tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
30.07.2013
Chu Lai
Nhà lao cây dừa (3)



Sau này bắt được liên lạc, tôi nghe anh em kể lại mà rùng mình. Ta hầu như mất căn cứ, mất cả dân. Sáng tỉnh dậy đã thấy biệt kích xuất hiện ngay sau lưng mình. Chúng có mặt trên cả những triền núi, những cụm rừng xưa nay là bất khả xâm phạm. Chúng ruồng bố hết đợt này đến đợt khác, chúng bắn pháo cối vào nương rẫy, trâu bò, chúng phong tỏa ấp chiến lược. Ta không có đạn, có gạo, hàng tháng trời chỉ ăn toàn củ chụp củ nầng. Khái niệm say nầng đã đi vào lịch sử. Loại củ này đắng, nhiều nhựa, phải ngâm hai ba nước, ít nhất là một tuần mới có thể ăn được. Nhưng đói quá, ngâm chưa đủ kỹ đã bốc lên ăn. Vậy là say, say điên đảo, chân tay bủn rủn như chân tay của ai lắp vô. Đang say nầng, tàu địch đổ bộ, chỉ còn cách bò lê bò càng tìm đường chui vô bụi.


Lại ngã lòng, lại chiêu hồi. Chiêu hồi thành cấp trung đội do hai anh em ruột gốc Hoa tên Dì và tên Đôn chỉ huy. Trung đội thám báo này do Mỹ trả lương và trang bị đánh quật trở lại ta rất tàn độc. Ở đâu cũng vậy, kể cả ở trong tù, kẻ chiêu hồi bao giờ cũng là kẻ tàn độc nhất. Từ trong ruột ta đi ra rồi đánh trở lại thì làm sao không trúng ! Chúng đánh vào căn cứ mật vào các gia đình cách mạng, vào các cơ sở nội gián gây khá nhiều tổn thất. Anh Hai Phi lúc đó là bí thư thị trấn Dương Đông đã trực tiếp móc ráp và giáo dục được một người tên là Quân trong số đó nhưng chỉ giết được tên thiếu úy Tứ, đại đội trưởng ác ôn, còn trung đội thám báo nguy hiểm kia vẫn tồn tại. Tồn tại qua Mậu Thân. Mãi sau này, khoảng năm “sáu chín”, do hành vi cả trung đội đi càn cưỡng kiếp một chị và chị này lại có thân nhân làm quan chức ở Sài Gòn, vị quan chức này phát đơn kiện, chúng buộc phải giải tán trung đội. Hai anh em Dì và Đôn bị điều về vùng chiến thuật một và chết tại đó.


Nói chuyện này để anh thấy không khí ở đảo lúc đó căng thẳng và ngột ngạt như thế nào. Nếu trước đây ta bám được đất được dân, biến vùng giáp ranh thành vùng an toàn thì nay vùng an toàn lại trở thành vùng giáp ranh, và vùng giáp ranh thành vùng của địch. Bên cạnh nhà lao Cây Dừa khổng lồ, ngay trong quận, chúng cũng thiết lập nhà tù kêu bằng B4. Số tù nhân cũng ngày một tăng lên. Vậy là nhà tù nằm cạnh nhà tù. Lực lượng ta do anh Năm Nhất tạm quyền thay anh Bảy Kiên lãnh đạo mặc dù kiên cường bám trụ, mặc dù đánh trả lại địch được ở mức tiêu hao nhưng buộc phải lùi dần từng thước đất. Và chưa biết lùi tới đâu nữa!


Đúng lúc đó tỉnh ủy quyết định cử một đoàn cán bộ mở đường máu ra đảo. Phải cứu lấy đảo! Khẩu hiệu này trở thành lương tâm và nỗi ám ảnh của tất cả bà con trong đất liền. Tỉnh nhận định rằng, sở dĩ không một người nào từ đảo ra đất liền được, ngoài lý do bờ biển bị phong tỏa còn một lý do nữa là chưa nắm được tình hình Campuchia ra sao. Campuchia năm đó bắt đầu lộn xộn, kẻ xấu, người tốt lẫn lộn, bọn Lon Non đang tập hợp lực lượng, ta không biết cứ cắt qua có khi lại rơi vào tay kẻ thù khác. (Nếu tính đường chim bay thì từ Bắc đảo đến một hòn đảo gần nhất thuộc đất K chưa đầy bảy cây số. Gần lắm). Do đó, ở tại đất liền sẽ nắm rõ được tình hình K hơn mà chủ động cắt ra.


Tôi xin đi. Anh Tám Quýt là bí thư Tỉnh ủy ngần ngại: “Anh là phó bí thư tỉnh, có nên mạo hiểm vậy không?”. “Chính vì là phó bí thư nên tôi càng phải đi. Nếu khôn khéo thì không có gì mạo hiểm đâu”. Tôi trả lời vậy, anh Tám chấp thuận, bởi lẽ chuyến đi này không đơn thuần chỉ cần một trinh sát viên thông thạo và táo bạo, điều quan trọng hơn là cần một người có khả năng chỉ đạo tình hình Phú Quốc ngay tại chỗ để chuyển kịp tình hình. Anh nhớ đó là những ngày giữa năm “Sáu bảy”, những ngày toàn miền Nam bí mật chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công Mậu Thân. Tất nhiên những ngày này tỉnh ủy chúng tôi chỉ láng máng hiểu rằng, sắp tới sẽ có một cái gì trấn động lớn lao đây chứ cụ thể ra sao thì hoàn toàn còn nằm trong phán đoán.


Vào tháng 6 năm 1967 tôi bắt đầu triệu tập “binh mã”. Chủ yếu tuyển chọn người trong đội phòng thủ, chọn một số cán bộ quân sự vốn là dân đảo chính gốc và đồng chí Hai Hiến tức Phan Đình Thâm, nguyên bí thư Phú Quốc thời đánh Pháp nay là ủy viên binh vận tỉnh.


Vì anh có ý muốn biết nên tôi kể sơ qua những tên tuổi thành viên trong đoàn, những thành viên này trải qua cuộc chiến tranh trên các địa bàn nay chỉ còn phân nửa sống sót.


Một, phía quân sự vốn là dân đảo có Sáu Cảnh, đại đội trưởng đặc công tỉnh, người gốc Campuchia có vợ là dân Phú Quốc. Vai trò của Sáu Cảnh trong lần đi này rất nổi bật. Có Hai Phong, cán bộ trung đội pháo, có Tư Cơ và Sáu Thọ, quân y sĩ phẫu thuật và y tá gây mê.


Hai, phía đội phòng thủ có Út Thắng, tiểu đội trưởng; Tư Bình bảo vệ; Công, điện đài; mang theo một vô tuyến điện 15W, tức là mang theo một nguyện vọng, một quyết tâm của tỉnh ủy từ nay quyết không để đảo phải mất liên lạc. Và cuối cùng là một tổ bảo vệ.


Nhằm ngày trăng lên, cả đoàn hành quân cắt rừng đến Hà Tiên (phía trong Thạch Đông) và tập kết ở sát biên giới K. Đoàn sẽ dừng lại ở đây ít ngày để nắm tình hình và xây dựng cơ sở. Tình hình địch, tình hình nội bộ bạn thế nào chưa rõ, không thể cứ lùi lũi đi ra biển được. May mắn gặp anh Sáu Đặc, cán bộ hậu cần khu 9 đang nằm ở đây để tiếp nhận vũ khí ở ngoài vô. Sáu Đặc giới thiệu Lâm Văn Lến, nguyên bí thư xã Bãi Bồn của Phú Quốc trước đây, chị vợ là người Campuchia, hai vợ chồng đang sống ở thị xã Cam Pốt. Lâm Văn Lến giới thiệu tiếp hai anh em anh Chống vốn người Phú Dự thuộc Cam Pốt nhưng đã liền kề Phú Quốc rồi. Tôi trao nhiệm vụ cho mấy người này lập trạm liên lạc và đưa đón, tiếp nhận, đưa luôn tiền sắm tàu máy, lưới cá để ngụy trang kết hợp làm ăn.


Đồng thời triển khai cho anh em làm kho chứa vũ khí. Thời kỳ này sắp đánh lớn nên vũ khí vô nhiều lắm, chúng tôi muốn xin chừng nào có chừng ấy, lại toàn vũ khí xã hội chủ nghĩa nắm vô mát cả tay.


Vậy là ở điểm tập kết hết nửa tháng. Bước đầu vậy là tạm ổn: Có kho tàng, có cơ sở và có ghe thuyền. Sắp lên đường thì đột ngột gặp anh Mười Khẩn, bí thư khu 9 và anh Đồng Văn Cống tư lệnh đi họp ở “Rờ” về tại trạm hậu cần Sáu Đặc. Biết tin đoàn sắp mở đường sinh tử ra đảo, hai anh tỏ ý hoan nghênh nhưng khuyên tôi: “Làm vậy là trúng, không cản nhưng nên cử người khác, anh không nên đi “Tôi trả lời: Cũng biết vậy, nhưng tôi là người Phú Quốc, đường ngang ngõ tắt trên đất, trên biển lại thông thuộc, tôi đi chắc ăn hơn”. Hai anh nói: “Cứ điện về cho anh Tám Quýt coi sao. Nói đây là ý kiến của Bí thư và Tư lệnh khu. Tình hình sắp tới…”. Hai anh không nói hết nhưng qua đó tôi dự cảm thấy có điều gì thật hệ trọng đang chờ ở phía trước. Về sau tôi mới rõ hai anh vừa đi nhận lệnh tổng tiến công Mậu Thân ở “Rờ” về và có ý không muốn cho tôi mạo hiểm trong một nhiệm vụ có tính chất cục bộ. Tôi điện ngay cho anh Tám. Anh trả lời: “Quyết định đã thông qua Thường vụ Tỉnh ủy, không thay đổi nữa nhưng căn cứ vào ý của trên, đồng chí xét thấy chắc ăn trăm phần trăm thì đi, không thì thôi, tùy!” Tôi lại điện lại: “Tình hình này không ai có thể bảo đảm trăm phần trăm được. Nhưng tôi tin chắc là sẽ đi được và tôi quyết định đi”.


Tôi trao cho anh Hai Hiến nhiệm vụ ở lại tiếp tục nhận vũ khí và khi đường dây nối được sẽ chuyển ngay ra đảo.


Cung đường phải đi là Hà Tiên – Phú Dự – Phú Quốc. Nếu bình thường thì cung đường này lội vô cũng tới. Chúng tôi dự tính đầu hôm sẽ bắt đầu xuất phát từ bờ biển Hà Tiên để mờ sáng đến Phú Dự là vừa. Tới Phú Dự sẽ ém lại đã, rồi nắm tình hình tính đường đi tiếp. Nhưng bữa ấy trời nổi sóng, mãi nữa đêm mới tới được điểm xuất phát, nên chưa tới vùng biển thị xã Cam Pốt đã ló đuôi, đành dừng lại chịu một ngày, anh em mình ém dưới khoang tàu, cứ cho tàu chạy tới lui như đánh cá thường ngày.


Tình hình bạn lúc này đã bắt đầu lộn xộn, lực lượng Lon Non đã nổi lên hoạt động ở một số nơi nên không coi thường được. Ban ngày chúng tôi chui xuống khoang ém, nóng hầm hập, ghe lúc đậu lúc chạy ráng tỏ ra ghe làm ăn bình thường. Ngày đó trôi qua suôn sẻ. Xế chiều tiếp tục mở máy. Ghe chạy men theo bờ biển chừng 30 cây số thì đến Phú Dự khoảng 8 giờ đúng như dự kiến.


Tối đó, chúng tôi tìm đến nhà cơ sở. Rủi đụng thằng trưởng ấp người Campuchia không tốt ở đó nên buộc phải trở lại ghe ém hết một ngày một đêm. Tối sau nữa, tất cả dời vô trạm trong rừng. Vậy là hết giai đoạn một.


Giai đoạn hai là giai đoạn trinh sát. Chiều chiều chúng tôi chạy xuồng máy ra Hòn Nần ngoài quan sát về Phú Quốc. Hòn đảo thân thuộc lúc đó chỉ cách chúng tôi không đầy bốn cây số nên nhìn rất rõ. Nhìn thấy rõ cả lực lượng hải thuyền, pho ca, tàu sắt giăng kín phía bắc đảo. Trời sập tối cũng là lúc máy bay quần qua quần lại bỏ trái sáng, kết hợp với hàng loạt đạn vu vơ từ trên tàu xả ra. Bỗng dưng thấy ruột gan đau thắt! Đằng sau cái hàng rào tử thần kia là bà con anh em mình đang rên xiết không biết chết sống ra sao? Là nhà lao Cây Dừa ảm đảm mà ngồi ở tận đây dường như cũng nghe thấy tiếng anh em la hú, đau đớn trong cơn tuyệt vọng. Hỏa châu vẫn bay lên bay xuống như ma trơi…


Tôi hội ý với anh Sáu Cảnh lên phương án vượt biển. Là một cán bộ đặc công kỳ cựu, Sáu Cảnh đưa ra nhiều cách thức táo bạo rất nhà nghề, như lựa lúc bất ngờ, ta cứ đâm thẳng tàu vào khe hở giữa đội hình phong tỏa rồi nhảy đại lên bờ, cho ghe trở ngược lại ngay. Nhưng gút lại, vẫn phải tuân theo phương án an toàn bí mật mới chắc ăn. Phương án đó là bỏ ghe máy, chuyển sang chèo xuồng tiềm nhập bờ từng bước. Đã cấp tốc cho đặt mua hai chiếc xuồng, hai cặp chèo đôi có bánh lái. Nhưng lúc ấy một khó khăn lại nảy ra: Chèo thì tốt đó nhưng chỉ tốt với biển êm, biển động sóng to e xuồng sẽ bị chìm. Chờ biển êm ư? Sẽ đụng trăng, mục tiêu lồ lộ ra hết. Còn chờ trăng lặn ư? Biển bao giờ cũng thường động. Hướng nào cũng kẹt, được cái này mất cái kia. Sau đó có một ý kiến rất hay: Cứ đi trong biển êm, trăng sẽ trở thành đồng minh, trăng sẽ làm cho địch chủ quan lơ đãng, ta sẽ đi vào ngay cái kẽ hở lơ đãng ấy của chúng, chiến tranh nhân dân mà, cứ khi nào vô cuộc, mọi sáng kiến kỳ diệu sẽ được nảy sinh hết sức bất ngờ. Vậy là quyết định. Muốn vậy phải kiên trì quan sát để nắm chắc quy luật hoạt động của địch. Mất thêm chục ngày nữa! Ruột gan nóng như lửa, nhưng đâu có đốt cháy giai đoạn được. Đặc công nước lúc ấy ta lại chưa có nên tất cả đều phải dùng bằng mắt, bằng lòng dũng cảm dám chịu chơi ăn thua với đối phương.


Trăng tỏ dần. Đúng như dự đoán, trăng càng tỏ, hàng rào phong tỏa của chúng càng thưa. Thời cơ đã đến. Đoàn quyết định đúng trăng mười bốn sẽ bắt đầu hành quân, hành quân chia hai đợt, đêm trước và đêm sau. Đêm trước là tổ của Chín Thọ, Tư Bình và Phong đi trinh sát mở đường.


Ghe máy dắt xuồng của tổ này ra Hòn Nần ngoài thì dừng lại. Sáng ra họ dìm xuồng xuống chân Hồn Ruốc hoang rồi lên bờ chém vè. Gần tới, lắc xuồng, lợi dụng hải phận thuộc quyền của bạn nhong nhóng chèo men ra… Trời vừa tối là chỉnh mũi xuồng vọt nhanh… Ngồi ở nhà, thấy êm hồi lâu, không có tiếng súng nổ là mừng, biết thoát. Sau này tổ trinh sát kể lại đêm đó chỉ có một chiếc tàu án ngữ ở gần bờ, anh em ngậm tăm vượt qua ngon lành, ít phút sau đã có mặt tại điểm chốt Gành Dầu.


Đêm sau, toàn đoàn cuốn tém đi hết theo cung cách cũ. Cũng dựa theo hải phận K lấn ra hết mức để căng mắt bắt tín hiệu đèn của tổ trinh sát. Theo hiệp đồng, nếu thuận lợi thì bấm tín hiệu xanh (đèn pin bọc giấy mủ màu xanh), trục trặc thì không bấm. Trời tối một lúc, từ phía Gành Dầu bỗng lóe lên một chớp đèn. Tôi ra lệnh: “Tất cả chuẩn bị! Đèn chớp lần hai là nhằm bờ vọt nhanh!” Đèn chớp nữa. Bơi chèo bắt đầu hối hả khoét sâu vào nước… Tức cười! Nhìn thấy gần mà chèo cả tiếng không tới, càng chèo càng nhìn thấy mênh mông sóng nước như đang đi lạc hướng. Tôi động viên: “Ráng lên! Chỉ mươi mười lăm phút nữa sẽ qua vùng nguy hiểm, sẽ vượt qua tầm quan sát lần vô sau lưng nó!” Nhưng cả nửa giờ đồng hồ trôi qua mà chèo hoài vẫn không tới. Chợt thấy một khối đen lù lù như cái nhà án ngữ ngay trước mặt. Tàu địch rồi! Tôi dặn nhỏ. “Chèo chậm lại! Nếu nó phát hiện ra, không chèo nữa, nằm cả xuống sạp. Cần thiết nhấn chìm bớt ghe thu nhỏ mục tiêu, người nhảy xuống đeo be chịu. Nếu nó nổ súng, chèo sáp lại, đánh vỗ mặt. Vũ khí chuẩn bị sẵn sàng. Đánh không lại, theo lệnh tôi nhảy xuống, bỏ. Riêng tài liệu buộc vô đá, sẵn sàng nhấn chìm” nhưng rất may, chiếc tàu sắt như thằng đui, không nhìn thấy gì hết. Mười lăm phút sau xuồng cặp bờ.


Gặp tổ trinh sát. Xúc động ôm nhau như cả chục năm mới gặp. Dìm xuồng, xóa dấu vết kỹ rồi lên triền núi kiếm nơi khuất nấu cơm ăn. Chao! Cơm ăn với cá khô sặt thôi mà sao ngon lạ! Ngon như chưa bao giờ được ăn một bữa cơm ngon lành như thế. Cơm xong trời ràng rạng sáng. Nhìn ra cảnh sắc xung quanh bỗng trào nước mắt. Phú Quốc thật đây rồi, đang ngồi giữa đất rừng Phú Quốc thân yêu đây! Mới đó với đó mà đã bảy, tám năm xa cách. Gió rừng lao xao trên đầu. Những con rạch phía dưới đang đổ nước ra đại dương. Những rạch ứ đầy phù sa. Mưa đổ xuống, cửa rạch mở ra thông thoáng chan hòa với biển cả… Anh Năm Trì kể đến đây thì có người vào báo Trung tướng Ba Trung, Tư lệnh quân khu 9 cùng với thượng tướng Nguyễn Chơn, Phó Tổng tham mưu trưởng vừa đi trực thăng tới, hiện đang nằm ở huyện đội, có ý gặp đồng chí bí thư.


-         Không sao! – Anh năm cười nói – Tôi đã được báo trước và cũng đang có ý muốn gặp mấy ảnh. Chà! Hòn đảo xa đất liền hơn trăm cây số hồi này được Trung uơng chú ý dữ! Tôi kể sắp tới hồi chót rồi, kể tiếp nghen! Tức là trên đường tìm đến căn cứ huyện ủy ở Khu Tượng, tôi mới thấy hết cảnh tàn phá tiêu điều của đất rừng Phú Quốc. Đất toàn vương vãi cơm sấy, vỏ đạn của lính ngụy, rừng bị xé nát ra, lờm lợm mùi nồng tanh của diêm sinh trộn lưu huỳnh. Anh Du Quang Trứ (bí thư xã) ra đón chúng tôi mà nước mắt lưng tròng. Đi một thôi nữa, gặp Nam Sĩ, Ba Lon – những người đứng mũi chịu sào chỉ huy lực lượng võ trang những ngày ác liệt qua. Hai anh mừng quá, ôm chặt chúng tôi, nhảy dựng: “Mong mấy anh như hạn mong mưa. Theo lẽ tụi tôi phải về tỉnh mà tỉnh lại chủ động ra được”. Tôi cũng trào nước mắt, nắm chặt tay anh Năm Nhất, người tạm thay thế anh Bảy Kiên phụ trách huyện ủy: “Tỉnh hiểu! Tỉnh ủy rất hiểu các đồng chí đã trải qua những khó khăn như thế nào. Bây giờ ra đây, thấy các đồng chí bệnh đau, ốm yếu, gạo đạn không có, lực lượng teo tóp cũng buồn nhưng lại rất mừng khi thấy các đồng chí vẫn đứng vững. Chỉ tức tôi không thể ra sớm hơn được nữa”.


Những ngày sau đó tôi được anh em rất quấn quýt, hỏi han trò chuyện đủ điều và nấu cả chè đường bồi dưỡng cho nữa. Tôi nói vui với anh Hai Ngáng (Du Công Trứ): “Thì ra không phải chỉ có cán bộ của Phú Quốc mỗi lần lên tỉnh là được cưng mà người của tỉnh ra Phú Quốc cũng được chiều không kém”. Chẳng dè mấy bữa sau, chính đồng chí Hai Ngáng này bị biệt kích mò vô tận bến tắm bắn nát một bên tay…


Ngay ngày hôm sau, tôi triệu tập huyện ủy bất thường để xốc lại phong trào. Khẩu hiệu hành động “Luồn sâu, bám trụ bung ra chiến đấu và công tác” đưa ra được toàn thể anh em nhất trí. Hai bữa sau bộ phận của anh Hai Hiến cũng mang hàng về tới.


Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh, người dân Phú Quốc có cây súng xã hội chủ nghĩa cầm trong tay, phấn khởi lắm! Tôi nói anh Sáu Cảnh mở ngay lớp huấn luyện kỹ thuật đặc công cho bộ đội.


Bộ đội huyện lúc này chỉ còn trên dưới ba chục tay súng đang trong trạng thái phòng thủ thụ động. Làm việc với các đồng chí trong ban chỉ huy huyện đội, tôi nói: “Dù hoàn cảnh nào cũng không được nằm im. Bài học lịch sử đấu tranh cho biết ta càng nằm im, địch càng lấn tới, cho nên từ bữa nay, tôi đề nghị một đợt chồm lên đánh trả địch, đánh ngay vào sào huyệt, nơi xuất phát những đợt hành quân của chúng”.


Mở đầu là trận phục kích đại đội biệt kích ác ôn số một ở Bãi Xép Ông Lang. Sau đó thừa thắng đánh luôn trường huấn luyện sân bay và dứt điểm đoàn bình định.


Nhưng trận phục kích không thành do đụng ghe dân bị lộ đành rút về. Chuyển sang mục tiêu trường huấn luyện cũng bể bạt nốt do rà đi rà lại cự ly đã để lỡ thời cơ, bọn biệt kích thọc trước vô căn cứ ta (Hai Ngáng bị thương lần này) nên lại rút về. Không nản, bộ đội tấp sang nghiên cứu bọn bình định. Thời gian khẩn trương nên vừa hành quân vừa lên phương án, đến nơi cập rập thế nào lại bị lộ, vậy là lẹt đẹt nổ vài phát không đầu không cuối rồi cha con lại rút. Đã đánh không được mà lại còn để lộ vũ khí mới.


Đau quá!


Đúng lúc ấy, tôi nhận được điện anh Tám Quýt gọi về tỉnh ngay. Nóng ruột quá! Tôi điện lại: “Đang siết đội ngũ, xin ở lại thêm đánh được một trận ngon lành rồi sẽ về”.


Không chờ anh Tám có ưng thuận hay không; tôi gom ban chỉ huy huyện đội lại nhận định: “Ta để lộ lực lượng mấy trận rồi, nhất định địch sẽ chủ động phản kích, phải khẩn trương phân tán bộ đội thọc sâu đánh lẻ, áp sát nó mà đánh. Đánh thật bất ngờ”. Thực tế chứng minh nhận định và chuyển phương châm tác chiến là đúng. Chỉ mấy bữa sau ta dứt ngon một chiết xe Jeep ở Gành Gió, tiếp tới úp gọn năm thằng ở suối đá… Địch bắt đầu núng thế và co lại. Vậy là tới luôn. Đánh hẳn một trận công sự vững chắc cho kẻ thù biết mặt. Đội đặc công vừa được Sáu Cảnh huấn luyện còn nóng hổi ra quân trận đầu. Đồn Hàm Ninh bị bứt cái rụp! Có thể nói từ trận công đồn bán mật tập này, đảo mới chính thức hình thành thủ đoạn chiến thuật đặc công và sau này được thêm sự trợ lực quan trọng của anh em ở tù ra, đã liên tục phát huy chiến quả cho mãi tới hòa bình.


Vậy là xong. Tôi tạm biệt anh Hai Hiến (có quyết định ở lại làm bí thư), kéo bộ sậu ra về. Đường trở vô là đường đi trong ruột kẻ thù ra nên tiến triển ngon lành. Đó cũng là chuyến đi mở đường cuối cùng của tôi ra với Phú Quốc. Còn chuyện Phú Quốc chủ động nghe đài, nghe radio để nổi dậy đợt Mậu Thân sau đó hai tháng ra sao rồi chuyến đi của chúng tôi liên quan mật thiết đến nhà lao và anh em tù trốn trại như thế nào, anh có thể hỏi chuyện các anh Ba Lon, Năm Sĩ, Hai Hiến, Tư Tâm… Tôi phải ra với mấy ông tướng một chút, kẻo họ lại chờ.


Chia tay đồng chí bí thư tỉnh ủy, tôi tính ngược đường lên căn nhà anh Ba Toản chuyện trò một đêm nữa cho trọn vẹn câu chuyện vượt tù nhưng anh Sáu Ái, phó chính trị huyện đội ngăn lại:


-         Ổng lên rẫy rồi! Một tuần mới về. Mùa này làm ăn thất bát mấy ổng đưa nhau lên rẫy trồng mì, trồng lúa thêm. Tôi sẽ cho người đưa ông lên nhà ông Hai Hội. Ông Hai này là người chỉ huy phân đội đặc công đầu tiên của đảo khi ông ở tù ra.


Tôi gật đầu liền. Thêm được nhân chứng sống nào là tốt chừng đó, huống hồ đây là người gắn bó máu thịt với cuộc kháng chiến của quân dân Phú Quốc. Và điều quan trọng hơn là tôi đang thiếu một nhân chứng trong trại tù khu sĩ quan trong khi mới chỉ có một nhân chứng khu hạ sĩ quan là Ba Toản.


Ngồi sau chiếc honda đen của cậu thiếu úy lái xe trẻ măng có lối đi dữ dội, tôi băng lên nhà ông Hai Hội.


Ông có nhà, đang rào lại mảnh vườn trồng đu đủ. Ông Hai đã già lắm, dáng đi dáng đứng không còn dấu vết gì của một sĩ quan đặc công năm xưa. Ông không vào chuyện ngay mà dẫn tôi đến một hồ nước có bồn cỏ ở giữa.


-         Hồ Gươm đó – ông nói – Giọng Bình Trị Thiên nặng và ấm – Tôi định thiết kế một cái hồ Gươm nho nhỏ ở đây, sẽ có đủ cả Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc để tưởng nhớ lại Hà Nội, nơi trước khi vô Nam chiến đấu, tôi đã lặng lẽ ngồi bên nó ba đêm liền vì biết đâu đây là chuyến đi xa cuối cùng không gặp lại nữa! Tôi lầm lũi làm một mình suốt hai năm liền, đáng lẽ xong rồi nhưng… gia đình có sự cố nên cuộc đời cũng dở dang mà Hồ Gươm cũng mới vỡ vạc.


Ông khẽ thở dài, mắt hơi tối lại. Nhìn một người già thở dài nghe rầu lòng lắm nên tôi không có ý hỏi sâu ông về “sự cố” này. Nếu cần ông có thể tự bộc bạch.


… Tôi bị địch bắt ở mặt trận Bình Trị Thiên năm 1966 khi bọn thủy quân lục chiến đã găm đạn dầy hai ống chân.


Ông bắt đầu dòng tâm sự – Tôi là sĩ quan công binh kiêm đặc công và bộ binh, đã qua trường đào tạo cán bộ chuyên tấn công nhưng bị quẳng vô nhà giam ở Huế, tôi chỉ khai mình là đại đội phó vừa ở tăng gia về tập sự. Ngược về trước nữa tôi là bộ đội đánh Pháp. Năm “năm tư”, hành quân từ Quảng Trị ra đánh trận Điện Biên rồi ở lại luôn. Đời tôi đã được gặp Bác Hồ bốn lần, có lần còn được Bác xoa đầu, rồi khi đi B, ông Nguyễn Chí Thanh lại còn dặn dò sau trước, vậy mà chưa đâu vô đâu đã bị bắt, ức quá!


Tôi bị bắt trước Ba Toản hai năm và vượt tù ra trước Ba Toản ít ngày. Nói chung người nào có chút máu đặc công chảy trong huyết quản, khi bị bắt là nghĩ đến chuyện vượt ngục ngay. Khi còn tạm giam ở Hố Nai – Biên Hòa, tôi đã xác lập xong đường dây tẩu thoát nhưng thật oái ăm, tối mai quyết định hành động thì sáng nay chúng đưa máy bay C130 đến hốt tất cả về Phú Quốc. Thế là lỡ. Người tù hay lỡ cỡ vậy lắm! Nhiều khi tiếc đứt ruột mà đành chịu.


Khác với Ba Toản, ngay từ trại giam Huế về Biên Hòa, tôi đã hiểu Phú Quốc là thế nào. Khi lên máy bay, trại trưởng cũng là tù binh do ta bầu ra, đến từng người dặn nhỏ: “Nhớ nhé! Ra ngoài đó nếu gặp sĩ quan của họ, ta phải chào trước, họ đáp lễ theo đúng luật nhà binh, đừng cố chấp mà uổng mạng. Nhà tù nằm côi cút giữa biển cả, cái mạng người tù rẻ lắm, họ muốn cho sống được sống, cho chết phải chết, không bằng cái thân con rệp!” – Nghe ông dặn mà ớn lạnh xương sống.


Nhưng ra đến nơi, vừa chân ướt chân ráo xuống đường băng nóng giãy, một thằng trung sĩ, tuổi chỉ bằng con cháu mình, xỉa ngón tay vô giữa mặt mình thét: “Ê! Nói tôi là sĩ quan phiến cộng xin được trình diện trung sĩ!”. Làm sao có thể nói nổi, tôi làm mặt nghiêm: “Không! Tôi là thiếu úy tù binh chiến cuộc trình diện giám thị”. Hắn xáng ngay cho tôi một gậy vào giữa ngực, thét nữa: “Đ. mẹ! Ra tới đây mà còn làm phách mầy! Không có thiếu úy, không có chiến cuộc gì hết ráo! Chỉ có phiến cộng thôi, nghe rõ chưa? “Đau quá hóa liều, tôi cự lại: “Ông giám thị nhầm thế nào đó chớ! Phiến cộng thường là chỉ một nhóm năm, bảy mống…” Choác! Lần này hắn xáng thẳng cây hèo giữa mặt tôi. Tôi nhủi xuống, lúc mở được mắt ra thì hai bàn tay đã nhòe máu… Đây là bài học đầu tiên mà tôi thu lượm được. Nơi Côn Đảo này, quyền sinh quyền sát nằm trong tay nó, nếu cứ đối ra đối rả từng câu thì không sống nổi cho đến ngày thực hiện ý định vượt ngục. Nghe nói bên Ba Toản sau này cũng có một cậu quật lại như vậy và bị chúng khẻ gẫy răng. Lại nghe nói cũng chính cậu ấy đã làm một động tác vượt ngục quá sức táo bạo khiến cho tụi nó còn tặc lưỡi kính phục đến sau này. Ngày giải phóng, tôi có ý hỏi thăm, có ý đi tìm nhưng không ra.


Do cú đối đáp vu vơ đó, tôi bị chúng tống vô khu biệt giam B2. Cần phải nói rõ thêm về cấu trúc nhà tù cho đồng chí hiểu. 12 khu là đúng rồi. Nhưng mỗi khu chúng chia thành A B C D. Tỉ như khu 1 có A1, B1, C1, D1. Khu 2 có A2, B2, C2 và D2. Khu 3, Khu 4… cũng vậy. Như vậy tôi thuộc phân khu B2 của khu 2 – Khu sĩ quan. Tùy theo từng khu mà chúng đặt B2 hay C3 hoặc A4… là khu biệt giam. Tức là nếu trước đây toàn nhà lao chỉ có một khu biệt giam thì sau này do số lượng tù binh tăng cao, do anh em tù đấu tranh mạnh mẽ mà hầu như khu nào cũng có biệt giam. Từ những khu biệt giam nhỏ này, chúng sẽ chọn những phần tử nguy hiểm nhất đẩy lên khu biệt giam cấm cố của toàn nhà tù. Tôi nhớ có một anh tên là Hồng, thứ mấy không rõ, nghe nói là Phó tư lệnh quân khu 9 cũng bị bắt và bị đẩy vào khu này. Về sau hỏi thăm hoài không thấy, tôi đoán chúng đã cho ra biển thủ tiêu. Phải! Tôi cũng nghe đồn chừng vậy thôi. Với những phần tử nguy hiểm do nắm được danh sách, tên tuổi và cấp bậc, chức vụ hay là do chỉ điểm tố giác, phần lớn là bị thủ tiêu hoặc bị cho đi mất tích. Thủ tiêu thế nào ư? Dễ lắm! Nửa đêm gọi lên khu nhà bộ chỉ huy (nơi đó có một phòng hỏi cung và tra tấn hiện đại) và không thấy về. Hoặc có về thì cũng bò lê lết. Thường thường là bị đóng đinh vào hai đầu gối hay hai mắt cá chân. Những chỗ đó sau này loét ra thành sâu hoắm, nhìn rõ cả xương trắng lòi ra cùng với những con giòi con bọ nhầy nhụa bò qua bò lại. Hoặc khi trở về, be sườn bị roi cá đuối rứt ra từng mảng thịt, bị nhét muối cục vào. Không có thuốc thang, không được đi trạm xá, vết thương rỗng loét dần ra, nhìn thấy cả lá phổi tím bầm thở hí hóp bên trong. Còn chúng muốn thủ tiêu ư? Quẳng người vô chảo nước đang sôi luộc chín nhừ luôn hay dúi đầu vô một bao tải than còn nóng rừng rực rồi buộc chặt lại, khi gỡ ra, người và than trộn vô nhau, láng mỡ… Nhanh gọn hơn, chúng chỉ việc nện đinh 10 phân vô giữa đỉnh đầu hay nện hai cái vồ hai bên tai… Gần đây, Hội phụ nữ huyện tổ chức đi lấy hài cốt anh em tù chôn xếp lớp ở nghĩa trang, thấy nhiều bộ xương còn nguyên những cái đinh sét cong queo cắm vô sọ hay đầu gối. Có bộ xương còn chằng ngang dọc dây kẽm gai đã gỉ nát. Lạ một điều là dưới đế dép (nếu còn có dép) người chết, thỉnh thoảng có bắt gặp một dấu khắc họ tên quê quán, ngày vô tù, ngày hy sinh… Nhưng cũng mờ lắm! Mười mấy năm rữa nát trong lòng đất rồi còn gì. Hầu hết anh em mình hy sinh ở đây đã được nhà nước báo tử nhưng cũng có những trường hợp không biết đâu mà báo tử thì thật là tội nghiệp!


Tôi may mắn không nằm trong số phận thê thảm đó nhưng cũng trải qua những cực hình đủ để bạc tóc. Đồng chí thử tưởng tượng một người mà thân thể cả năm trời không được tắm rửa thì sẽ ra sao? Bình thường thì ngồi gần nhau đã không chịu nổi chứ đừng nói suốt ngày suốt đêm nằm xếp lớp như xếp cá cạnh nhau. Vậy mà quen. Quen mùi cơm hôi, mùi cá thối, nhép dưới lưng, quen luôn cả mùi cứt đái khắm lẳm ở hai nửa thùng phuy đặt ở hai đầu nhà. Có bận anh em đấu tranh chống đi làm tạp dịch như bửa củi, dọn chuồng tiêu cho vợ con lính, chúng để nguyên thùng phân cả sáu tháng không cho khiêng đi đổ, đêm nằm dòi bọ từ đó túa ra chui cả vào mũi, mồn… Vậy cũng quen. Chắc đồng chí muốn hỏi cả nửa năm, không đổ phân thì lấy chỗ đâu mà ỉa? Khổ! Ăn uống vậy có phân đâu mà đầy. Quặn bụng lết ra ngồi trên miệng thùng nhắm mắt són ra vài cục rát bỏng đít rồi đứng dậy lê về chỗ, vậy thôi. Ấy, tuy thế do chen chúc ngộp thở quá, người nào được nhường cho nằm cạnh cái thùng giòi đó là hạnh phúc lắm đó. Cái gì không thể không quen thì phải quen, cái gì có thể khắc phục được, anh em ráng khắc phục. Ví như cái chuyện tắm. Trước kia ít tù, tù ít đấu tranh, chúng xử còn khá, mỗi ngày được một ca i nốc nước, thật tằn tiện cũng đủ xài. Về sau mỗi ngày được một đít ca, ăn xong, nhấp nháp gọi là cho khỏi khát rồi giữ lại đổ vào túi li non. Ở trong tù chúng không cho mang vô một thứ gì hết, kể cả đôi đũa tre, cái quạt bằng lá dừa chứ chưa nói con dao, cái đinh, cái dùi nhỏ. Những cái túi mủ này do anh em đi lấy củi lượm giấu mang về được. Vừa nhấp vừa dành dụm như vậy, trừ bay hơi, trừ túi thủng ứa ra, chừng một tháng cũng trữ được một lít nước. Thế là quý lắm! Bắt đầu tắm. Trước hết nhấp nước miếng vô tay kỳ khô toàn thân một lượt cho bở hết ghét. Kỳ khô xong, ngồi vô cái chậu thiếc do anh em cắt xén những đầu thừa đuôi thẹo trên mái, trên tường khum lại. Một người đổ, một người kỳ tiếp. Tức là hai người tắm cho một người. Động tác phải khéo léo và chính xác như thợ làm vàng thì mới hòng không rơi phí ra ngoài một giọt. Người này tắm xong, người kia ngồi vào, tận dụng chỗ nước đục ngầu nổi váng vàng trong chậu. Người thứ ba cũng vậy, thành tổ ba người tắm táp. Có khi gọn một chi bộ. Chi bộ lãnh đạo việc tắm rửa và thực hiện luôn. Những nghị quyết Đảng trong tù thật là cụ thể. Nghị quyết về tắm, nghị quyết về ăn, về cả chuyện… cái cầu tiêu. Đúng vậy. Những ngày nóng nực, ai cũng muốn nằm gần thùng phân sát cửa cho có chút gió. Không lãnh đạo sẽ nảy sinh ra tranh giành khốn khổ. Trở lại việc tắm. Đấy là còn có giọt nước để tắm. Vài giọt thôi, nhưng tắm xong nhìn nhau cũng thấy trẻ ra, thỏa thuê nhẹ cả người như vừa ngụp ở lòng sông, lòng hồ lên. Lấy miếng thiếc mài mỏng đưa lên mặt cạo soàn soạt nữa, vậy là tinh tươm nhẵn nhụi. Còn những khi chúng giở trò đểu cúp nước thì khái niệm tắm coi như loại ra, nước uống còn không có huống chi để dành mà tắm? Khi ấy, giọt nước là giọt máu. Lần lượt thay nhau cầm chiếc nắp hộp dầu cao nhỏ bằng đồng xu mà tự đái vào. Tức cười. Đái cũng không ra. Rặn hoài được liu riu vài giọt đỏ quạch như nước phẩm đưa lên miệng… chép khà.


Nhưng có lẽ cực nhục nhất là cái chuyện đi cầu. Không có nước rửa đã đành nhưng giấy lộn lưng cũng có đâu mà chùi. Đi đốn củi, đi làm cỏ vê, đi đào đất ở ngoài rừng, ngoài rú, may lắm cũng chỉ nhặt được một vài mảnh báo nát mủi của lính vứt bỏ mang về chùi được đôi lần. Sau đó thì sao? Lá cây ư? Cái khoản này không ổn, có khi vớ được lá ngứa lại làm tội cả phòng. Rút cục đành xé áo ra mà chùi vậy. Trong tù dù một năm hay mười năm, anh cũng chỉ được phát một bộ dày cộm kiểu soóc lửng của lính Com măng đô hay lính khố xanh, khố đỏ của Pháp còn sót lại. Tù mới vô còn đỡ, ngoài bộ soóc truyền thống kiểu nhà lao Phú Quốc đó, anh vẫn còn bộ cũ mặc trên người. Một bộ hay hai bộ cũng chẳng thấm tháp gì. Thấm mưa vài lần, phơi nắng vài tháng là mủi bợt hết trơn. Hôi hám quá, chỉ còn cách đập sạch (kêu là giặt khô) rồi lại mặc vào. Gặp bữa trời mưa, cha con mừng rú, nửa đêm lồm cồm ngồi dậy thò tay ra ngoài hè giặt, vò lùm xùm rồi sau đó trần truồng ôm nhau co quắp ngủ. Phản xi măng, nền xi măng, không chăn, không chiếu, chỉ còn cách dựa hơi nhau mà thiếp ngủ qua đêm.


Ấy vậy cũng còn cái giặt khô hay giặt ướt. Xé từng miếng nhỏ chùi đít hết rồi, nhiều người chỉ còn lại miếng vải mang hình dạng khố trên người. Thậm chí ngay đến thứ khố bẩn thỉu ấy cũng phải xé tiếp đi, hoặc một miếng vải buộc phải chùi đi chùi lại nhiều lần. Đồng đội bị đánh bầm mặt ư? Còn cách nào khác là lấy ngay chính miếng giẻ đã lau đùi lau háng đó để lau mặt cho bạn. Rồi giẻ xé riết cũng hết, nhiều khi đi làm về, qua đám vợ lính, phải hai tay bưng dái mà chạy ù vô trại cho nhanh.


Đó! Trại tù binh sĩ quan được đối xử như vậy đó. Tưởng rằng chúng tỏ ra biết điều hơn theo luật nhưng thực ra chúng tách riêng để có điều kiện đánh đòn thù dữ hơn. À, có, có! Cũng có một cái hơn là phản nằm bằng sắt thay vì xi măng như những nhà tù hạ sĩ quan, binh lính khác. Nhưng cốt là nhằm đối phó với đoàn quốc tế nào đến thị sát đột ngột thôi.


Thiệt lòng mà nói, chúng tôi mong mỏi từng ngày một phái đoàn quốc tế nào đó tới. Tới không phải để được cải thiện, được giải quyết cuộc sống lao tù khấm khá hơn – Cái này làm gì có, nhiều khi còn ngược lại – Nhưng có bóng dáng họ, tụi giám thị sẽ buộc phải thả chúng tôi vào rừng để giấu đi những chứng tích về sự đối xử dã man mọi rợ, thế là đủ. Chỉ cần vào rừng thôi đã là thiên đường lắm rồi. Sẽ thỏa sức nằm giang chân giang cẳng mà không phải ấp chồng da thịt lên nhau nữa, sẽ tha hồ bứt lá bứt cỏ nhét vô miệng nhai rau ráu cho đã thèm, sẽ được ngắm nhìn trời cao, hít đầy một lồng ngực những ngọn gió trong lành, sẽ tạm quên đi cái địa ngục rợn mình ai oán, sẽ…


Nhưng những năm ấy có nhiều đâu, năm thì mười họa mới được nếm náp một lần để rồi sau đó lại bị chúng nó kìm kẹp gắt gao hơn. Mở miệng đòi cải thiện đời sống dân sinh ư? Lập tức dùi cui, lựu đạn cay túa vô phòng ngay. Đòi thuốc men trị bệnh, đòi cấm khủng bố đánh đập ư? Chúng điên lên xả cả M79 vô giường nằm. Đòi không đi làm cỏ vê, không đi làm tạp dịch cho vợ con nó, không đi đào công sự, không đi làm rào gai bó chặt thêm anh em tù ư? Chúng gầm ghè nhảy vô xả súng bắn chết hàng loạt hoặc gọi riêng từng người đi thủ tiêu. Ấy vậy mà thằng trung tá trưởng ban chiến tranh chính trị toàn nhà tù có lần còn dám mở mồm mị dân: “Ở đây tù một, chó hai, lính cuối cùng”. Tức là ý nó muốn nói: Ưu đãi thứ nhất cho tù, sau đến chó rồi mới là lính. Có tháng thứ nhất là những tháng sau Mậu Thân, đáng lẽ một phòng giam tối đa chỉ nhốt được 60 người chúng đã lèn đến 150 người. Đồng chí biết khi đó anh em tù nằm ngồi như thế nào không? Ba người chung nhau một chỗ. Nghe lạ hả? Tức là nếu một người được nằm thì người kia chỉ còn được ngồi hờ trên ngực người nằm và người thứ ba quỳ ở dưới chân, đưa hai giò của người nằm lên vai mình. Mỏi thì đổi kiểu. Nhộn nhạo rên rỉ suốt đêm như gánh xiếc ma quỷ. Nếu kiểu ngồi hay quỳ không ổn thì xin cứ đứng tự nhiên. Một người nằm hai người đứng chạng chân ở đầu và cuối. Thành thử, từ ngoài nhìn vào, cả phòng giam là một khối thịt người cao một mét sáu, chiều cao trung bình của thân người tù. Vậy riết rồi cũng quen mới lạ chớ!


Cuộc sống tù đày ngột ngạt quá cỡ đã biến đổi tính cách con người đáo để. Tôi biết người này hồi ở ngoài vui vẻ tháo vát, gian khổ thế nào cũng cười đùa như không, nhưng vô đây lại hóa lầm lì, suốt ngày trầm ngâm nghĩ ngợi đâu đâu thỉnh thoảng lại rùng mình một cái như chạm phải rắn độc; người kia vốn hiền lành mát mẻ có tiếng ở đơn vị nhưng nay lại trở nên nóng nảy hay chửi đổng dễ sợ. Nguy hại hơn, có người ở ngoài nổi tiếng là dũng cảm, coi cái chết bằng vung nhưng vô đây nếm mấy trận đòn thê thảm, chứng kiến những cuộc tàn sát đẫm máu của chúng nó, bỗng trở thành nhút nhát, cứ thấy bóng thằng giám thị mặc quân phục màu xanh, đeo băng đỏ kẻ chữ vàng là mặt mày đã biến sắc đến tội nghiệp. Nhưng lại có người ở ngoài thì trận mạc lừng khừng mà vô nhà tù lại gan góc, bình tĩnh khác lạ. Cái này kỳ cục hơn: Trong tù không phải hầu hết là tù binh, xen kẽ vô còn có loại “tù lậu” nữa! Sao gọi lậu? Vì khi bị bắt chỉ là anh đi buôn, anh lãng du đây đó làm đủ trò dao búa hay bậy bạ để kiếm sống, nhưng khi bị đánh quá chúng bảo nhận, cứ nhận đại là bộ đội nên chúng tống vô Phú Quốc hết. Tống vô càng nhiều, chúng càng có cớ báo cáo thành tích để được mề đay mà. Ấy vậy, ba cái anh “tù lậu” này nhiều khi còn gan góc, nghĩa tình hơn cả mấy vị sĩ quan học ở trường chính quy ra hẳn hoi. Cũng như có quần chúng giữ khí tiết giỏi hơn đoàn viên, và có đoàn viên can tràng hơn cả đảng viên, lẽ đời vốn dĩ nó vậy hỉ?.


Nhà tù còn nghiệt ngã hơn chiến trường. Mọi thứ giả trá, trung thực, tốt xấu đều được phơi bày cả ra trước ánh sáng ban ngày.


Tôi đã được chứng kiến một câu mắng đau lòng. Sáng hôm đó, không hiểu nguyên cớ gì, thằng giám thị lôi ba chục người ra phơi nắng trên dàn thiếc. Kiểu phơi nắng này hay bắt tù trèo cây nhum, loại cây đầy gai nhọn và dài chúng chặt ở rừng về, tôi đã được biết qua. Nằm úp mặt trên tấm thiếc bắt đầu còn chịu được, càng về trưa càng nóng bỏng, da thịt ở bụng, ở ngực phồng rộp lên, chịu đến chiều thì người không ra người nữa, nhiều chỗ trên da non bị cháy sém, người yếu sức thường là ngất xỉu. Sáng hôm sau chúng lại phơi nữa. Có đợt hình như nghe đâu thua đau trong đất liền, chúng phơi tù cả một tuần. Một tuần ấy không được đổi kiểu nằm, ngứa không được gãi, những chỗ ghẻ lở đỏ lên như bị lột da. Nếu cục cựa, chúng phang thẳng cánh dùi cui vào đầu, hoặc nếu hứng, chúng sẵn sàng bắn bỏ.


Sau một tuần có một người phát điên, cả đêm la hú, cười sằng sặc. Người nào không điên thì trở thành ám ảnh, sau này chỉ cần nhìn thấy tấm thiếc ăn nắng sáng trắng lên là xây xẩm mặt mày muốn té xỉu. Leo cây nhum còn ghê rợn hơn. Cây cao chừng mười mét, thẳng đừ, đen đúa, gai xỉa ngang như dựng lông nhím. Chúng bắt phải trèo lên đến ngọn rồi lại tuột xuống. Không trèo chúng đánh, chúng chửi thậm tệ.


Mà trèo lên thì chỉ cần vài ba cái nhoài người là đùi ngực chân tay bị gai đâm vô nhòe máu. Người nào trèo được lên đến ngọn, khi thả mình rơi xuống toàn thân nát bấy không còn nhận ra hình thù gì nữa.


Khi ba chục người bị đem ra phơi nắng sáng hôm đó, trong hàng có một người bỗng nói gần như mếu máo:


-         Tha cho tôi! Suốt đêm hôm qua tôi đau bụng không ngủ được. Tha cho tôi.


-         Tha gì! – Tên trung sĩ Tỳ, một tên giám thị ác ôn có cỡ không mấy ai không biết đến, quát – Gặp tao ở ngoài kia liệu mày có tha không? Nằm xuống!.


-         Không… Tôi không… - Người này méo xệch miệng, cặp giò gầy guộc muốn khuỵu xuống – Tôi kiệt sức! Tôi…


 Bỗng lúc đó, ở bên phía sân nhà giam hạ sĩ quan và chiến sĩ, phía sân cách bên này bảy lớp rào gai vang lên một tiếng nói uất ức:


-         Đồng chí sĩ quan, hãy đứng thẳng dậy, có chết cũng không cần phải xin xỏ, chúng nó khinh!


Khác nào một tiếng nổ động trời! Tất cả chúng tôi và tụi giám thị đều sửng sốt nhìn sang. Người vừa phát ra câu nói đó là một chiến sĩ còn trẻ, gầy trơ xương, tóc tai trụi lũi gần hết, đôi mắt hốc hõm mở to nhìn thẳng sang người tù sĩ quan bên này.


Mọi người chưa kịp phán đoán thì một viên đạn khô khốc đã bật lên. Người lính lật người ngã xuống, giãy mấy cái rồi nằm im. Mắt vẫn mở trừng trừng nhìn lên bầu trời. Khẩu súng Rulô trên tay thằng trung sĩ giám thị bên đó còn đang ngún khói…


Vậy là tức nước vỡ bờ! Cái áp suất ngột ngạt bấy lâu do những trận đòn, những bữa ăn, những cái chết tức tưởi, những hình phạt man dại, những cơn ngứa ghẻ, những ngày nắng và những ngày mưa… Cùng một lúc bị đôi mắt người lính trẻ kéo thức dậy đòi giải tỏa: Ít nhất là phân nửa số tù sĩ quan và hầu hết anh em tù bên nhà giam chiến sĩ gào lên, lao những bộ xương quều quào vào đám giám thị và bọn lính. Cát trắng trong sân bay bụi mù. Tiếng hộc, tiếng thét, tiếng rú rít vang lên hầu như không còn là của tiếng người. Lác đác đã có tiếng súng nổ và những thây người đổ ập xuống. Tiếng gào của số đông vẫn nổi lên. Một vài cái bóng giám thị đeo băng đỏ bỏ chạy, một vài cái nón quân cảnh bay ra khỏi những sọ vỡ nát. Những nhà giam, những phân khu khác ở gần đó cũng rền lên những tiếng hô ủng hộ lạc giọng: “Đả đảo bọn giết người!…” Không được đàn áp dã man tù binh…”. Cả nhà tù như lên cơn say. Tưởng như chỉ với những tiếng gào thét, những bộ da bọc xương nhào về phía trước, trong phút chốc có hàng ngàn tấn rào kẽm gai, cả hàng trăm phòng giam đen đúa, cả bầy lũ quân cảnh đông lúc nhúc kia sẽ bị nghiền nát, sẽ bị quét sạch nhưng… nhà tù vẫn là nhà tù, địa ngục vẫn hoàn nguyên địa ngục, khoảng chừng nửa giờ đồng hồ sau, mọi sự đâu lại vô đấy. Những khẩu đại liên đầy đạn, những chiếc xe bọc thép, bọc đồng có gắn trọng liên, trung liên đã hoàn tất công việc tưới máy của nó. Xác bọn quân cảnh được đem đi, nhưng xác tù binh bị để lại với số lượng mười lần hơn.


Đây là lần tàn sát thảm khốc thứ ba mà Ba Toản chắc chưa kể với đồng chí. Lần này ta tổn thất gần hai trăm người, nghĩa địa nhà tù lại được bổ sung hai trăm bộ hài cốt! (Còn lần thứ tư, lần cuối cùng ở khu chiêu hồi nữa, đồng chí tự tìm hiểu sau).


Trở vô nhà lao, anh Hồng, người mà anh em đảng viên đoán rằng là người lãnh đạo cao nhất trong khu, ấp mặt vô tường khóc lặng lẽ hồi lâu. Ngồi cạnh anh, tôi thoáng nghe được tiếng nói tức nghẹn trong lồng ngực hen suyễn nặng:


-         Trời ơi! Nếu mà ta kịp ra kịp chủ trương chung… Nếu toàn nhà lao có một đường dây chỉ đạo thống nhất… Nếu mà…


Buổi trưa, thằng trung tá Hoạt, chỉ huy trưởng nhà lao xuống khu B2 cùng với thằng cố vấn Mỹ. Thằng này khác thằng chúa ngục trước, nó mềm mỏng lịch lãm hơn và không mấy khi ra mặt chơi rắn với tù. Làm vẻ mặt khổ đau, hắn giơ hai tay lên trời:


-         Lạy chúa tôi! Sao mà đến cơ sự này kia chứa! Chúng ta đều là người lính, chúng ta có thể dàn xếp ổn thỏa với nhau theo phong độ người lính được kia mà. Rất tiếc… Rất tiếc.


Tôi nhớ tên cố vấn Mỹ tóc bạch kim lúc ấy cũng làm động tác giơ hai tay lên trời và nhún vai. Có vẻ muốn lấy lòng tên quan thầy tóc trắng hoặc muốn xoa dịu chúng tôi, hắn gọi thằng trung úy giám thị trưởng đến nghiêm sắc mặt, nói to:


-         Ông Phước! Tôi và đặc biệt ông cố vấn đây rất không hài lòng vì đã xảy ra chuyện đau lòng này. Ngay đêm nay ông lập cho tôi danh sách những kẻ dưới quyền ông không làm đúng lệnh tôi, còn ông, sáng mai mời ông lên bộ chỉ huy làm việc.


Nói xong, hắn cùng với tên Mỹ nhảy lên xe Jeep phóng ào đi, để lại gần hai trăm xác chết đã bắt đầu có mùi dưới những đám mây ruồi nhặng mỗi lúc mỗi đen kịt.


Sự “đau lòng” của tên Hoạt và quan thầy của hắn được trả lời bằng đêm hôm sau, mười lăm người trong chúng tôi bị bí mật gọi đi và không bao giờ trở lại, may mà trong đó không có đồng chí Hồng..


Ông Hai Hội, tức Cáp Đình Hội dừng lời. Từ ngoài cổng, cậu con trai út mười sáu tuổi của ông đi chiếc Cub 70 phân khối sán sạt lăn vào. Cậu lý nhí chào tôi rồi quay sang bố:


-         Treo xe thôi ba ơi! Xăng hôm nay lên tới năm ngàn một lít rồi. Người ta nói nay mai còn lên nữa. Họ đổ tại khủng hoảng vùng Vịnh đó.


Cha nói giọng Trị Thiên, con lại nói giọng rặt Phú Quốc. Vài ba năm nữa chắc cả hòn đảo này chỉ còn được nghe một chất giọng của lớp cháu con thôi. Được hỏi cháu học lớp mấy, ông Hai trả lời cháu nghỉ rồi. Nghỉ để phụ giúp ông trồng tiêu, trồng điều.


-         Kể lại chuyện nhà tù hả ba? – Cậu con trai nói – Kể gì hoài vậy? Chuyện đã qua lâu rồi mà.


Ông Hai cười. Cái cười heo héo không vui. Tôi hiểu lòng ông và làm như không nghe thấy câu nói ráo hoảnh mà thực chất là rất đỗi hồn nhiên của người con đó.


-         Tuy vậy, ông Cáp Đình Hội cuốn nhanh một điếu thuốc rê đưa lên miệng, nói tiếp – Không phải bao giờ trong tù cũng ngột ngạt quá trời như vậy. Vậy hoài làm sao sống nổi? Chúng tôi vẫn gồng lên, phải tạo ra cái bình thường trong cái bất bình thường, cái có thể trong cái không thể, cái sự sống trong toàn bộ không khí chết.


Anh em vẫn tổ chức học văn hóa trong những giờ rảnh rang không bị đưa đi làm tạp dịch. Người khá dạy người kém, người khá hơn hướng dẫn người đã biết ít nhiều, ếch cõng nhái gom thành từng nhóm. Từng tổ cứ râm ran lên. Dụng cụ học là thỏi than củi xin được ở bếp ăn viết xuống nền nhà hoặc mảnh gỗ kiếm được ngoài rừng miết xà bông lên, phủ vải nhựa ra ngoài rồi lấy đầu đinh làm ngòi viết. Loại bảng đen “vĩnh cửu” này có thể dùng được mãi. Ấn đầu đinh xuống nó hiện chữ hiện số. Miết tay lên nó lại phẳng lì, sạch bóng. Trên tấm bảng đó anh em làm toán, học ngoại ngữ, người nào có trình độ cao có thể giải được cả phương trình có nhiều ẩn số cả tích phân vi phân. Cứ vậy thời gian trôi đi và mọi cực nhục cũng dần lắng xuống. Nhưng có người lắng xuống để thành nỗi nung nấu vượt ngục, lại có người lắng xuống để trở thành cam chịu, số cam chịu chờ thời này nhiều lắm. Không đấu tranh, không đòi hỏi, không sinh hoạt chi bộ, chi đoàn, suốt ngày ngồi ủ rũ trong bóng tối, mong mỏi đến ngày được trao trả. Chính số chiêu hồi nảy sinh từ hàng ngũ này. Tự dằn vặt, tự làm khổ mình nhiều quá, tới một lúc nào đó, điều kiện cho phép như cái chết không tránh khỏi đến gần, thèm cồn cào một điếu thuốc, một chén cơm không thiu thối, một ca nước uống cho đã thèm – nhỏ nhặt vậy thôi – cũng đủ để đẩy cả một con người sang phía bên kia.


Buồn lắm! Bên kia tức là sao? Là đang tâm hầu hạ vợ con lính, là rình mò bạn bè mình như chó, là phản bội hết thảy những cái gì mình hằng theo, hằng tuyên thệ. Nhưng tôi nói điều này đồng chí có thể viết lên báo: Không phải ai mang danh chiêu hồi cũng là lòng dạ chiêu hồi. Nhiều khi bị oan ức chỉ vì kẻ thù giăng bẫy rất quỷ quyệt.


Ấy, còn cái này nữa nói luôn kẻo quên. Trong tù anh em cũng biết cải thiện cuộc sống bằng bàn tay tài hoa của mình. Ra ngoài rừng nhặt về được một cọng thép gai cất đi. Rồi dùng cạnh sắc quai cà mèn đựng cơm đục thành lỗ. Có lỗ rồi mài cọng thép xuống nền xi măng. Mài đi mài lại, mài thật kỹ, sau một vài tuần bỗng có một cây kim gần đúng kích thước trong tay. Có kim rồi, nhờ anh em đầu bếp, cũng là tù, kiếm cho ít chỉ màu và miếng vải trắng bỏ đi. Thế là thêu, thêu cặm cụi, hình loan phương, chim cò, công, có cả cá. Mang mặt gối ra hàng rào phơi, tụi lính bâu vô coi trầm trồ xuýt xoa. Hôm sau có thằng chủ động mang chỉ, mang vải tới nhờ anh em thêu giùm gửi về cho vợ làm kỷ niệm. Anh em nhận lời nhưng đòi lại thuốc hút lai rai, 15, 16 người bập chung nhau một điếu, bập nhẹ thôi để người sau còn có chút khói mà hút vô. Riêng khoản thuốc lào thì lại có “tái sử dụng” bằng cách thứ nước điếu khai nồng được giữ lại trộn vô lá hà thủ ô bứt ngoài rừng về băm nhỏ rồi đem phơi khô, khi thèm, cuốn hút bậy bạ cũng gọi là có chút mùi ngai ngái.


Và yêu nhau, thương nhau lắm đồng chí ạ! Tôi cứ lẩn mẩn nghĩ rằng, những ngày đó mà cũng chia năm sẽ bảy, tình người ghẻ lạnh chỉ cốt ấm thân mình như bây giờ thì có lẽ đã tự tử hoặc đầu hàng hết rồi. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ! Một người bị đánh, cả phòng giam xúm vô xoa bóp, động viên, nhường cơm, nhường canh cho. Thậm chí khi bị đàn áp tập thể, người khỏe nằm phủ lên che đòn cho người yếu. Một ai đó bị gọi đi không trở về, cả phòng giam lắng đi cả ngày như thầm vĩnh biệt người thân yêu ruột thịt. Trong phòng có tôi, anh Tư Phước và anh Bảy Minh tạo thành một tổ tam giao, thành một chi bộ, một mái ấm gia đình động viên nhau, giúp đỡ nhau mọi việc để chèo chống chờ đến giờ khắc thoát ngục.


Song, cũng cần phải con chừng! Chính một trong những kẻ hay làm ra bộ thương xót mùi mẫn, hay xoa bóp thuốc thang đó biết đâu lại là kẻ thù. Cảm động với nó, tin nó, dần dần thổ lộ hết mọi nguồn cơn với nó, vậy là lộ. Lộ một người còn đỡ, lộ cả chi bộ, cả đường dây thì tổn thất không biết bao nhiêu mà kể.


Vậy mà trong lao tù, ngay cả lòng tốt cũng bị lợi dụng, chính tôi đã có lần phát hiện ra một thằng như thế! Cái gì nó cũng làm quá đi thành ra giả. Một người tù bị phù cũ quá nặng, nước vàng nước đỏ rỉ ra các lỗ chân lông, cổ chân bành ra như chân voi, ấn nhẹ vô một cái, cả tiếng sau không đầy trở lại.  Người này được thằng kia giúp cho mấy viên thuốc vàng vàng bọc trong giấy kiến. Vậy là quá tốt. Nhưng một đồng chí quân y sĩ tên là Tuyển người Rạch Giá phát hiện ra đây là thứ thuốc rất quý của Mỹ, chỉ bọn cố vấn và bọn chỉ huy mới có dùng, còn tại trạm xá chỉ toàn một thứ thuốc rẻ tiền, uống vô phù thêm. Cha này làm sao có? Tôi báo cáo với đồng chí Bí thư Đảng ủy. Đồng chí này cho người khéo léo kiểm tra. Nó chối vòng vo. Dọa giết. Nó bèn nói thật, vậy là nó tới số. Sáng hôm sau mang xác nó trình thằng tổng giám thị, trình công khai:


-         Tên này tính giết hại anh em nên chúng tôi giết nó để tránh cho ông giám thị một sự khiển trách của cấp trên vì tình hình mất an ninh của phòng giam.


Thằng giám thị tái mặt, cố chống chế:


-         Mấy người nói thế nào vậy chớ! Cùng là sĩ quan, cùng là tù binh các người với nhau làm chi có chuyện bất nhân vậy.


-         Vậy mà có. Một trăm hai mươi người tù đều cùng xác nhận, ông có thể hoàn toàn tin được.


Không biết làm sao, tên này thét lính mang tên phản bội đi chôn. Chôn cùng với nghĩa địa tù binh. Tức là, tại nghĩa địa ấy, không phải chỉ có toàn những con người chính trực mà còn cả những kẻ bán rẻ linh hồn cho quỷ sa tăng. Sau này đào hài cốt, thế hệ mai sau làm sao biết được ai ngay, ai phản bội? Nhưng thôi! Dù sao cũng đã chết…


Theo chỗ tôi biết thì cho tới cuối “sáu bảy”, đầu “sáu tám”, tại nghĩa trang nhà tù, một khoảng đất rộng nằm giữa khu 5 và khu 7 đã có chứa 2.000 tử sĩ rồi. Hồi đầu năm, chúng nó dùng xe ủi ủi bằng đi một lần, cái lần ấy không rõ đã xóa đi bao nhiêu hài cốt và từ “sáu tám” trở về sau, nghĩa trang còn nhận bao nhiêu xác người nữa? Ít nhất cũng tới 4.000 người. Tôi và những tù binh còn sống sót có thể đoán chắc con số đó. Bốn ngàn tử sĩ trên bốn mươi ngàn tù binh lúc đông nhất, vậy là một phần mười! Đồng chí có hình dung con số ấy nói lên điều gì không? Thiệt là thảm họa Ốtstơvenxim hay Austơvit của bọn quốc xã Đức chắc cũng chỉ tàn sát đến con số đó, mà bọn Đức có biết tàn sát gọn nhẹ bằng lò thiêu, bằng khí đốt chứ không tàn sát nhỏ giọt, man rợ như ở đây.


Ông Hai nói một hơi với giọng xúc động rồi dừng lại. Nắng đã về chiều. Tôi tính kêu ông tạm nghỉ vì không muốn con người già cả này sống quá lâu trong thứ cảm xúc u ám đó, nhưng ông đã nhẹ cười, cái cười thật xa vắng:


-         Ác độc cỡ vậy nhưng chớ đổ hết lên đầu lính quân cảnh. Quân cảnh có thằng tốt thằng xấu, cũng như giám thị không phải là quỷ độc hết. Tôi muốn đồng chí nắm câu chuyện một cách khách quan. Vậy thôi. Trong cái trung đội quân cảnh canh giữ khu B2 sĩ quan, tôi có để ý thấy một người trung tuổi, khoảng chừng ba mươi hay hơn ba mươi gì đó, người này ít nói, đi lại nhẹ nhàng và hay hướng cặp mắt buồn buồn lộ vẻ thông cảm về phía chúng tôi. Chính người này đã không ít lần lén mang nước, mang thuốc đỏ cho chúng tôi lau rửa vết loét bị sâu quảng cho các bạn tù. Nhưng mà cho lén thôi thường để ở lùm cỏ chân rào hay làm lộ vô tình để rớt xuống rãnh nước khô. Nếu lộ, anh ta sẽ bị quy tội tiếp tay cho kẻ thù, và như vậy dứt khoát bị trừng trị.


Một lần, cực quá chịu không nổi, một tù binh đã chui trong thùng rác để hy vọng khi bạn tù khiêng ra ngoài rào đi đổ sẽ có cơ trốn thoát. Chui trong thùng rác thế nào ư? Tức là toàn bộ người ngập trong rác rưởi, chỉ hơi để hở mặt mà thở, cái phần hở này được hai bạn tù lấy rác rưởi lá lẩu phủ lên che đi. Phương cách chốn trại này không mới, ở khu A1, đã có lần tù ra thoát bằng chui vô thùng than xỉ đem đi đổ. Chúng rút kinh nghiệm, thùng than nào cũng chọc lưỡi lê vô nát bấy rồi mới cho đem đi. Kiểu ra thùng than không được nữa thì ra bằng kiểu thùng rác. Rác rưởi để lâu bốc mùi không thể chịu nổi nên bọn lính thường bịt mũi tránh xa. Nhưng lần này gặp phải hai người khiêng yếu quá nên dáng đi lắc lư. Thằng trung sĩ giám thị giơ súng chặn lại.


-         Ê mày! Rác rưởi gì mà coi mòi nặng dữ vậy? Để xuống coi!


Hai người tù tái mặt. Thằng ác ôn này dám xọc bậy lưỡi lê vô lắm. Chưa biết xử lý sao thì người lính có đôi mắt rầu rầu đó đã bước tới, giọng anh ta đanh lại.


-         Thôi đi, trung sĩ! Kìm kẹp người ta như vậy chưa đủ sao mà có cái thùng rác cũng dò xét. Kỳ quá!


-         Đây không phải phận sự của anh – Tên giám thị nhếch mép – Phận sự của mấy anh là ôm súng canh giữ còn không xong, muốn nói gì?


Hắn rút súng xăm xăm bước tới chỗ hai người.


Bất ngờ, anh lính quân cảnh chĩa thẳng khẩu AR15 vô ngực hắn và nói:


-         Đứng lại! Mày tiến lên một bước tao bắn. Đ. mẹ! Có giỏi ra chiến trận mà khoác lác, giỏi gì đi hù dọa mấy người tù ốm yếu tay không.


Tên giám thị sựng lại. Theo lẽ là giám thị dù đeo lon trung sĩ thôi nhưng quyền hành cao lắm, tương đương đại đội trưởng quân cảnh hoặc có phần hơn vì ăn ngành dọc lên chỉ huy trưởng và cố vấn Mỹ, thậm chí có thể ăn lương của CIA; tên này có thể bắn bỏ hoặc tống giam bất cứ người lính nào cản trở công việc, nhưng lúc đó có lẽ do thái độ người lính quá dữ tợn, lại thêm mấy người lính khác gầm ghè xáp đến nữa hắn tháo lui, vừa tháo vừa làu bàu… Tất nhiên mấy bữa sau, người quân cảnh có ánh mắt u buồn này bị đổi đi đâu mất mà tôi chưa kịp biết tên tuổi. Thực chất, hai lực lượng quân cảnh và giám thị thường xung khắc với nhau. Giám thị thì phách lối, hưởng bổng lộc cao và hay ton hót cấp trên, còn quân cảnh thức đêm thức hôm, đụng việc là phải càn rừng lội bưng rất cực mà bổng lộc không có gì.


Lại có người lính khác, trong một lần dẫn tù đi lấy củi đã chợt nhận ra đồng chí Ba Năm, người Sông Bé là cậu ruột của mình nhưng không giám lên tiếng. Ông cậu cũng nhận ra cháu nhưng do mặc cảm đối kháng hoặc không muốn gây lụy cho đứa cháu đi lạc đường nên mần thinh. Thái độ mần thinh đó làm người cháu tủi hổ, càng tủi hổ hơn khi có một lần thương cậu quá, người cháu lén đưa giúi cho cậu một ổ bánh mì nhưng cậu không nhận còn làm mặt lạnh quay đi. Cuối cùng sau những đêm trằn trọc, chắc thế, người cháu đã kiếm cớ đánh tháo cho cậu và mười người nữa chạy vô rừng, bản thân ở lại cho một phát đạn vô đầu…


Lần khác có một đảng viên do quá nghi ngờ anh em tù trong phòng giam của mình, lại cũng không chịu nổi sự lẻ loi cô đơn về đoàn thể nên đang đêm chui bảy lớp rào sang nhà giam bên cạnh tìm đồng hương có quen biết cũ để lập chi bộ. Đang chui bị phát hiện, nghĩ phen này chắc chết, ấy vậy mà người lính đã phát hiện đó lại giả đò vạch quần đứng đái ngay trên đỉnh đầu, nói nhỏ:


-         Ông nội liều quá trời! Muốn chui sang bên thì phải chờ khuya khuya chút chớ, giờ này người ta còn thức cả. Trở lại lẹ đi không ăn đạn bây giờ?


Có thể kể được nhiều chuyện kiểu như vậy lắm. Nhưng cái đầu bây giờ ụ ị đi nhiều rồi, muốn nhớ mà nhớ không nổi. Ồ! Có nghĩa là tôi đã đề cập với đồng chí sang vấn đề vượt ngục hỉ? Tôi biết đồng chí từ nãy giờ làm bộ chăm chú cũng chỉ là để chờ nghe chuyện vượt ngục này – Ông cười ranh mãnh một cách bất ngờ – vậy tôi xin chiều đồng chí hỉ?


-         Vâng! – Tôi thú nhận ngay – Chắc bác ra bằng đường khoét hầm?


-         Không! Tôi ra bằng cách chui rào.


Chợt thấy vẻ mặt có chiều thất vọng của tôi, ông lắc đầu cười:


-         Biết mà, năm trước có mấy chú báo chí, truyền hình ở thành phố đến đây cũng chỉ nhăm nhăm hỏi chuyện khoét hầm và người khoét hầm, phải thôi! Nói đến tù Phú Quốc là nói đến sự tích đường hầm. Sự tích này còn li kỳ gian khổ bằng mấy chuyện đào đường hầm ở Côn Đảo mà một cuốn sách nào đó ra đã lâu có nói đến.


-         Không… Thưa bác! Là tôi cũng chỉ muốn… - Tôi chống chế vì e phật lòng ông già.


-         Thôi tôi biết rồi! Mà cũng có nghĩ ngợi gì đâu. Vượt kiểu gì thì vượt, miễn là ra thoát được. Có thể nói tù binh Phú Quốc có ba cách ra phổ biến, cách thứ nhất là chui rào kiểu đặc công, cách thứ hai là đánh lính đoạt súng khi đi làm tạp dịch bên ngoài. Và cách cuối cùng cũng là cách gian nan nhất là đào hầm, chưa nói đến hàng chục cách vượt lẻ tẻ khác như đoạn trên tôi vừa kể sơ. À, coi nào! Đúng rồi! Về khoét hầm, đồng chí có thể tìm một người tên là Lê Xuân Các, nhà giam hạ sĩ quan. Anh này là thần đào hầm đó. Sau này ra ngoài chiến đấu, gặp gỡ nhau luôn nhưng tôi đâu có để ý hỏi quê quán ở đâu. Nghe nói là người Nghệ Tĩnh hay Thanh Hóa gì đó, thử hỏi Ba Toản coi.


-         Dạ hỏi rồi! Anh Ba Toản cũng không biết. Lại có người bảo Lê Xuân Các hình như đưa vợ con vào Sông Bé làm ăn rồi. Nhưng không sao! Không tìm được người này thì có người khác, chú Hai! Bây giờ chú Hai kể kỹ cho nghe chuyến ra lối đặc công của chú.


-         Chà! – Ông Hai Hội lắng đi một lúc rồi mới nói, mắt nhìn vuốt xa ra ngoài nắng như nhìn ngược trở lại một miền ký ức – Chuyện lâu rồi! Hơn hai chục năm trường rồi mà khi nhớ tới, lại nghe rần rần trong mình như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua.


Đồng chí nên hiểu, dù sống trong tù cực nhục như con vật vậy nhưng không phải ai cũng nung nấu ý chí vượt ra đâu. Ít lắm! Vài chục người trên một trăm người, thậm chí chỉ vài nhóm, vài người. Nhóm này trông chừng nhóm kia ra có ngọt không rồi mới quyết định tới nhóm mình. Có khi quyết định rồi mà vào giờ phút cuối cùng lại thay đổi thái độ. Vả lại ra theo lối chui rào này đòi hỏi gọn nhẹ, hoàn toàn bí mật như đánh đồn nên một lúc cũng không ra được nhiều.


Chi bộ tôi có Tư Phước và Bảy Minh như trên tôi đã nói. Tư Phước là đại úy đặc công vốn ở cùng trung đoàn; Bảy Minh ở mặt trận khác nhưng đã có lần gặp ở hội nghị tổng kết đánh đèo Măng Giang năm 1966 – Tóm lại lập tổ, lập chi bộ phải biết kỹ về nhau, quyết định vượt ngục lại càng cần độ tin cậy cao hơn. Chỉ cần một người chờn vờn dao động chứ chưa nói sợ hãi cung khai là cả nhóm chết theo rồi.


Chúng tôi quyết định rủ thêm hai người nữa cho đủ bộ năm để xứng một công ra. Người thứ nhất là một đại úy già đang bị chúng nó trù úm không biết đem đi thủ tiêu lúc nào. Chúng tôi muốn ông tránh trước được tai họa đó. Vậy mà ông trả lời: “Các cậu quyết định vậy mình hoanh nghênh, nhưng ra được một vài mống nhằm nhè gì, ngày hôm sau chúng có cơ hành hạ chung cả phòng. Đấy là chưa kể các cậu không ra nổi, nằm chịu chết trong hàng rào. Nghĩ cho kỹ đi!”. Còn nghĩ gì nữa. Tôi rủ quân y sĩ Tuyền, Huỳnh Thành Tuyền, cậu này cũng tốt, tỏ ra chững chạc trong mọi tình huống, ấy, chính cái cậu đã phát hiện ra thằng gián điệp mang thuốc phù nề loại quý vào trong tù đó. Hơn nữa, trong những ngày lang thang rừng núi tìm về cách mạng, nếu ra được thì sự có mặt của một y sĩ là rất cần. Nhưng cậu này cũng dội luôn: “Mấy anh coi: đèn đóm, chó, ngỗng, mìn trái dày đặc thế kia, ra không nổi đâu”.


Vậy là vẫn chỉ còn có ba. Cả ba đều là dân đặc công trinh sát, cũng như trong tù thời gian này phần đông là lính trinh sát đặc công. – Ba mống hội ý đi hội ý lại, mà đâu có dễ ngồi lại với nhau bàn bạc, ngày hay đêm (ban đêm trong phòng cũng để đèn sáng trưng) chúng đều kiểm soát gắt gao, chỉ cần có dấu hiệu lạ, ngồi tụm năm tụm ba là xộc vào liền, mới quyết định được ngày ra là ngày 5, tức là ngày sinh của tôi (mồng 5 tháng 5).


Trước hết chúng tôi bỏ mười đêm thay nhau không ngủ, nằm áp sát tai xuống đất lắng nghe bước chân đi lại, tiếng xe lăn bánh ở ngoài xa để nắm thật chắc quy luật hoạt động của chúng. Ban ngày thì giả đò mang tú lơ khơ ra sát chân rào chơi, vừa chơi vừa dõi mắt quan sát ra khắp xung quanh. Cuối cùng có thể kết luận được cái khoảng chập choạng tối là giờ chúng lơ là canh gác nhất. “Nhất chạng vạng – Nhì rạng đông”. Hồi ở ngoài thường đánh đồn vào hai khoảng thời gian này thì ở đây cũng vậy.


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà lao cây dừa. Ký sự của Chu Lai. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »