quyền rồi nhưng vẫn chưa có Đảng lãnh đạo. Ngay chính quyền cách mạng cũng do ban hội tề, công chức cũ yêu nước đứng ra lãnh trách nhiệm thôi. Điều đó nói lên ngay từ buổi đầu, Phú Quốc đã biết tự khẳng định tính cách độc lập trong mọi tình huống của mình. Đồng chí là nhà văn, đồng chí thử tìm ra một từ ngắn ngọn để chỉ tính cách, phong độ Phú Quốc coi nào? Khó đấy mà dễ đấy. Có lẽ kêu bằng “Bền bỉ tự cường” chăng? Hay “Ngang tàng và nhân hậu”? Thôi, vô đề tiếp nghe. Tôi nhớ ba đảng viên đầu tiên về đảo là ba chiến sĩ vượt ngục Côn Lôn được cử về, anh Nguyễn Bình Minh tức Sáu răng đen, anh Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Khắc Thiệu do anh Thiệu làm Bí thư. Phải chăng người Bí thư đầu tiên của đảo là tù vượt ngục trở về mà từ đó nhà tù Cây Dừa liên tục mang được truyền thống và phong độ vượt ngục từ ấy. Nhưng Bí thư Ban cán sự thôi chứ hồi đó đâu đã có huyện ủy. Cấp ủy huyện phải bắt đầu từ anh Thư Hùng kia. Đảng số ban đầu cũng chưa đủ chục người: Anh Huỳnh Văn Thãnh, Nguyễn Văn Hai, Đinh Trung Kiên, Lâm Nguyên Sự, Phạm Xuân Đường, Huỳnh Văn Lang, Tám Tao, bà Hồ Thị Huệ tức má tôi rồi đồng chí Võ Văn Doãn từ mặt trận Hà Tiên về… Kể dài dòng vầy để nói, Phú Quốc sau tháng Tám năm bốn lăm mới có võ trang mà lại phân nửa là lính Pạc-ti-giăng do anh Đặng Văn Thơm là ủy viên quân sự; ngoài ra trưởng, phó chỉ huy là cai hết. Mãi tới tháng 3 năm bốn sáu, khi Phú Quốc đã mất vô tay Pháp, ban cán sự đã bị tan rã, tôi mới lọ mọ đi học quân chính vượt biển về. Vậy là phải làm lại từ đầu thôi. Sau này họ bảo tôi là người thành lập, người chỉ huy đầu tiên của bộ đội Phú Quốc, cũng có cái lý của nó. Sau đó tôi lên tỉnh, năm Pháp lập ra nhà lao cũng là lúc tôi trở về làm huyện đội trưởng. Đánh vài trận trong đó có trận Cây Cầy, cây Cầy chứ không phải cây Dừa như một vài người nói đâu nghe – Hồi trận Cây Dừa đâu đã có nhà lao – khá thối động, lôi kéo ít nhất hai trăm tù trốn trại chạy ra. Sau đó tiếp tục đánh nhỏ, đánh lớn, pháo kích liên tục vào khu vực xung quanh nhà tù khiến anh em trong lao phấn chấn tin rằng bên ngoài mình có lực lượng cũng rủ nhau vượt ra nhiều hơn. Thấy thế đứng mỏng manh, Pháp quyết định dời nhà lao về khu vực thung lũng An Thới ngày nay và ra sức bố phòng trở lại. Ở trong rừng nhìn ra thấy tàu chiến, máy bay vận tải chúng chở kẽm gai, sắt thép ra kìn kìn mà sốt ruột.


Đồng chí Lê Phú Hữu, phó Bí thư tỉnh ủy Long Châu Hà lúc ấy ra tận đảo và chỉ thị: “Cả nước sắp sửa bước vào những chiến dịch lớn, rất cần lực lượng nên chủ trương ở trên muốn giải phóng toàn bộ nhà tù”. Chấp hành chỉ thị, bọn này móc nối cơ sở nội gián tạo một đường dây thông tin liên lạc trong ngoài, nhanh chóng đưa một cây kìm vào nhà giam, cùng lúc xin trên một phân đội đặc công thiện chiến có một sĩ quan chính quy chỉ huy. Vấn đề còn lại là nuôi anh em mình khi ra thế nào và phương tiện chuyên chở về đất liền ra sao? Cái này nan giải lắm. Như trên tôi đã nói, đòi hỏi phải có thời gian chuẩn bị. Chà! Đất hẹp, lương thực khan hiếm có quân số đông cũng kẹt. Đảo chỉ có một trung đội hay cùng lắm một đại đội là cùng. Nhiều hơn, buộc phải đưa về đất liền. Chính thế mới xảy ra một hiện tượng nghịch lý: Bao nhiêu năm qua, Phú Quốc đơn phương cung cấp người, vũ khí cho đất liền chứ đất liền chưa bao giờ cung cấp trở lại. Vậy, chưa chuẩn bị xong thì chớ động dạng. Động dạng tầm bậy, tù binh túa ra hàng ngàn mạng có khi lại ôm nhau chết đói. Nhưng không nằm im, bộ đội tiếp tục nổ súng lai rai và anh em cũng trốn ra lai rai. Vậy mà cũng đến hàng trăm người, toàn bộ đội Hà Nam Ninh và Hải Phòng, bọn này giữ lại một trung đội rồi tổ chức đưa về đất liền ba chuyến mới hết. Nè! Trong số tù binh ra hồi ấy có một anh tên là Vũ Lăng, nguyên Bí thư huyện ủy Tiên Lãng, Hải Phòng. Anh này hăng lắm, nhất định không về đất liền mà xin ở lại. Sau này anh Lăng làm trưởng ban tổ chức kiêm tuyên huấn của huyện. Cha! Vũ Lăng và Năm Luận tức Dương Quốc mà ngồi với nhau, thêm xị rượu nữa thì khỏi nói: Nhạc, họa, thơ văn ra cứ lai láng. Đồng chí có thể tìm gặp Vũ Lăng ở Sài Gòn, nghe đâu ổng đang công tác tại Ban thanh tra Tổng cục Cao su gì đó. Thôi heng! Tôi đang mắc bàn trao công việc để nghỉ hưu. Mệt rồi!


-         Anh Ba! Thế còn…


-         Ủa! Cái gì nữa? Chuyện tù đày mênh mông, hỏi chuyện mỗi người mỗi chút chớ ai đâu nói hết đặng.


-         Tôi có một người bạn… Mà thôi, thời đánh Mỹ chắc anh Ba không rành. Tôi muốn hỏi thăm tin…


-         Dù có rành cũng khó biết lắm! Hàng chục ngàn tù binh, chết sống lại bất kỳ, biết sao mà hỏi thăm. Tôi chỉ nhắc lại nè: Ngay từ ngày đầu, cấp ủy địa phương đã quan tâm tới số phận anh em trong tù và cũng ngay từ thuở đầu ấy, anh em tù đã có truyền thống vượt trại để về với cuộc sống chiến đấu, trong đó không ít người đã ở lại cầm súng và hy sinh ngay trên đất đảo này. Thêm một chi tiết nữa, hồi đó nhà lao Phú Quốc không phải chỉ toàn là tù binh, nó còn giam giữ cả tù chính trị và tù phụ nữ. Sau này tù binh lên nhiều, tù chính trị chúng dồn cả về Côn Lôn, còn chị em phần lớn chuyển ra nhà tù Hố Nai. Tôi chỉ rành nhà tù thời Pháp, muốn biết thời Mỹ, đồng chí có thể tìm gặp Ba Toản, Tư Lửa là những người vượt trại hiện còn đang sống tại đây. Từ mấy người này sẽ tìm thêm ra những người khác. Chào nhé!


Ông bắt tay tôi rồi đi luôn. Cuộc sống đang vào guồng làm ăn, tối tăm mặt mũi, buộc ông dừng lại đôi hồi về dĩ vãng như thế kể ra cũng là nhiều, không thể đòi hỏi gì hơn.


Mở chiếc đài một pin, tình hình vùng vịnh Pécxích lại vang lên nóng bức như có lửa khói chiến tranh đang cháy rần rật ở trong đó. Tôi tắt đài, thế là vẫn chưa hỏi được tin chồng cho người đàn bà ấy.


 


5


 


Kể từ đây, câu chuyện về nhà lao Cây Dừa trở thành một mối ám ảnh khôn nguôi trong tôi. Lời kể của anh Ba Nghĩa chỉ là khúc nhạc dạo đầu mà xuất phát từ đó, để đi hết bản hùng ca bi tráng lao tù, tôi tự biết rằng mình đang mò mẫm vào rừng thẳm bịt bùng. Đúng! Với bốn chục ngàn tù binh, rải rác nằm ở khắp nước, từ Mục Nam Quan tới Mũi Cà Mau, với sự biệt vô âm tín như hòn chì ném ra biển cả, không để lại một dấu vết nào có tính văn bản, có tính sơ đồ tổng kết; mò mẫm vào đó tôi rất dễ sa xuống sình lầy. Nhưng biết làm sao được. Cái nghiệp cầm bút cũng đòi hỏi quả cảm phi thường như cái nghiệp cầm súng. Phía trước là mênh mông, phía sau là vực thẳm, tôi chỉ còn có một cách là băng lên. Băng lên một cách chậm rãi, khoa học và tự tin ở mình. Tức là tôi phải đi dò tìm cái điểm nút ban đầu để từ đó mà lần ra sợi dây liên kết tạo dựng lên toàn bộ khung cảnh nhà tù.


Cái điểm nút đó là anh Hai Nam. Nguyên có thời là trưởng ban quân xa của nhà tù. Con người to cao, nước da đen mun, hàng ria mép tỉa gọn nom cân quắc như một tài tử điện ảnh bây giờ đang giữ trách nhiệm Phó giám đốc công ty xây dựng của huyện. Nội một chi tiết này cũng đủ thấy cuộc chiến tranh đẫm máu vừa qua đã thực sự trở thành quá khứ đối với tâm hồn người dân đảo rồi.


Nhưng cũng không hoàn toàn như vậy. Gặp tôi, đã nghe tên tôi, anh tỏ ra vui mừng pha chút lịch lãm. Ấy vậy, khi tôi yêu cầu anh, với tư cách đã một thời là người của phía bên kia có điều kiện đi qua đi lại hiểu biết nhiều, kể cho tôi nghe về nhà lao, anh lắng đi một chút vẻ không hài lòng: “Cái gì đã qua là cho qua luôn đi anh!”. Anh nói. “Tất nhiên rồi!” – Tôi đáp lại – “nhưng cũng có những cái không thể cho qua được như cái nhà tù này. Mai sau, thế hệ con cháu của chúng ta không hay biết gì về cái nhà lao khổng lồ đó là chính chúng ta có tội. Tôi có tội, anh có tội, tất cả những người lớn có tội bất biết quan điểm, chính kiến, người phía bên này hoặc bên kia. Vả lại, hai mươi năm đã trôi qua, có nhắc lại quá khứ cũng chỉ là để tâm tình, để hiểu nhau hơn”. Anh có vẻ xuôi. Chiều ấy trên bãi biển trắng phau màu cát, bên ly rượu thuốc màu hồng nhạt, con người ấy đã chiều tôi mà quất ngược tư duy lệch về phía sau đôi chút.


-         Kể ra anh tìm gặp được những nhân vật chủ chốt của nhà tù như chỉ huy trưởng, tổng giám thị, cai gục, sĩ quan quân cảnh… chắc có lẽ hay hơn nhưng tôi biết anh không gặp được đâu. Không phải họ không cho gặp mà hầu hết trong số họ sau khi ở trại cải tạo về đã lần lượt đi di tản, đi có bảo lãnh cả rồi. Còn tôi… Vợ con tôi ở đây, công việc tôi ở đây, tôi yêu mảnh đất này cho dù tôi là dân Phan Thiết.


Như anh nói đúng đó, tổng diện tích nhà lao ước chừng bốn đến năm cây số vuông. Chiều dài bốn cây số, chạy suốt từ miếu Cô Sáu, còn gọi là dốc Đồi Sim đến tận Cầu Sấu. Chiều ngang khoảng cây số hơn. Ráo trọi là đồng không đồi trọc được bao quanh bằng biển, rạch và rừng, tịnh không có một nhà dân, một bóng người nào ở gần đó. Người Mỹ họ giàu, họ sử dụng tối đa chất độc hóa học và những phương tiện cơ giới dọn dẹp sạch bóng ngoại vi tạo thành một vành đai trắng rộng hàng cây số. Bây giờ khu vực đó chẳng còn gì, sạch bóng luôn cả bên trong, sạch đến nỗi tôi là người trong cuộc mà thỉnh thoảng đi qua cũng không tài nào hình dung ra nổi trước đây nó là khu vực nhà tù – Anh khẽ mỉm cười, một cái cười đẹp và hiền.


-         Hay quá! – Tôi bắt đầu giở sổ tay và tháo nắp bút – Bằng ký ức, anh cố tả lại cho tôi hình dung ra cái nhà tù đó nhé! Cần lắm! Nếu không phải là anh, những người như anh thì khó mà tả nổi. Rất đơn giản: Mỗi người tù chỉ biết được vỏn vẹn khu vực nhỏ nhoi của mình. Muốn nắm được hết, chả lẽ tôi phải mở cuộc lãng du mười năm để tìm mấy chục ngàn con người ư?


-         Dạ! Khi tôi ra nhà lao mới chỉ có 6 khu. Sau này, đặc biệt thời kỳ Mậu Thân, họ nới rộng ra đến 10 khu, 11 khu. Nghe 10 khu, 11 khu, chắc anh thấy thường nhưng thực chất mỗi khu đã mang hình hài một nhà tù khổng lồ. Cả 10 khu gom lại, nó có tầm cỡ đứng bậc nhất Đông Nam Á. Họ gọi bằng một cái tên chính thức: “Trại giam tù binh Cộng sản”.


-         Viết bảng treo ngay ở cổng à?


-         Không! Họ gọi miệng. Mà thế nào là cổng? – Anh lại cười – Rõ ràng anh chưa hình dung ra nổi rồi. Hàng chục hàng trăm cổng, mỗi khu vài ba cổng, biết đâu là cổng, đâu không. Tôi nói kỹ nghe. Mỗi khu chia thành 4 phân khu. Mỗi phân khu có từ 9 đến 18 nhà giam, lấy trung bình là 12 nhà. Mỗi nhà nhốt chừng một trăm đến một trăm hai mươi người, có lúc lên cao tới một trăm năm mươi. Tính thử coi nhen! Một phân khu có 12 nhà, vậy 4 phân khu có 48 nhà. 10 lần cái 48 đó là 480 nhà giam. Nhà lao ở Phú Quốc có thể coi là 480 cái nhà lao cỡ nhỏ hay 48 nhà lao cỡ trung hợp thành. Từng phân khu có hàng rào bao quanh, từng khu cũng bao quanh những lớp rào kẽm gai. Chỗ dày có thể tới 10 đến 15 lớp rào, chỗ mỏng cũng phải năm đến bảy lớp. Nếu nhìn từ trên cao xuống thì sẽ thấy nhà cửa san sát và hàng rào lan ra như sóng biển. Thế thôi, chứ toàn bộ nhà lao không có một mảng tường, mảng cổng cao vòm kín nào hết. 10 khu chia làm hai, chẵn một bên, lẻ một bên, giữa là con đường trải nhựa ngày đêm có xe tuần tiễu lại qua. Ban đêm, trong những lớp rào có thả chó và ngỗng nằm im lìm mai phục. Và ánh sáng. Có cả một nhà máy phát điện và một trạm ra đa cũng như một sân bay dã chiến phục vụ nhà tù. Ban đêm đèn đuốc sáng trưng như ban ngày. Mỗi phân khu có 4 ngọn đèn pha nằm trên chòi cu quét sáng, thấy động tĩnh gì là 4 khẩu đại liên tại chính nơi đó xả đạn liền. Xung quanh lớp rào trong cùng gắn chi chít đèn tròn cứ 10 mét treo một cái, một con chó chạy qua cũng không lọt. Vậy mà anh em tù vẫn vượt ra hết đợt này đến đợt khác như có phép thần, khiến lực lượng quân cảnh vừa uất vừa nể trọng. Chuyện vượt ngục này để anh hỏi chuyện những người khác, đúng là có một pho sự tích ly kỳ như không có thật. Nói vậy, anh tạm hình dung ra khung cảnh nhà lao chưa?


-         Ra, nhưng… chưa thật rõ lắm!


-         Vậy nói tiếp. Nhà cửa trong tù là loại nhà tiền chế, lấy khung thép lắp sẵn làm sườn rồi đắp điếm tôn thiếc vô, khắp trại không có lấy một viên gạch, một tảng bê tông. Vách dùng bằng thiếc, mái lợp thiếc, cửa cũng dùng bằng thiếc luôn. Trưa nắng nhìn vào cả nhà lao chói rực lên nhức mắt, tưởng như sắp sửa bùng cháy dữ dội. Chắc anh tính hỏi lực lượng bảo vệ? Ôi chao, đông lắm! Ngoài bộ chỉ huy quân cảnh do một trung tá hay đại tá, thậm chí có lúc lên đến chuẩn tướng cầm đầu trấn ngự tại một góc trong vòng rào và trên hết là một cố vấn trung tá người Mỹ tên là gì tôi không nhớ. Viên trung tá này ít khi ra mặt nhưng toàn quyền quyết định hết thảy. Lực lượng chủ yếu là 4 tiểu đoàn quân cảnh, có lúc lên năm. Ai chỉ huy từng tiểu đoàn hay đại đội quân đó ư? Chịu! Tôi cũng có ý tìm gặp nhưng tìm không ra. Họ từ khắp các vùng chiến thuật dồn về mà. Và thực chất lính quân cảnh là lính kiểng, lính công tử, lính tìm mọi cách để trốn tránh trận mạc ác liệt, thú thiệt, tôi cũng nằm trong số đó. Nhưng sĩ quan quân cảnh lại là tuyển chọn. Một ít trong số họ đậu bằng cử nhân luật, sau đậu tiếp cái bằng cử nhân văn khoa bởi lẽ trông coi tù tức là tiếp xúc với luật pháp và hành pháp, đâu có lạp xạp võ biền được. Chưa nói đấy còn là công ước quốc tế về đối xử với tù binh chiến tranh.


“Luật pháp hành pháp ư? Lại còn công ước quốc tế nữa! Vậy hàng ngàn xác chết, những cuộc tra tấn và tàn sát dã man đến bây giờ nhắc lại còn không tin được nó là cái gì?”. Tôi tính cãi lại một câu như thế nhưng cũng may là kìm được. Cuộc chiến tranh đã đi qua nhưng mặc cảm về chiến cuộc vẫn còn, tốt nhất là không nên động đến cõi tiềm thức đang được cố tình quên đi của những người trong cuộc. Vả lại, với tư các là trung sĩ quân xa, Hai Nam làm sao có thể biết hết mọi ngóc ngách sâu kín của sự việc.


-         Nói tiếp đi anh! – Tôi nhắc khẽ.


-         Một khu có một tiểu đoàn, một phân khu có một đại đội quân cảnh coi giữ. Bốn tiểu đoàn đó là 14, 7, 8, 9, trong đó tiểu đoàn 14 là sắt thép nhất. Ngoài lực lượng quân cảnh nhà lao còn có một trung đội quân khuyển toàn bẹc giê giống Anh, một trung đội bảo vệ sân bay, một trung đội quân tiếp vụ cộng một tiểu đoàn tiếp vận 3 trực thuộc Trung ương, có nhiệm vụ tiếp lương, vũ khí cho cả nhà lao, phi trường, lực lượng hải quân và quân y viện. Riêng lực lượng hải quân gọi bằng hải đoàn vùng Bốn tương đương một sư đoàn giăng kín ngoài biển. Coi thế đủ thấy Sài Gòn coi trọng cái nhà lao Cây Dừa này như thế nào. Gần như hình thành một tỉ lệ, cứ hai người tù lại có một người lính trông coi. Chưa kể xe pháo tuần tra xuôi ngược rần rần suốt đêm. Những người lính ngang tài ngang sức giam giữ nhau đâu có phải dễ như trông coi trại tị nạn, trông coi đám thường phạm, anh!


Nếu tôi nhớ đúng thì một phân khu có từ hai đến ba giám thị, khu có tổng giám thị. Họ là lực lượng riêng, có nghiệp vụ được xét tuyển kỹ càng, hầu hết là hạ sĩ quan và là người Bắc di cư mà hồi ấy thường kêu bằng dân Bùi Chu. Số này lầm lì và phải công nhận là rất dữ đòn. Ê kíp giám thị chỉ trông  coi tù ban ngày, ban đêm bàn giao cho quân cảnh. Cũng như hàng ngày, giám thị điểm danh tù lúc 7 giờ, quân cảnh điểm lại là 17 giờ, tất nhiên đó là ban đầu, sau này hai bên điểm danh cả ngày lẫn đêm liên tục để chống tù vượt. Thành ra về đêm khi anh em mình vượt ngục, đám quân cảnh thường phải chịu trách nhiệm nặng nề. Cái nặng nề nhất là tống xuất ra mặt trận hứng đạn.


Còn điều này tôi nói thêm để anh tham khảo, có thể đúng có thể sai nhưng dù sao cũng là một lượng thông tin. Từ năm “bảy mươi” trở về trước, nhà tù có hiện tượng đàn áp đánh đập tù binh nhưng từ “bảy mươi” trở về sau, người Mỹ buộc phải can thiệp. Họ quy định: Bất cứ ai, dù là giám thị hay chỉ huy mà ngược đãi người tù thì sẽ bị đưa ra bộ binh. Do đó tình trạng trên có giảm.


Một lần nữa tôi lặng im. Đây đâu phải là lúc tranh luận dài dòng. Con người này đang nói những điều chân thật, không thiên vị ai, mặc dù cách nhìn của anh chưa thấu đáo. Mà thấu đáo làm sao được khi cả nhà tù mịt mùng như một vương quốc riêng, một mê hồn trận rợn người mà thường xuyên có tội ác ngự trị bên trong. Hai Nam thổ lộ với tôi điều cuối cùng.


-         Bên cạnh guồng máy quân sự đồ sộ đó là những lực lượng nhà thầu như nhà thầu Năm Hòa ở An Thới hay bà Thủy ở Sài Gòn ra. Họ đứng ra tổng thầu cá, thịt, rau… Tóm lại là thực phẩm, đồ ăn tươi, còn gạo và thực phẩm chính thì đã có quân tiếp vụ lo rồi. Nhà thầu mang tiếng là cung cấp thức ăn cho nhà tù, hàng ngày liên hệ mật thiết với nhà tù nhưng chọn duyệt họ lại là bộ chỉ huy quân cảnh ở Trung ương chứ không phải do chính bộ chỉ huy nhà tù quyết định. Thành ra giữa nhà thầu và nhà tù, giữa nhà tù và thượng cấp nhiều khi xảy ra bất đồng xung quanh đơn giá. Bởi lẽ, Bộ chỉ huy Trung ương sẽ chọn nhà thầu nào ô kê đơn giá rẻ nhất mới chấp nhận vào đường dây của mình. Trúng thầu rồi, nhà thầu mặc sức bòn mót xén khiến khẩu phần của nhà tù thường xuyên thiếu hụt. Anh bảo, ba chục, bốn chục ngàn người chưa kể lực lượng quân cảnh một ngày ăn hết bao nhiêu tấn gạo, bao nhiêu tạ cá, tạ rau? Cắt xén vô đó dù chút xíu thôi cũng có lợi lắm. Cho nên người ta nói: Con đường dẫn đến triệu phú nhanh nhất là con đường đấu thầu cơm tù. Bộ chỉ huy nhà tù dù có biết nhưng đành phải im lặng. Cảnh cáo ư? Dọa dẫm ư? Nhà thầu bố báo lên trên Trung ương, Trung ương không biết gì hoặc đã có chia chác với nhà thầu, vậy là anh mất chức. Kêu cho đúng ba rem (thang bậc) ra thì tiêu chuẩn tù binh được 40 đồng một ngày, còn lính chỉ có 36 đồng rưỡi thôi. Song có bao giờ đủ.


-         Nghe nói người Mỹ quyết định cho tù binh cộng sản hưởng một ngày hai đô la nhưng thực chất khẩu phần không đáng một phần xu đô la nào? – Ngứa ngáy trong người, tôi hơi chen ngang.


-         Hai đô la? – Vầng trán Hai Nam nhăn lại một cách thật thà – Cái đó tôi không biết. Mà cũng có thể.


-         Thôi được, bỏ qua đi! Anh nói tiếp!


-         Chắc anh nghe chán tai rồi phải không? Chuyện nhà tù nhà lao gì mà toàn những số liệu, toàn những cơm áo gạo tiền như hạch toán kinh tế. Nhưng phạm vi tôi chỉ biết có vậy.


-         Không! Số liệu này nói lên rất nhiều điều, tôi đang nghe hào hứng.


-         Nói chuyện vui. Nhà lao Cây Dừa trải qua khá nhiều đời chỉ huy trưởng. Tôi chỉ nhớ năm “sáu bảy” là thiếu tá Hoạt, năm Mậu Thân là trung tá Hải, người Hà Nội di cư, năm “sáu chín” là trung tá Phước rồi đại tá Trần Vĩnh Đắc, con rể nguyên đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ và khoảng năm “bảy hai” là trung tá Bùi Bằng Dực. Giữa ông Dực và ông Phước có chuyện lằng nhằng thông qua bà Thủy. Đúng ra về đấu thầu thì ông Dực và bà Thủy là một liên doanh. Nhưng xét thấy bà Thủy thường xuyên không đảm bảo định lượng ca lo cho một khẩu phần ăn trong tù, ông Dực quyết định phạt tiền. Bà Thủy kiện lên ông Phước lúc đó đã là Tư lệnh trưởng Quân cảnh quốc gia ở Sài Gòn. Ông Phước gọi ông Dực lên tổng tham mưu ngồi chơi. Dực kiện, Phước cũng kiện. Hai bên kiện qua kiện lại, rút cục cả hai đều đi đoong. Chỉ bà Thủy ở giữa là vẫn tiếp tục cắt xén vào phần ca lo định lượng tối thiểu của anh em.


-         Cảm ơn anh Hai Nam! – Tôi đưa tay ra và dợm đứng dậy.


-         Không! – Hai Nam nâng ly rượu ngang miệng – Uống nữa đi, còn sớn mà.


-         Tôi sợ làm anh uổng phí thời gian trong khi thời giờ đối với một vị phó giám đốc xây dựng đang có quân thi công ồ ạt ở tận Cô Công Campuchia là vàng.


-         Không có chi. Cái gì nó ra cái đó. Rạch ròi. Tôi nói thiếu, anh viết không thành, tôi lại mang tiếng. Anh nắm thêm một chút về bố phòng nhà lao nghen! Cạnh bộ chỉ huy quân cảnh có văn phòng ban giám thị. Có lúc, cạnh văn phòng ban giám thị lại đặt thêm văn phòng tổng đội bình định nữa. Về sinh hoạt, trong khu trại có sân banh nhưng quanh năm hiu hắt, ai đá ai coi? Giữa tim nhà lao có con đường cụt, bề ngang rộng 12 thước gọi là đường trại giam. Đường này chỉ có xe quân sự qua lại nên cũng buồn lắm! Thoạt đầu phương tiện thông tin chưa có gì, sau “bảy mươi” Mỹ cho xây trạm ra đa ngay trên đỉnh đồi. Từ đó Mỹ mở đường ven biển chạy lên tới thị trấn Dương Đông dài 30 cây số. Trước đó, phương tiện qua lại lên xuống hầu hết bằng ghe thuyền nên nhọc nhằn lắm.


Còn chi tiết nữa: 11 khu chứa các loại tù binh nhưng trong đó chỉ có khu 2 và khu 9 là giam sĩ quan, cả sĩ quan người Nam lẫn sĩ quan người Bắc. Riêng khu 6 dành riêng cho số chiêu hồi gọi là khu “Tân sinh hoạt”. Ôi chà! Những chế độ, địa danh cũng thay đổi luôn cho phù hợp với diễn biến từng thời kỳ. Cũng như mỗi lần thay một chỉ huy trưởng là thay một cách thức cai trị mới. Ông Hải thì lì lợm, không sợ máu; ông Phước mềm mại, lấy tranh thủ nhân tâm là chính nhưng lại hiểm độc; còn ông Đắc thì rất quy lát chính quy, cứ thẳng tay thi hành mệnh lệnh thượng cấp không đếm xỉa gì tới chuyện nhân tình, nhân đạo chi hết.


 


6


 


Từ biệt Hai Nam, tự dưng tôi thấy buồn. Rút cục, câu chuyện của con người này cũng vẫn chỉ là bản nhạc dạo đầu. Chuyện anh Ba Nghĩa là dạo đầu, chuyện anh Hai Nam là dạo đầu đến chừng nào nữa? Bao giờ tôi mới tiếp cận được vào trung tâm vấn đề?


Từ đó, lúc thì ngồi sau xe Tư Dũng, lúc thì ngồi sau xe đạp của một nhân viên ban lịch sử Đảng, khi ở huyện đội, khi sang huyện ủy, khi lại lao sâu xuống xã, xuống ấp, nếu cần tôi tạm rời đảo vượt biển về đất liền, quá giang xe đò tới Cần Thơ, Sài Gòn rồi trở ngược xuống Tiền Giang. Tôi nhảy xích lô, ngồi bó giò đằng sau xe đạp ôm tìm đến Phòng bảo vệ, Phòng địch vận quân khu; đến Cục chính trị Bộ nội vụ “B”; đến Ban thanh tra thành phố, Ban kiểm tra Trung ương… Tóm lại tôi có mặt ở bất cứ nơi nào nếu nơi đó có một nhân chứng sống biết về nhà tù, về cuộc kháng chiến của quân và dân bên ngoài. Hội cựu chiến binh tỉnh cung cấp cho tôi một số tên người, anh Tám Quýt nguyên bí thư tỉnh ủy những ngày đầu đánh Mỹ cho tôi danh sách một số người rất quý giá nữa. (Rất tiếc anh Tám đã đánh mất cả một cuốn sổ tay ghi chép tỉ mỉ những câu chuyện về nhà tù này), anh Sáu Hồng, nguyên bí thư của một chi bộ trong tù, sau đó là giám đốc Viện bảo tàng tỉnh và bây giờ đã về hưu cũng cung cấp cho tôi không ít tư liệu có giá trị. Tất cả những tên người, những tư liệu này nếu có thể bám đến được là tôi đến. Có người tiếp tôi vui vẻ, có người lại lạnh nhạt thờ ơ, cũng có người cả vui vẻ lẫn cả thờ ơ. Tựu trung lại, họ ít muốn nhắc lại chuyện cũ, khi cái mới ngày hôm nay còn đầy rẫy phi lý khó khăn. Kệ! Tôi cứ làm mặt lỳ lấy kiên nhẫn làm bửu bối. Thời gian dần trôi qua, những cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên hay tất nhiên gom lại cũng đã nhiều. Nhiều nhưng càng nhiều càng thiếu. Mỗi người một cảnh ngộ, mỗi người một số phận và mỗi người một ký ức khác nhau, càng tiếp xúc tôi lại càng bị ngợp như lạc vào rừng rậm. Đúng! Câu chuyện về nhà lao Cây Dừa hoàn toàn là một khu rừng rậm. Mỗi bước đi là mỗi mịt mù rối rắm. Tôi như người thám hiểm cô đơn và liều mạng. Nhưng đã có cái la bàn trong tim và con dao phát rừng trong tay, tôi cứ bước tới.


Trong quá trình bước tới, tất nhiên tôi không thể không để xảy ra những sai sót lớn nhỏ, những tên người tên đất đôi lúc bị quên đi hoặc buộc phải quên đi vì cái chung, cái cốt lõi.


Mênh mông quá, 480 nhà giam, tôi xin được chọn 5 nhà, bốn chục ngàn con người, tôi xin lấy ra vài chục người đại diện, và lịch sử nhà tù kéo dài suốt hai mươi năm (1953-1973), tôi chỉ xin cắt đoạn tròn hai năm, hai năm cô đặc điển hình nhất, hai năm sẽ nói lên tất cả, hai năm của trước và sau “Mậu Thân” hai năm cho hai mươi năm. Rất mong sự lượng thứ nếu tôi không kể hết được mọi điều, điểm hết được mọi người.


Tức là tôi đang đi vào phần chính của câu chuyện mà bắt đầu từ anh Ba Toản.


 


7


 


Anh định cư ở Khu Tượng. Tới nhà anh lần thứ nhất, không gặp, chị Ba nói  anh về thị trấn mua ít đồ ăn, nhân tiện thăm cậu con trai cả. Tư Dũng hùi hụi phóng xe đưa tôi về Dương Đông. Anh đã lại về Khu Tượng rồi. Thế là tôi đành lội trở lại một lần nữa và gặp anh đang ở trần mặc quần cụt lúi húi bên mấy cái nọc tiêu chi chít trái.


-         Năm nay trồng tiêu không khá – Anh nói – Các năm trước người ta thu mua 3,8 đô la một ký, năm nay chỉ còn 1 đô, chán, không muốn trồng nữa.


Ba Toản đã về hưu, vườn tiêu, vườn mì xanh ngút ngát. Cái nhà tầng gia đình anh ở vốn là của người vượt biên, ủy ban xã tạm chia cho. Suối chảy sau nhà và loài chó lưng xoáy giống Phú Quốc chạy nhởn nhơ đầy sân. Nghe nói đến Ba Toản đội trưởng đặc công biệt động khét tiếng sau khi vược tù ra, một Ba Toản gốc Bắc xứ Hà Đông biết ca rành sáu câu vọng cổ, tôi cứ ngỡ anh người nhỏ con, săn rắn và mặt mày ngang tàng râu ria lì lợm. Vậy mà anh lại cao ráo, nét mặt trang nhã như một nhà giáo sắp về già. Anh năm nay đã trên năm mươi tuổi nhưng trông còn phong độ trẻ chung lắm. Về đêm trời hơi lạnh, tôi ngồi nghe anh trong sự yên tĩnh sâu thẳm. Yên tĩnh cả về mặt an ninh. Lạ quá! Đang ở những vùng đô thị bụi bặm tới đây, thấy cửa nẻo đi ngủ ban đêm không thèm đóng, thấy chiếc xe máy dựng ngoài xa hàng trăm mét cả buổi không cần khóa mà cứ ngỡ mình lạc đến xứ sở xa lạ nào.


-         Tôi quê ở Đan Phượng Hà Tây anh ạ! – Ba Toản nói, giọng không hề pha một chút âm sắc Nam bộ nào, mặc dù anh đã sống ở đây từ năm 1968 – Tôi vào Nam chiến đấu năm 1966 trong binh chủng đặc công và bị bắt vào đợt 3 tổng tấn công Mậu Thân tại chính giữa Sài Gòn. Khi đó đơn vị tôi đóng giả lính biệt động rằn ri đánh vào Bộ tư lệnh Thiết giáp. Chắc anh đã biết, vào đợt 3, sức của ta đã yếu lắm và đối phương đã lấy lại được tinh thần, dần dần mạnh lên. Quần nhau nửa ngày phân đội tôi hy sinh gần hết, chỉ còn lại ba người bám trụ ở ba phía, diệt được thêm thằng nào thì diệt còn ngoài ra là ngồi chờ đến lượt mình đi theo đồng đội sang thế giới bên kia. Chính lúc ấy, nhà bị sập. Tôi ngất đi… Khi tỉnh dậy đã thấy mình nằm còng queo trong nhà giam Hố Nai – Biên Hòa rồi.


Tôi dừng lại ở đây một chút để nói kỹ hơn về những trường hợp bị bắt và cái gọi là tù binh. Nói chung trong chiến tranh chả ai muốn bị bắt và đã để bị bắt rồi là trăm thứ rườm rà. Có người bị chết giấc như tôi, có người bị thương gãy giò, có người lại bị khui hầm mật, người này bị trực thăng chụp giữa bưng, người kia bị bỏ quên lê lết trên chiến hào, người kia nữa lại bị phục kích tóm gọn cả đội hình… Có thể kể hàng trăm ngàn các cảnh ngộ bị bắt khác nhau. Nếu gặp một ai đó không thể tất hỏi rập khuôn theo điều lệnh: “Thà chết không rơi vào tay địch kia mà! Chiến đấu ngoan cường đến giọt máu cuối cùng kia mà!” thì chúng tôi chịu cứng, biết trả lời sao? Dù muốn hay không, dù trong bất cứ cảnh ngộ hiểm nghèo nào, đã rơi vào tay địch là khó bề ăn nói lắm anh ơi! Chả lẽ đánh nhau hàng chục năm, đi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, chẳng may sắp sửa rơi vào tay địch là cắn lưỡi tự sát ư? Tất nhiên tôi biết không phải ai khi bị bắt cũng có lý do chính đáng cả. Có thể do hèn nhát, do chủ động cầu an nhưng số này không nhiều. Bị bắt rồi, bọn tôi đành lấy lời thề thứ ba: “Nếu bị địch bắt, dù trong trường hợp nào cũng giữ vững khí tiết là chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam… Quyết không cung khai phản bội” làm điều an ủi về danh dự vậy.


Tôi nói tiếp. Tôi bị giam ở Biên Hòa trong trung tâm hỗn hợp Việt – Mỹ ba tuần. Thấy anh em mình bị bắt ngày một nhiều biết cuộc tấn công bên ngoài đã tạm lắng. Buồn lắm và rộn lên không ít những suy nghĩ khác nhau. Tại đây tôi bị hỏi cung ít thôi nhưng đã bắt đầu bị đánh đập cẩn thận. Kẻ hỏi cung tôi là một trung úy còn trẻ nhưng đôi mắt cứ ánh lên cái sắc lạnh như chì. “Mày có biết chúng mày phạm tội gì không?”. Chưa kịp trả lời, đánh! “Chúng mày đã giết chết một đại tá chỉ huy trưởng của tụi tao. Hình đây!”. Chưa kịp nhìn hình, đánh! Đánh cho đã, đánh không phải để moi thêm tin tức như tù chính trị, như những cán bộ xã, huyện, tỉnh, những cơ sở nằm vùng, nội gián rơi vào tay chúng. Tù binh đánh trận hàng ngang, súng đạn ầm ào biết gì mà khai và số lượng tù nhiều thế, moi tin từng người thì thời gian đâu cho đủ. Tất nhiên bọn hỏi cung này thuộc an ninh quân đội chứ không phải cảnh sát tổng nha. Đã là lính tra hỏi nhau thì lấy võ biền để đánh đòn thù, đơn giản vậy thôi. “Các anh hành quân đường nào vô đây. Đơn vị các anh là đơn vị gì? Có bao nhiêu người? Ai chỉ huy? Căn cứ chúng mày ở đâu? Hãy nói vị trí kho gạo, kho vũ khí ở cụm rừng nào?…”. Lúc kêu anh, lúc gọi mày loạn xạ. Tất nhiên tôi chả dại gì mà nói. Nói một, chúng đánh hai để moi nữa nên toàn bịa, bịa hết, bịa cho hợp lý, bịa cả tên tuổi, quê quán, chức vụ cấp bậc và phiên hiệu đơn vị. Nói chung không ai bảo ai mà đều nhất loạt khai hạ cấp bậc của mình đi. Sĩ quan khai hạ sĩ quan. Hạ sĩ quan khai chiến sĩ, càng nhỏ càng tốt để mong chúng ít để ý, ít thù. Nhưng ngay cái này cũng có khi đúng khi sai, lát nữa tôi sẽ nói. May! Nếu chúng biết tôi là dân đặc công thì mệt lắm, sẽ tìm mọi cách để trả thù, thậm chí bí mật thủ tiêu. Buồn nhất là bị bắt những ngày ấy phần lớn lại là dân đặc công. Đánh sâu vào ngõ ngách đô thị còn ai thiện chiến hơn sắc lính này nên bị tóm cũng khá. Nhưng vì là tù binh đặc công nên khi ra Phú Quốc, anh em mình cũng làm được khối trò mà tôi sẽ kể cho anh nghe sau.


-         Trường hợp khai tên giả là chỉ riêng anh hay hầu hết anh em mình? – Tôi buột hỏi khi chợt nghĩ đến tên người chồng của chị ấy.


-         Tất cả. Tất cả đều mang tên giả. Nói tên thật, chúng lần tìm lung tung hoặc cho lên máy bay chiêu hồi, cho lên đài phát thanh “Sinh Bắc tử Nam”. Vợ con nghe thấy thì sao.


“Thế là tan tành hy vọng để hỏi một cái tên “Quang” thật trong hàng chục ngàn cái tên giả đó” – Tôi buồn bã nghĩ.


-         Nhưng cũng có người mang tên thật, cấp bậc thật, ví dụ như bị bắt mà có giấy tờ trong người hoặc có ai đó nhận mặt phát hiện ra. Cái gọi là “ai đó” là cả một vấn đề bi kịch đau lòng và phẫn uất mà tôi không thể nói gọn một câu coi như xong được.


Sau ba tuần, tôi cùng hai trăm người nữa được đưa ra sân bay, dồn tất cả lên chiếc C130 hình dáng giống con cá nóc có chửa. Mấy mươi phút sau, chiếc máy bay hạ cánh nặng nề xuống một vùng hoang hóa nhìn đâu cũng thấy một màu núi rừng ảm đạm. Lúc ấy chưa ai hay đó là Phú Quốc, cứ nghĩ rằng chúng đưa mình ra Côn Đảo hay lên một miền sơn cùng thủy tận nào đó.


Đang hoang mang thì tôi bỗng tá hỏa tam tinh vì một cú dùi cui bổ thẳng cánh xuống giữa đỉnh đầu. Gượng dậy được nhìn ra tôi mới chợt thấy tất cả mọi người đều bị nện như thế. Nện ngay tại sân, nện ngay giữa sự ngơ ngác của con người. Đó là đòn phủ đầu, đánh cho biết mặt. Chúng thường áp dụng với một đợt tù mới tới. Cú phủ đầu này thâm độc lắm! Ai nhát gan có thể quỵ ngay hoặc tinh thần ý chí bị vỡ một mảng lớn.


-         Đánh chơi một chút để chúng mày hiểu rằng chúng mày đang sống ở đâu, đang ở dưới bàn tay cai trị của người nào, hả?


Một tên đại úy còn trẻ nhưng râu ria đầy mặt, nói giọng Bắc mà sau này mới hay hắn là thằng Hiểu râu xồm ác ôn khét tiếng, chạng chân rít giọng nói với chúng tôi đã đương xếp thành hàng.


-         Đây là đảo Phú Quốc, chúng mày nghe rõ chưa? Phú Quốc, hòn đảo hoang cách đất liền hàng trăm ki lô mét, xung quanh chỉ toàn cá sấu, rắn rết và mìn trái của Quốc gia, thằng nào muốn trốn cứ việc trốn, xin mời. Trốn được, sẽ trọng thưởng thêm – Hắn cười nhạt – Vào đây chúng mày chỉ còn hai cách: Tuyệt đối ngoan ngoãn tuân theo mọi quy định của nhà lao hay là chết, chết thê thảm, chết không toàn thây.


Nhớ kỹ chưa, bọn phiến cộng! Thực chất bọn mày chỉ là loài giặc cỏ phiến cộng đáng tội nghiệp!


Bất ngờ có một chiến sĩ trẻ từ trong hàng bước ra, quắc mắt nói lớn bằng chất giọng miền Trung:


-         Chúng tôi không phải là phiến cộng. Chúng tôi là tù binh chiến tranh. Yêu cầu ông đại úy không được miệt thị tù binh, đề nghị theo đúng công ước Giơnevơ về đối xử với chúng tôi: không hành hạ, không trả thù, không được lăng mạ…


-         Hả? Cái gì? – Tên Hiểu ớ ra một giây rồi lại cười gằn – Tù binh chiến tranh hả? Ngon đó. Mày tới số mày rồi! Tội nghiệp đời mày chưa từng nghe tới tên Hiểu cọp – Hắn đột ngột thét lên – Đến gần đây! Đến!


Người trẻ tuổi này chưa kịp phản ứng gì thì hắn đã sải giò bước tới, cây gậy đầu bịt đồng trong tay hắn vung lên. Rắc!… Tôi chỉ thấy anh này bụm chặt lấy miệng rồi loạng choạng ngã ngồi xuống. Khi anh bỏ tay ra, chỉ thấy cả một mồm máu và tại chỗ răng cửa đã bay đi đâu hai chiếc, chỉ còn lại một cái lỗ đen ngòm sủi bọt đỏ. Trước cảnh đó, một số người trong đó có tôi uất ức không chịu nổi đã nhào ra định ăn thua với nó nhưng không kịp. Một loạt súng từ trong tay tốp quân cảnh từ đầu đứng lầm lì đã vang lên xé tan không khí u ám. Ba người ngục xuống, giãy đạp một hồi rồi nằm im.


Tên Hiểu gõ gõ cái đầu can vào lòng bàn tay:


-         Thế nào! Đã vào đây tính mạng của chúng mày rẻ không bằng con rệp. Liệu đấy! Điên lên tao có thể ngay bây giờ cho tất cả chúng mày về chầu ông vải hết. Nào! Thằng nào muốn nói gì nữa! Nói!


Đám đông im phăng phắc. Nhìn cái mặt cô hồn của hắn đỏ lòm ma quái thế kia là biết hắn không đùa.


Chúng tôi nuốt giận, đành bất lực. Không ngờ chúng chơi dữ như vậy! Vốn là dân lính chiến đã quen trận mạc và hiểm nguy, bây giờ đành đứng đó để cho kẻ thù đánh đập và chửi rủa như đánh đập lũ con nít, nhục lắm! Nhục thấm thía mà không làm gì được. Đây cũng là bài học xương máu đầu tiên chúng tôi phải trả để dần dà tìm ra cách ứng xử hữu hiệu trong ngục tù. Chao ôi! Giá lúc ấy có một cây súng, chỉ một cây thôi… Cạnh tôi, người tù trẻ tuổi bị thọc gãy răng âm thầm để rơi ra hai giọt nước mắt bất lực!


-         Anh ấy tên là gì? Bây giờ ở đâu? – Tôi hỏi vồ vập.


-         Không rõ nhưng nghe tiếng nói, biết người Trung, mạn Bình Định gì đó. Đẹp trai, vạm vỡ, cằm vuông, mắt rất sáng, chừng hai mươi tuổi, tôi chỉ nhớ có thế. Bây giờ cũng phải trên bốn mươi rồi.


-         Dạo đó các anh không được giam chung với nhau à?


-         Không! Chúng xé lẻ từng tốp hai chục người đưa về từng phân khu khác nhau. Tôi về trại Đ7, còn anh ấy và một số anh em khác được coi là cứng đầu bị đưa về khu biệt giam. Mãi một thời gian sau tôi mới gặp lại anh ấy trong phòng biệt giam… Toàn nhà tù có một khu dành riêng cho biệt giam, cách hơi xa các khu khác một chút và tùy theo từng khu, từng phân khu có vấn đề chúng cũng dựng trại giam đặc biệt riêng. Sau đó, tôi mới hay khu của tôi cũng thuộc loại biệt giam. Nói chung biệt giam hay không biệt giam đối với chúng nó là tùy hứng lắm, chẳng có phân biệt gì rõ ràng.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà lao cây dừa. Ký sự của Chu Lai. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »