tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
31.07.2013
Chu Lai
Nhà lao cây dừa (4)

Còn hai ngày nữa, ba chúng tôi đồng loạt khai bệnh đau bỏ cơm. Lúc này  tình hình dân sinh dân chủ do ta đấu tranh không khoan nhượng nên đã được cải thiện chút ít. Không ăn cơm, chúng cấp sữa, loại sữa đã để quá hạn trong kho quân tiếp vụ hàng mấy măn, mở ra toàn một chất lỏng đỏ quạch. Mỗi ngày ba người được nửa lon, hai ngày một lon. Ba người một lon cũng tạm đủ để làm lương khô lúc đi đường. Đường đi bao xa, lâu hay mau, phải vượt qua những trở ngại khủng khiếp nào, chúng tôi chưa biết nhưng chắc chắn rằng ở ngoài có lực lượng cách mang. Bên trại giam Ba Toản còn có đầu đạn rớt vô để nhận biết, trại giam bên này lại dựa vô mấy tay quân cảnh đào ngũ cũng bị chúng bắt đi bửa củi chung. Họ cho biết ở ngoài có cách mạng. “Vậy, cứ nhằm hướng pháo nổ mà đi!”. Tôi nhủ thầm.


Trước khi đi một ngày, tôi chính thức báo cáo với đồng chí Hồng bí thư Đảng ủy là công việc chuẩn bị đã xong xuôi. Đồng chí bí thư dặn:


-         Ra được người nào có lợi cho cách mạng người đó, các anh cứ yên tâm ra đi, việc ở lại nếu có gì đã có chúng tôi. Còn một hộp thuốc hồi dương tôi giấu được, mấy anh đem đi đường mà dùng, cần lắm đó.


Bịn rịn, tôi mời anh cùng ra. Anh lắc đầu, cười buồn:


-         Muốn lắm! Chỉ cần ra khỏi hàng rào gai, ngắm trời ngắm đất cho đã một lần dù chết cũng cam. Nhưng tôi yếu quá rồi, không khéo lại  làm phiền, làm lỡ việc mấy anh. Vả lại trong này còn có nhiều việc, tôi chưa thể vắng mặt được.


Tôi khóc và nắm chặt bàn tay trơ xương của anh. Những năm tháng lao tù, những cán bộ Đảng như anh thầm lặng nhận tất cả nặng nhọc về mình, nhường thuận lợi, nhường cả khát vọng tự do cho đồng đội. Rất tiếc tôi lại không nhớ được tên họ thật của đồng chí này.


Ngoài lon sữa, chúng tôi còn được anh em lén đưa cho một lon nữa và hơn một ký cơm cháy không biết anh em phơi khô để dành từ bao giờ.


Buổi tối đi thì buổi trưa có người báo cho chúng tôi biết trong phòng có kẻ đang theo dõi, hãy cẩn thận. Tôi biết thằng đó. Mấy bữa nay thấy chúng tôi thường đi ra đi vô quan sát hiện trường, nó đã để ý nhưng không bằng chứng gì nên không ra mặt. Anh Bảy Minh là người tuy ở tù nhưng còn có sức vóc do sáng nào cũng tập thể dục đến vã mồ hôi nhận lãnh trách nhiệm dằn mặt nó. Đến giờ ăn cơm, thừa khi nhộn nhạo, anh xáp tới siết chặt cổ tay hắn nói:


-         Thằng khốn nạn! Mày đang theo dõi cái gì? Mày có muốn đi theo cái số kiếp trâu chó của thằng bạn mày mấy tháng trước không thì nói! Tao tạm tha, từ nay tao còn thấy cặp mắt của mày láo liêng nữa là cho rớt ra ngoài đó nghe không?


Thằng này tái mặt. Nó còn lạ gì tính khí Bảy Minh, người đã từng dùng tay móc đui mắt kẻ chiêu hồi dạo nọ. Nó lỉnh đi nằm bẹp một xó và từ giờ đó không dám ngóc mặt lên nhìn ai nữa. Chắc đồng chí hỏi tại sao không trừ luôn nó đi để tránh hậu họa cho người sau? Khó đó. Một là nó chưa hội đủ bằng chứng, hai là gây án mạng lúc này rất bất lợi, địch sẽ phong tỏa không lọt ra được.


Chúng tôi không đi đúng ngày 5 mà chuyển sang ngày 6 để đón mưa. Đêm ấy mưa thật. Mưa rả rích không nặng hạt nhưng cũng đủ để nhòa đất nhòa trời rất lợi cho việc bò rào.


Hành trang đi đường của chúng tôi ngoài cơm khô, lon sữa ra, còn có thêm một chiếc võng tự khâu bằng bao bố đựng cá xin được của nhà bếp để phòng khi phải cáng nhau và con dao găm khá bén làm bằng cán cái ca USA để chống trả với cá sấu nếu đúng xung quanh đây đầy cá sấu như bọn lính hù dọa.


Phòng giam ban đêm đóng cửa. Cửa cũng bằng thiếc, đóng sơ sài không có khóa chốt, có thể khéo léo nâng cậy lách mình qua được, nhưng chúng tôi không chọn lối ra ấy để tránh con mắt đã quen hau háu nhìn vào cánh cửa của bọn gác. Chúng tôi ra bằng kẽ hở của chân tường. Kẽ hở này hẹp, chỉ rộng hơn một gang tay, người bình thường khó qua được nhưng thân xác tù tòng teo chẳng khác chi con nhái, hẹp vậy chứ hẹp nữa vẫn có thể dán mình trườn qua không tiếng động, miễn là cái sọ dừa đừng kênh kênh quá!


Cẩn thận lôi cái ca đựng đầy sình đã chuẩn bị sẵn ra khỏi hốc phản, chúng tôi thay nhau trét kín vô người làm một động tác hóa trang đặc công thông thường rồi bắt đầu khởi sự.


Sắp ra hết tường, tôi quay nhìn lại phòng giam lần chót để thấy những đồng đội thân thương của mình vẫn đang nằm úp thìa, gầy guộc, rách rưới trong giấc ngủ nặng nhọc, để đón nhận ánh mắt duy nhất của đồng chí bí thư Đảng ủy nhìn theo kích lệ rồi mới trườn tiếp qua sân. Chúng tôi không hề hay rằng đây là lần cuối cùng còn được nhìn người cán bộ Đảng chững chạc, trầm lặng và hết lòng vì anh em ấy. Khoảng sân này rộng chừng hai chục thước, trắng lốp không một ngọn cỏ, nếu trời trăng thì chịu nhưng may mắn là trời đang mưa, ánh sáng lòa nhòa, bọn gác cũng đang bận chụp áo chụp mũ tránh nước mưa tạt tứ bề nên – bằng những động tác đã được tập luyện kỹ lại dưới gầm phản mấy ngày vừa rồi, chúng tôi vượt qua không mấy khó khăn.


Bây giờ mới là công việc chính, vượt qua hàng hai, ba chục lớp rào đầy mìn  trái, chó, ngỗng bao bọc phân khu và khu. Hết hàng rào của khu, còn phải lọt qua bảy lớp rào bọc quanh toàn bộ nhà tù nữa. Liệu có xong được trong đêm không hay là sáng ra còn nằm ló đuôi giữa đống bùng nhùng kẽm gai để lính nó nhặt về đóng đinh vô sọ?


Đã đánh đặc công trên trục trận nhưng chưa có cứ điểm nào lại có hệ thống rào như thế, nếu là mục tiêu tác chiến, chúng tôi phải bỏ ra bốn đến năm đêm mới chui qua hết. Chỉ có cái khác là trước đây bò vô, bây giờ bò ra. Bò ra có cái dễ và có cái khó của nó. Tức là người lính vượt ngục phải thực hiện một mục tiêu ngược.


Mìn trái đối với chúng tôi không ngại. Rà phá quen tay lắm rồi, dây nhợ kiểu nào cũng phát hiện ra. Nhưng còn chó, ngỗng thì thật là nan giải. Theo lẽ, muốn khắc phục ba cái con vật mắc dịch này phải vô hiệu hóa được chúng bằng cách “miễn dịch”. Tức là ngày ngày phải xé quần xé áo của mình ra từng miếng nhỏ quẳng cho chúng nhai hít hoặc ráng tạo điều kiện gần gũi, kè kè da thịt vô mõm chúng để dần dần tạo cái thế quen hơi bén mùi cho khi ra. (Sau này tụi chỉ huy hình như biết thóp, chúng cũng đột ngột đổi chó như đổi quân cảnh để chống lại khả năng “miễn dịch” của ta). Đằng này bọn tôi vội quá, không kịp huấn luyện chúng vì để chậm hơn, theo một nguồn tin của anh em quân cảnh giác ngộ cho hay, chúng sẽ lôi phân nửa số tù sang khu biệt giam khác. Trường hợp Ba Toản còn căng hơn: Nếu chỉ ra chậm một ngày thôi là cả cái tổ “cứng đầu” ấy sẽ bị gọi đi thủ tiêu.


Cái có thể yên tâm là cả tháng nay áo xống của ba thằng đã làm bộ vô tình quảng đại lên hàng rào phơi trước mũi chúng cả ngày lẫn đêm rồi.


Đúng như dự đoán, sau khi gỡ được mấy trái mìn, kể cả thứ mìn râu nằm sâu trong đất chỉ ngóc lên cái râu bằng que tăm lên trên mà khẽ ấn xuống chút xíu, nó sẽ nhảy dựng lên nổ ngang mặt, có thể cho đi đoong cả một con bò khổng lồ; chúng tôi bò tới lằn ranh súc vật. Tôi bò đầu, Tư phước bò sau, Bảy Minh bò sau nữa. Khi nào mệt, căng thẳng quá sẽ dùng chân bấm báo hiệu hãy chuyển chỗ thay cho nhau. Có lẽ do mưa rét nên đêm ấy chó, ngỗng cũng co cụm lại, lia rách mắt cũng chỉ thấy những vật thể đen sì không ngọ nguậy. Ổn rồi! Tôi nhoai người lên trước… Bỗng tôi lạnh toát khắp người. Có một cái gì đó nhờn nhờn ram ráp đang chạm vô be sườn tôi, chả lẽ chúng lại mới sinh cái trò thả rắn? Tôi nằm cứng người và nhịn thở. Cái nhờn nhờn chuyển lên lưng… lên vai… rồi lên cổ. Nhột không chịu nổi. Cùng lúc, một mùi hơi ẩm xì xộc vào mũi… Ôi chao! Một cái đầu chó bự bằng cái đầu sư tử đang há hốc miệng nóng giẫy vô mặt tôi. Mày cắn, tao sẽ cắn lại rồi muốn sao thì sao! Tôi nghĩ thế và ráng im thở thêm chút nữa. Thời gian trôi qua lâu bằng cả cuộc đời. Lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là thời gian ngưng đọng đặc quẹo như mấy cha nhà văn hay nói. Thật hên! Có lẽ con béc giê giống Anh đã nhận ra một hơi hướng quen thuộc hoặc nghĩ rằng tôi là một xác thịt đã thối rữa nên sau khi liếm quấy lên mặt tôi một cái, nó khìn khịt bỏ đi. Dáng đi của nó đủng đỉnh giá lạnh như thần chết…


Cứ thế, gần sáng, chúng tôi đã ra đến lớp rào cuối cùng, sau khi đã gỡ thêm được non chục trái nữa. Trên đường ra chỉ có một sự cố nhỏ. Tự nhiên cả nhà tù mất điện vào lúc hai giờ. Có lẽ điện chập mạch do mưa hoặc nhà đèn hư aptômat? Vậy là chúng bắn. Khắp nơi đều bắn. Đạn xì xé nát màn đêm. Vừa bắn chúng vừa la hú: “Ê! Thằng nào kia?… Đứng dậy đi, tao nhìn thấy rồi. Ê! Thằng nào kia nữa? Thảy tạc đạn cho chết mấy thằng tù đang bò lóp ngóp kia, anh em!”. Chà! Cái trò con nít đụng hoài rồi, kệ cha nó, việc mình bò cứ bò. Đèn tắt, chúng huy động các loại xe ra mặt lộ giữa rồ máy rọi đèn pha sáng quắc và trực thăng cất cánh thả hỏa châu rơi nhòe nhoẹt trên đầu nữa. Vui như ngày hội hoa đăng. Cứ lẩn mẩn nghĩ giờ này ngoài ba đứa tôi ra, liệu còn có tốp vượt ngục nào khác cũng đang nép mình nằm dưới ánh sáng đủ màu này không?


Tình trạng hỗn loạn đó kéo dài được nửa giờ đồng hồ thì đèn đóm lại bật sáng. Chúng tôi tiếp tục bò, đoạn nào lom khom, hoặc ngồi xổm, đi được thì đi. Để ra được đến ngoài, chúng tôi phải vận động không ngừng nghỉ mất gần 8 tiếng. Tám tiếng ấy chúng tôi đã trườn qua đội hình hai khu và 4 phân khu tức là trườn chéo qua khoảng tám mươi cái nhà giam anh em mình. Bỗng dưng, đồng chí ạ, cứ ao ước đây không chỉ là một tổ mà là đầy đủ một trung đoàn, nhất định sẽ phá phăng cái nhà lao khổng lồ này ngay trong đêm nay.


Khi mình nằm sấp ở ngoại vi hàng rào nhìn lom lom vô trong bỗng thấy lòng dạ nhói lên. Thế là thoát! Thoát có ba thằng liệu ngày mai chúng nó có hành hạ trả thù anh em còn ở lại không? Tự dưng ân hận cớ sao không rủ thật nhiều người cùng ra! Ra được kia mà. Thôi, đời tù ngục nó là như vậy, xin tạm biệt tất cả anh em. Theo lệ thường, sớm mai chắc anh em sẽ lấy đá ném sang khu bên cạnh có kèm theo mấy chữ thông báo khu bên này đã vượt ngục thắng lợi một tổ… Xin cảm ơn anh em đã nhịn cơm, nhịn sữa, thuốc, nhường cho chúng tôi. Cảm ơn…


Ngày hôm đó chúng tôi ém tại một lùm cây rậm rạp có sình lầy ở dưới, cách nhà tù chừng hai cây số. Hai cây số là đủ để chúng không dám mò ra đi lùng sục vì sợ trái gài của du kích, và chúng tôi cũng không thể đi xa hơn vì trời sáng mất rồi.


Một ngày ngồi thu lu thần kinh căng thẳng, gạo sữa mỗi người chỉ dám nhấm nháp một chút nhưng thấy thấm thía vô cùng cái nghĩa của tự do.


Sẩm tối, chúng tôi nhằm hướng Bắc đi tới. Tại sao lại hướng Bắc? Cả hòn đảo này, chỉ có hướng Bắc là lắm núi nhiều rừng, mà ở đâu có nhiều núi rừng là ở nơi đó có căn cứ cách mạng. Tôi suy đoán áng chừng vậy và cương quyết cắt đi.


Đi được một lúc thì đụng một cửa biển. Nếu không nhầm thì đây là cửa Cầu Sấu như tụi lính kháo. Men theo bờ lại sợ vướng đồn, cả bọn quyết định đi tắt qua cửa biển bằng cách bẻ củi khô ghép thành bè. Chà! Bè mới trôi được một đoạn thì đã nghe thấy tiếng sấu đập đuôi ùm ùm khắp xung quanh. Kệ nó, miễn là không rớt khỏi bè và bè không bị chúng phá tan. Mà dù có tan cũng không sao. Mỗi người đã có một con dao găm inốc sẵn sàng ăn thua với chúng, xá gì. Chết ư! Cũng được thôi, kinh khủng thật nhưng còn ngàn vạn lần hơn cái chết tức tưởi trong tù. Sự vững tin pha một chút bất cần này đã khiến chúng tôi tạo được sự tỉnh táo cần thiết để tiếp tục vục tay xuống khoát nước thay mái chèo. Tiếng sấu quẫy thưa vắng dần. Kỳ thực đó là tiếng sóng vỗ vào hốc đá chứ không phải là tiếng sấu đập đuôi, bởi lâu nay nghe bọn lính hù dọa mà chúng tôi tưởng tượng ra sự rùng rợn như vậy.


Đi được chừng hai cây số thì ai nấy đã thấm mệt, nhất là khát, chịu không nổi, Tư Phước bụm tay uống mấy vốc nước mặn. Lạ chưa? Không rõ bụng dạ trong tù ăn uống tồi tệ thế nào mà mới chạm nước biển một chút là ông ỉa chảy liền. Chảy dữ dội, chỉ thoáng chốc toàn thân đã rũ ra như tàu lá héo. Tôi vội khui hộp thuốc hồi dương của đồng chí cán bộ Đảng đưa cho nhét vô miệng Tư Phước! Mấy phút sau cơn đi chảy cầm được.


Thêm một tiếng nữa thì đụng bờ. Chèo qua ghềnh đá vô sâu trong rừng thấy có lán trại, cọc cành đã mục, mừng lắm. Vậy dứt khoát có người của ta. Bọn lính không có lối ở lán trại kiểu này. Phấn khởi xóa dấu chân hăm hở đi tiếp. Vẫn men theo bờ đi về hướng Bắc. Đi lò dò từng đoạn để lắng nghe động tĩnh. Cái sợ nhất lúc này là đâm đầu vô lính. Sáng ra vội tạt vô rừng. Gặp mạch nước trong, cả ba chúi đầu chúi cổ làm một bụng no tròn. Thỏa thê rồi, trèo lên chạc cây ngắm biển, ngắm mặt trời lên mà ngây ngất cả người. Mang tiếng là tù đảo nhưng ra đảo đã lâu rồi, có bao giờ được nhìn cảnh biển cảnh trời hùng vĩ đường này!


Rừng rậm kín bưng. Yên bụng lăn ra ngủ. Một thức hai ngủ. Chưa bao giờ có một giấc ngủ giữa rừng ngon lành đến thế. Trưa tỉnh dậy, bụng đói cồn cào. Lại lấy cơm khô nhấm nháp vài miếng rồi uống nước cho cơm trương lên. Một cân cơm ấy, mỗi người chỉ cần táp mấy miếng là sạch trơn nhưng đâu dám. Phía trước còn bao nhiêu ngày lặn lội nữa, ai mà hay. Thấy cây cám, mừng quá, nhảy lên trèo hái đầy một chiếc quần lót để làm lương khô dự trữ. Riêng hộp sữa dở, chỉ dám cho Tư Phước mút hai mút rồi đóng lại. Nhìn cái miệng cậu ấy chóp chép còn thèm mà thương quá!


Nắng dịu, cặp rừng đi. Cả ba gần như trần truồng, thân hình chỗ đỏ chỗ đen dòm như ba gã người rừng trong phim truyện của Pháp hồi đi học có được xem.


Gần tối, phát hiện thấy một chiếc thuyền cây từ ngoài khơi đang đi vô. Tưởng là thuyền đánh cá của dân, tính khoát tay gọi vô xin đồ ăn và hỏi thăm, quá giang nhưng thoáng thấy màu áo lính lại thụt vô. Đây là con tàu tuần tiễu biết đâu đang đi đón lõng mấy thằng tù vượt? Đi tiếp. Trong ráng chiều chợt phát hiện ra ba chú sứa đang bị sóng triều dềnh lên dềnh xuống ven bờ cát. Đến gần nhìn kỹ. Một màu đỏ một màu tím và một màu trắng to bằng bàn tay. Mới cầm vô cái thân mềm mềm âm ấm của nó, nước miếng đã muốn nhểu ra. Thèm quá! Vội bứt lá rừng, loại lá sắc cạnh cắt nhỏ từng chú ra thành những miếng hình quân cờ béo ngậy, sau đó ba anh em lấy nhúm muối đã xin được trong bếp tù ra bóp bóp, nắn nắn, và ăn, ăn lấy ăn để… Chưa hết một miếng, cả ba đã nhổ ra phì phì. Nhổ hết rồi mà lưỡi vẫn ngứa cong lên. Bảy Minh hụp miệng xuống biển súc sùng sục, vẫn ngứa. Tư Phước thò tay vô miệng muốn móc họng ra… Đến là khổ! Sau mới biết: loại sứa xinh xẻo bằng bàn tay là sứa lửa, ăn vô có khi chết. Vậy mà không hiểu sao chúng tôi chỉ bị ngứa lưỡi thôi.


Trời còn chạng vạng, tranh thủ đi tới nữa. Gặp con suối nhỏ. Mò bì bõm hồi lâu không bắt được con cá nào. Tôi chộp được mấy con tôm bằng ngón tay út chia đều ra. Con tôm còn đang nhảy nhảy, bẻ qua râu càng rồi nhét tọt vào miệng, đệm thêm hạt muối, nhai bã ra mới nuốt. Chao! Ngọt như sâm, thịt tôm chảy tới đâu, thân thể giãn ra tới đó.


Lại thay nhau đi trước đi sau. Đến lượt Bảy Minh dẫn đầu. Tội nghiệp, một mắt sáng, một mắt vảy cá không nhìn thấy gì nhưng cái dáng vẫn đi phăng phăng. Trời sụp tối, chợt nghe tiếng con nít khóc ở đâu đây. Cả ba lặng người, không đi nổi nữa, chân tay muốn nhủn ra. Bao nhiêu năm chinh chiến, lại mấy năm tù đày toàn máu me, chết chóc. Tiếng con nít khóc đêm nay kéo ngược đầu óc chúng tôi về những mơ ước bình dị nhỏ nhoi đến trào nước mắt. Trái tim người lính chiến trận tù đày tưởng chừng đã chai lì mốc mác vậy mà ở một góc sâu xa nào đó vẫn còn nhiều yếu mềm đến thế.


Tư Phước được đào tạo chính quy, vốn là tay có đầu óc tham mưu kha nhạy nên phán đoán đây không phải ấp chiến lược mà là tiếng con nít khóc trong đồn. Hỏi tại sao! Anh trả lời: “Chả có ấp chiến lược nào chúng lại khờ khạo lôi ra tận mép biển để Việt cộng dễ đột nhập như thế này”.


Nghe phải, chúng tôi xắn vô rừng chừng một cây số rồi lại nhằm hướng Bắc mà đi. Bỗng rầm một cái thấy Bảy Minh ngã sấp ngã ngửa trong đám dây nhợ lằng nhằng. Chạy lại gỡ ra được, bấm nhau lui lại một đoạn mới thấy hú hồn hú vía. Mắt vảy cá không nhìn rõ, anh chàng đã dẫn tổ nhào vô trúng hàng rào đồn địch (sau này biết là đồn Hàm Ninh). Lại lùi thêm mấy trăm mét nữa. Xung quanh rừng lá kín bưng, hết thấy đường bèn bảo nhau mắc võng ngủ đại rồi tính. Mệt rã rời, đói nữa nhưng không ai ngủ được. Nằm nghe muỗi vo ve và tiếng rađiô văng vẳng mà biết rằng trời chưa đến nỗi thật khuya và kẻ thù đang ở sát gần nhưng mệt quá, thây kệ. Gần sáng thiếp đi được một lúc, lúc choàng mắt tỉnh dậy thấy lô cốt địch xù xì đập ngay vào mắt. Không còn kịp định hướng nữa, ai nấy quáng quàng cuốn một cục võng rồi tông qua con suối sau lưng rộng chừng mười lăm mét (sau này mới rõ đó là suối Hàm Ninh). Hết suối, chạm một cục rừng nữa. Ló ra bìa rừng nhác thấy một trảng cỏ tranh xanh tốt và ở giữa có một con lộ đất đỏ khá rộng chạy qua. Lúc ấy ai đâu biết đó chính là con lộ chạy ngang đảo nối Hàm Ninh với Dương Đông dài 14 cây số. Đang phân vân chợt phát hiện một đám tám cô con gái mặc quần áo đủ màu đạp xe phấp phới đi về phía đông đường, chắc là đi chợ thị trấn, vì dáng đạp xe hối hả lắm, lại thêm túi tắm, quang sọt buộc lỉnh khỉnh đầy ghi đông. Đang trong tình huống lưỡng nan nguy hiểm mà cả ba người cứ đứng ngẩn ra. Lâu lắm rồi mới lại được nhìn thấy bóng dáng đàn bà con gái rõ như thế này. Và tưởng không bao giờ còn được nhìn thấy nữa! Năm đó tất cả còn trẻ, tôi chưa đến bốn mươi tuổi còn hai người kia mới độ tuổi trong ngoài ba mươi. Những cái bóng dáng thanh bình ấy thật trái ngược với những tháng ngày u ám vô vọng của chúng tôi vừa trải qua. Bảy Minh là một con người vui tính và hay mơ mộng nói thì thầm:


-         Trời ơi! Chỉ cần một lần được nhìn thấy những hình ảnh kia là có chết cũng nhắm được mắt.


Nhưng cả con mắt vảy cá đó và những con mắt của chúng tôi đều phải hết cỡ mở ra để chạy ù qua lộ. Mới qua khỏi được chục mét, hai cái bóng trắng đàn ông ở đâu đột ngột ngóc lên trước mặt khiến cả ba vội nằm bẹp xuống. Thấy hay không thấy? Chúng tôi đưa mắt hỏi nhau nhưng không ai trả lời được cả. Cuối cùng vẫn Tư Phước nhận định: “Nếu thấy dứt khoát họ sẽ đi nhanh hơn hoặc bỏ chạy. Nếu họ vẫn đi bình thường thì tức là chưa thấy gì hết!”. Tôi trèo lên cây dõi nhìn theo, hai cái bóng trăng trắng vẫn chuyển động bình thường về phía rừng chứ không phải về phía bốt. Chắc họ đi bẻ củi về chụm, vậy thôi.


Khoảng giờ Ngọ, đảo mắt khắp nơi thấy vắng tanh, đồng không mông quạnh, chúng tôi mò ra tận mặt lộ. Một tấm bảng gỗ cắm bên lề đường có ghi: “Hỡi anh em binh sĩ! Đi càn quét chớ phá hoa màu của nhân dân”. Chữ của ta, của anh em cách mạng rồi. Mừng quá phán đoán thêm: Mặt bảng có chữ dứt khoát là hướng địch, lưng bảng phải là phía ta. Chúng tôi nhằm hướng lưng bảng gỗ cắt đường đi tiếp. Được một đoạn, thụt giò xuống công sự mới đào, đất còn đỏ tươi, càng chắc trong bụng. Chỉ có công sự của ta mới đào kiểu có nắp thế này. Công sự của địch thường đào lỗ tròn, nông hơn chỉ dùng để tránh đạn chứ khỏi cần phải sụt lút đầu người để tránh được cả bom lẫn pháo như ta. Nhưng cũng chính trong cái công sự xâm xấp nước ấy, anh chàng Tư Phước lại giẫm phải một con rùa đang nằm thoi thóp. Vốn dân tộc Tầy nhưng Tư Phước lại duy tâm, tỏ ra lo lắng: “Gặp rắn thì đi, gặp qui thì đừng! Sao bây giờ?”. Bảy Minh quạu: “Rắn, qui gì cũng đi ráo, miễn là đừng gặp địch”.


Đi tiếp một đoạn nữa thấy hai bóng người một già một trẻ đi qua. Ông già cầm hai trái tạc đạn M26, người trẻ đeo cây súng K44. Chút xíu nữa tôi đứng thẳng người dậy vì cây K44 đó. Loại súng cổ lỗ sĩ địch làm gì có, chỉ tồn tại trong hàng ngũ của ta. Nhưng câu nói: “Con vừa được phong thiếu úy, chú Năm” của người trẻ tuổi khiến tôi sựng lại. Trong cách mạng chỉ gọi trung đội bậc phó, trung đội bậc trưởng chớ ai kêu úy úy, tá tá? Không ổn rồi! Coi chừng bọn biệt kích giả dạng. Giả dạng nên mới mang súng đàng mình. Chúng tôi khe khẽ lộn trở lại trảng tranh nằm chờ. Chừng mặt trời sắp lặn, tám cô gái đi chợ về, tiếng nói cười râm ran cả khoảng không gian tĩnh mịch. Tư Phước bàn phải bắt được một cô để khai thác. Vốn là sĩ quan quân báo kiêm đặc công, Tư Phước rất thành thạo trong việc bắt “một cái lưỡi” như thế này nhưng hiềm một nỗi cả tám cô đều đi dính nhau, không thể tóm riêng một cô được. Cả ba tên tù vượt ngục nhìn họ qua dần mà tiếc rẻ! Đúng lúc đó Bảy Minh phát hiện ra bóng hai cô nữa đang lặc lè đạp đàng sau cả đám một quãng xa. Đây thuộc tốp khác và chắc là một tốp can đảm vì trời chiều mấy ai dám đạp xe lẻ loi trên con lộ giáp ranh ta địch thế này.


Chúng tôi ra tay… Chớp mắt, hai cô đã ngồi gọn trong lùm cây rậm, bạc mắt nhìn chúng tôi, toàn thân run như thằn lằn đứt đuôi, một trong hai cô nước mắt nước mũi giàn giụa. Chắc hai cô nghĩ rằng mình đang rơi vô tay ma quỷ chớ không phải người. Tôi không xưng mình là tù vượt ngục, lấy giọng thật ôn tồn hỏi:


-         Xin hai cô đừng sợ. Chúng tôi là những người dân đi làm ăn từ phương xa tới, đến đây bị lạc đường, lại hết lương ăn, muốn hỏi đâu là vùng tự do, đâu là vùng bất hợp pháp để còn biết lối mà đi tiếp, không lại rầy rà chuyện tên bay đạn lạc của hai bên.


Cô lớn tuổi hơn nhìn chúng tôi nghi ngờ. Mà nghi ngờ là phải. Vì có cái thứ dân làm ăn nào mà lại toàn thân nghẻ lở, da bọc xương như chúng tôi – Nhưng cô vẫn run rẩy chỉ tay về phía trước:


-         Vùng giải phóng của mấy ông Việt Cộng ở đây kêu là vùng bất hợp pháp. Vùng mấy ông quốc gia kêu là vùng tự do. Vùng này nè!


Chúng tôi cảm ơn, xin lỗi một chập, lấy xe ra trả rồi bấm nhau đi ngược lại phía “vùng tự do” như cô gái nói. Nếu hai cô này đi luôn thì có nghĩa là thông tin đó đúng. Còn ngược lại, hai cô rắn độc này có thể bươn bả kêu lính ra bắt lắm chớ. Chờ hoài chờ mãi… Quả nhiên một lát sau hai cô đi trở lại với hai người đàn ông, nhưng hai người này không phải là lính mà lại chính là ông già và anh con trai đeo K44 hồi trưa. Chúng tôi nín thở. Một cô gái giơ tay chỉ. Ông già đi về phía chỗ chúng tôi đang núp, tay lăm lăm lựu đạn. Chúng tôi vẫn im lặng. Tới gần, ông già đưa tay lên miệng khẽ gọi:


-         Cách mạng đây!… Cách mạng đây! Anh em tù binh vượt ngục hãy ra đi, hãy ra đi!


Tiếng gọi da diết dữ lắm. Tôi nói nhỏ: “Cứ ra, nhưng cảnh giác áp sát từng người, nếu cần ta thẳng tay!”. Và thứ tự từng người rời khỏi bụi rậm.


Ông già nắm chặt tay chúng tôi và mời thuốc Báttô. Tôi thì không cầm, mặc dù thèm lắm! Ông già cười thật hiền:


-         Mấy chú nghi Báttô của lính hả? Không có sao, thuốc gì thì thuốc miễn là có cái hút là được. Nói giỡn chơi, thuốc đây của chú em này phục kích lính đêm qua lấy được.


Ông già tay vỗ vai người trai trẻ. Anh này cười rất tươi. Hai cô gái cũng cười. Tới lúc ấy chúng tôi mới vội ngồi thụp xuống, vì chợt nhớ ra trên thân thể cóc cáy của mình hầu như không có miếng vải nào cho ra vải để che thân. Hai cô gái kín đáo quay đi, nước mắt rơm rớm. Chà! Điếu thuốc Báttô nặng vậy mà tôi chỉ lõm má rít bốn hơi là hết. Thở khói ra thấy đất trời đảo điên, tan loãng. Lúc đó tôi muốn nhái lại câu của Bảy Minh: “Lúc này chết được rồi!”.


Đêm hôm đó sau ba ngày lặn lội, chúng tôi thả mình trên nệm lá ngủ một giấc ngon lành. Ba ngày… nếu biết đường, chúng tôi chỉ phải đi ba tiếng. Cũng còn là may, sau này đám Ba Toản, đám Hai Hồng phải lang thang hết mười ngày, mười lăm ngày mới đụng căn cứ.


Sáng hôm say ông Năm Tiên (chính là ông già cầm tạc đạn) cán bộ xã Hàm Ninh cùng anh con trai đưa chúng tôi về căn cứ. Tò mò hỏi cớ sao anh lại kêu được phong thiếu úy? Anh cười, vẫn nét cười thiệt là tươi: “Kêu cho vui. Vì trung đội trưởng phiên ra cũng bằng thiếu úy – Vậy thôi”.


Chưa kể đến căn cứ, chúng tôi gặp đồng chí chính trị viên huyện đội dẫn một tiểu đội đi nghiên cứu chiến trường. Đó là anh Năm Sĩ. Gặp chúng tôi anh mừng lắm. Vỗ vai một người khỏe mạnh, nước da trắng xanh cùng đi, anh nói:


-         Đây là đồng chí Thủy, cũng là cán bộ đặc công vượt tù ra tháng trước. Giờ thêm ba ông đặc công nữa, ngon rồi! Huyện sẽ thành lập một phân đội đặc công được rồi.


Đó là lý do dẫn đến những năm tháng sau này tôi được phân công làm đội trưởng, Tư Phước là chính trị viên đội đặc công đầu tiên của đảo. Có giai đoạn hoán vị ngược lại. Vậy thôi, đồng chí ạ! Chuyện tù đày xưa cũ quá rồi, tôi kể như thế cũng là nhiều. Sang năm. Nếu rảnh, mời đồng chí lại tới đây ta nói chuyện khác, chuyện làm ăn, chăn nuôi, trồng trọt cho đỡ nặng cái đầu. Khi đó chắc cái công trình Hồ Gươm của tôi xong rồi. Ta sẽ ra giữa hồ, ngồi ở chính tháp Rùa của tôi nhậu lai rai. Hỉ?…


Tôi cười và gật đầu lấy lệ cho ông vui lòng. Khốn khổ! Cái nghiệp chữ nghĩa văn chương có phải lúc nào muốn đi là được đi đâu. Có những mảnh đất đặt chân đến một lần, có những con người ta gặp một lần rồi không bao giờ có dịp gặp trở lại nữa.


Tôi hỏi ông về Ba Trân. Ông trả lời cũng giống như nhiều người rằng có nghe nói nhưng chưa lần nào trực tiếp được gặp. Ông hỏi lại tôi sao cứ Ba Trân… Ba Trân hoài vậy? Tôi nói đang đi tìm một người đứng đầu Đảng trong tù vì vô lý khi cả một cái nhà tù bốn chục ngàn người ấy lại không một đường dây lãnh đạo. Ông ậm ờ và nói tôi cứ thử đi tìm xem chứ theo chỗ ông ta là người trong cuộc thì ba cái chuyện này khó lắm.


Tôi lại định hỏi ông về Quang, người chồng của bạn vợ tôi nhưng không cất nên lời. Câu chuyện bốn giờ đồng hồ ngược về dĩ vãng đã khiến ông mệt mỏi lắm rồi, có hỏi thêm chắc ông cũng không nhớ được gì? Ngay như anh Hồng, có người bảo đó là một phó tư lệnh quân khu, một cán bộ Đảng chững chạc như thế còn chưa biết đúng hay không, huống chi là một trung úy Quang nào đó. Vâng! Nhất định trước sau tôi cũng sẽ hỏi bằng ra, cũng như câu chuyện nhà lao Cây Dừa này có biết bao nhiêu câu hỏi đòi được trả lời!


Tôi thầm hứa với người đàn bà tội nghiệp ấy như vậy.


 


7


 


Đáng lẽ trong chương này tôi sẽ chuyển sang một khu giam khác, một cách thức vượt tù khác nhưng không hiểu sao tôi chưa thể dứt bỏ được hình ảnh anh Ba Toản, với khu giam hạ sĩ quan của anh. Bốn mươi hai lượt người ra là bốn mươi hai lối ra khác nhau, lượt này không thể thay thế được lượt kia, nó chỉ có tác dụng khơi sâu và bổ trợ mà thôi. Hy vọng rằng lối ra của nhóm anh Ba Toản và lối ra của ông Cáp Đình Hội tuy tưởng chừng giống nhau, song nó lại tồn tại hoàn toàn độc lập. Vì vậy, giống như trong cuộc sống xô bồ tôi đâu có dám đi tắt được chuyện đời.


Đúng như ông Hai Hội nói, nếu nhóm của Ba Toản chỉ ra chậm một ngày thôi thì bữa sau, chính Ba Toản sẽ được kêu tên đi thủ tiêu. Nguyên do là một mâu thuẫn nội bộ đã để lọt vào tai địch.


Thoạt đầu Ba Toản chỉ quyết định rủ có ba người, hay nói cách khác là chỉ thu nhận có ba người: Anh Hoạch, trung đội trưởng pháo và anh Tiến, người cùng quê với Hoạch. Ba người cho một cuộc vượt tù là gọn, là đã hiểu nhau, tin nhau qua bao thử thách trong tù, mặc dù đoán biết anh là lính đặc công có hạng, không ít người đã lần mò tìm đến anh xin được cùng ra. Thật là trớ trêu và thú vị. Trong trận mạc, người lính đặc công được yêu tin nhất, kẻ thù run sợ nhất và chiến đấu cũng gian nan khổ ải nhất; nay trong tù ngục, anh chiến sĩ đặc công vẫn đứng đầu sóng ngọn gió gánh tiếp cái chức phận tinh nhuệ nhọc nhằn của mình trước vận mạng và sự sống của đồng đội. Tức là anh, dù muốn hay không cũng phải là người đứng tên. Đứng tên đồng nghĩa với cái chết nếu kẻ thù phát hiện ra. Phải chăng chính vì thế mà, người muốn ra thì đông nhưng người dám đăng cai mạng sống của mình lại dường như không có ai.


-         Trong tù nó khó thế đấy anh ạ!


Anh Thu, người cùng ra với anh Ba Toản nói trong hơi thuốc lào phả ra thơm nồng gian nhà ngói, người mà mấy tháng sau tôi mới tìm gặp được ở một xã xa đường quốc lộ thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Chính Thu đã kể cho tôi nghe phần chuyện này vì sau khi gặp ông Hai Hội xong, quay trở lại Khu Tượng tìm Ba Toản thì tôi lại được chị Ba trả lời anh đã lên rẫy mấy ngày rồi.


-         … Muốn làm được một cái gì đó dũng cảm, một cái gì đó vì mọi người là phải giấu giấu, giếm giếm như làm điều phi pháp – Anh Thu nói tiếp.


Bằng vào những lời kể đứt đoạn, chắp nối của Thu, con người tàn tật đã về hưu, tôi hiểu rằng đợt ra ấy không phải chỉ có ba mà là sáu người. Mà kỳ lạ! Những tù binh dũng cảm ngày ấy, hôm nay may mắn còn sống sót cho tôi có dịp được gặp thì hầu như tất cả đều chung nhau một số phận khá hẩm hiu là về hưu.


Người Toản, Hoạch, Tiến, khi sắp ra lại thêm Minh, quê Lái Thiêu; Dũng, Ninh Bình và Thu. Riêng ông Xạ, tổ trưởng tổ tù mười người do giám thị chỉ định cũng có ý nghĩa sáp nhập nhưng cung cách lại ngần ngừ. Ông Xạ đã ba lần tìm đường ra nhưng đều không lọt, bị đánh lên đánh xuống nên đâm sợ, kiểu chim ngại cành cong.


Chính sự ngần ngừ của ông đã bị một số người cầu an khai thác. Sau Mậu Thân số cầu an này càng nhiều. Họ chán chường mất tin ở Cách mạng, họ đổ lỗi cho Đảng đem con bỏ chợ, đổ lỗi cho lãnh đạo thiếu chiến lược tinh tường để lính tráng bị dìm trong biển máu. Họ than thở oán trách và họ nói với ông khuyên bảo Ba Toản và mấy người kia thế nào chứ hành động phiêu lưu như vậy chỉ thêm làm khổ nhau. Ý họ muốn nói, ra đã không được mà hôm sau bọn giám thị có cớ để cúp cơm, cúp nước, phơi nắng, phơi cát cả phòng, tội lắm! Có người hèn nhát hơn còn nói: “Nếu Ba Toản muốn ra thì để mặc một cậu ấy ra. Đừng coi mình là đặc công đặc quét mà muốn làm gì thì làm. Hàng trung đoàn đặc công ngoài kia còn bị đánh tan, le ngoe mấy đứa ra để làm gì?” Người trong nhóm Ba Toản nghe được cự lại, tiếng bấc tiếng chì đâm ra xúc phạm nhau, truy chụp đủ thứ lập trường tư tưởng nọ kia. Thậm chí Thu đã có bận siết cổ một bạn tù vào sát chân tường mắng là đồ phản bội, đồ hèn nhát, cần phải cho một bài học nhớ đời. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của một đồng chí cấp ủy bí mật thì chắc chắn án mạng đã xảy ra. Nhưng sự điều hành của cấp ủy không đủ để ngăn chặn câu chuyện vượt ngục lan tới tai bọn giám thị. Chúng họp bàn, chúng tính gài bẫy để chụp một mẻ lưới thật gọn, qua đó tìm ra kẻ cầm đầu xách động và cấp ủy bí mật. Nhưng chúng đã chậm chân. Một lính quân cảnh đào ngũ bị bắt lại, do bị đánh đập tàn bạo quá, bữa sau dựa vào việc phải phạt đi dọn hố xí cả tháng đã bí mật báo cho ta. Và ngay đêm đó tổ sáu người kịp thời hàng động. Trước giờ xuất phát, Ba Toản chính thức rà lại quyết tâm của tổ bốn người ông Xạ một lần nữa: “Nếu ông quyết thì đi theo luôn, còn không thì phải dứt khoát”. Ông xạ lắc đầu: “Đi đi! Mình ba lần rồi! Đã bị bẻ ngang ngón cái thành chân giao chỉ ba lần rồi! Mệt rồi! Lần này bị nữa thì chúng chặt đầu”.


Khác với kíp ông Hai Hội phải bôi đen người để nhòa vào màu đen cây cỏ, ở khu giam này nhiều cát trắng nên Ba Toản cho anh em ngụy trang bằng lọ nồi pha đất sét để tạo thành màu trắng nhờ nhờ. Và cũng khác với cách thức phơi áo phơi sương cho hết mùi của ông Hai, Ba Toản giúi cho anh em mỗi người một củ tỏi xin được của nhà bếp, đập nát xát vào người để làm phương thuốc tránh chó.


Có lẽ tôi xin dừng lại ở đây một chút nói về nghệ thuật ngụy trang của lính đặc công mà cho mãi đến tận bây giờ, các thế lực thù nghịch vẫn không tài nào hiểu nổi và vẫn trở thành một huyền thoại trong tâm tưởng những người hâm mộ. Qua đó mới thấy hết được giá trị và công sức của một hành vi vượt tù.


Thực ra nó rất bình dị. Bình dị như đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta.


Đặc công là gì? Nó không phải cái gì khác ngoài sự gan lì và kiên nhẫn. Gan lì để một người tiêu diệt được mười người, một trăm người. Kiên nhẫn để vượt được mọi chướng ngại, để chui sâu vào gan ruột kẻ thù. Một trong những bí quyết để tạo nên cái hợp chất lì lợm và kiên trì đó là nghệ thuật ngụy trang. Đặc công là đánh giặc trong đêm, là trần truồng tác chiến, là hy sinh thầm lặng, hy sinh đen đúa không quần không áo. Dựa vào ánh sáng trời, vào địa hình đất cát, đường băng, ánh đèn mà pha mình cho thân hình mình nhòa vào cây cỏ, chìm vào đất đai quê mẹ, lẫn vào bóng đêm thân thương. Ngụy trang thông thường bằng phần than của pin đèn nhào với lá khoai lang. Bọc nhọ này sẽ được hụm tay thoa vằn vện lên trên khắp thân thể, làm sao cho giống y sì một vạt cỏ, một be đất mỏng, làm sao cho đồng đội đứng ngay cạnh anh cũng không nhận ra anh. Và cái vạt cỏ, be đất hiền lành đó sẽ lặng lẽ trườn dịch từng phân, trườn dịch như không trườn gì cả qua hết lớp rào này đến hết lớp rào khác vào trung tâm kẻ thù. Thế là đặc công. Ban đêm ngụy trang xong, bạn bè chỉ nhận ra anh qua cái khẩu hình cười – Đó là nơi duy nhất còn để trắng bởi chưng khi bò có ai dại gì mà ngoác miệng ra cười mà phải bôi đen luôn cả răng lợi – Cái khẩu hình ấy mở ra rộng hẹp, méo tròn là biết thằng ấy là X hay là Y…


Trở lại cái đêm ấy.


Do được chuẩn bị kỹ, cộng hưởng thêm vào cái quyết tâm sinh tử: “Đi hay là chết” nên chuyến ra 6 người cũng khá trót lọt.


Bạn đọc có thể nhớ lại chuyến ra của cánh ông Hai Hội để tạm hình dung chuyến ra của cánh Ba Toản này. Chỉ khác có một điều: Cánh Ba Toản sắp vượt hết hệ thống rào thì bỗng đèn pha các cỡ bật sáng rực trời và súng các loại nổ vang lên ngay sát phía sau. Nổ lâu lắm! Tiếng nổ xen lẫn tiếng hò hét, tiếng động cơ xe rú máy, tiếng chó tru man dại và dường như có cả tiếng la hoảng thất thanh ở đâu đó. Cả tổ lặng người đi. Giây phút đầu tiên, tất cả đều nghĩ rằng số phận mình đến đây là chấm dứt. Thế là lộ! Đạn đang đuổi theo, quân cảnh đang xô đến… Chỉ lát nữa thôi, cả 6 người sẽ tan tành thân thể và sớm mai, khi mặt trời lên, bọn ác ôn sẽ nhặt họ lên như nhặt những miếng giẻ rách đẫm máu. Có người nấc lên đau xé, có người té đái trong quần, lại có người lầm rầm niệm Phật hay cầu Chúa gì không biết nữa, chỉ thấy ánh mắt ngước về cõi xa xăm mơ hồ… Riêng Ba Toản vẫn tỉnh táo. Anh phán đoán: Nếu lộ thì đạn sẽ xối ngay giữa đội hình và chó sẽ xồ đến trước hàng loạt các tiếng động chứ không phải cái chết đến mơn man vòng ngoài hoài thế này. Trong giây lát, anh đã định kêu tất cả cứ bươn lên. Bươn lên dù có trúng mìn, dù có ăn đạn chết gục xuống hàng rào còn hơn chết thê thảm trước miệng cười khoái trá của chúng nó và trước những mắt nhìn ai oán của đồng đội. Nhưng cũng chính lúc đó một tiếng reo bật lên sằng sặc: “Đ mẹ! Năm thằng, lại năm thằng này. Bắn bỏ cho rồi! “Đã khiến anh tĩnh trí lại. Sao lại năm? Tổ anh đang có 6 kia mà. Hay là… một suy nghĩ  lóe lên chạy lạnh xương sống! Hay là… Năm người hồi tối của ông Xạ? Nhìn ngoái lại đằng sau: những bóng đen đội mũ sắt đang đứng lố nhố xung quanh một cụm rào ở xa xa… Thôi đúng rồi! Cánh ông Xạ thật rồi! Tội nghiệp! Cúi đầu giây phút làm một động tác gần như mặc niệm, anh cắn môi dẫn đầu đoàn người tiếp tục bò ra… Ba lớp rào còn lại trước mặt đối với anh thật là thơi thoáng nhưng lòng anh lại trĩu nặng. Hình ảnh và con người ông Xạ bám níu lấy đầu óc anh, giữ chặt.


Ông Xạ… con người đầy bản lĩnh và đầy yêu thương cùng bị giam với anh từ những ngày ở Hố Nai, Biên Hòa chỉ do một phút đắn đo vị kỷ mà rồi không rõ số phận sẽ ra sao? Lần thứ nhất, chưa thật tin ở anh, ông cùng hai người nữa lẳng lặng ra một mình. Thiếu kiên trì nghiên cứu và thiếu cả kỹ thuật đặc công, họ bị bắt lại. Phải bò ngửa trên cát nóng hàng trăm vòng quanh sân cho đến ngất xỉu, đó là hình phạt đầu tiên ông phải trả. Lần thứ hai, chưa kịp hành động, ông đã bị tố giác. Lần này chúng bắt ông đi khiêng gỗ suốt một tuần liền với hai bàn chân đã bị bẻ ngoẹo ngón cái “cho hết chạy” như chúng nói. Cây gỗ bốn người khiêng, chúng bắt ông vác một mình. Đi nhanh thì không sao, kiệt sức đi chậm lại là chúng đánh thẳng hèo vào đầu gối cho quỵ xuống luôn. Một tuần trôi qua, ông không chết nhưng người không còn ra hình thù gì cả, cái lưng còng gập xuống, bước chân đi run rẩy thỉnh thoảng lại vấp ngã chúi xuống một cái. Chúng muốn ông chết nhưng nhờ sức chịu đựng kỳ lạ của thân thể một thời đi biển sóng to gió lớn, ông lại không chết. Được! Không chết càng hay. Chúng muốn biến ông thành thằng què, thằng gù để làm nhân chứng sống răn đe người khác. Nhưng chúng không ngờ rằng cái thân hình nửa sống nửa chết ấy của nửa tháng sau lại tìm cách trốn nữa. Trốn một mình. Trốn như một sự mộng du ma đưa lối quỷ dẫn đường. Lần này ông không bị lộ, chúng cũng không ngờ phát giác được ông nhưng sức tàn lực kiệt, ông nằm ngất đến sáng ngay giữa vòng rào. Đáng lẽ đời ông thế là hết, nhưng sự giận dữ của chúng đã chuyển thành kinh ngạc, từ kinh ngạc chuyển tiếp thành tò mò. Từ tên giám thị giết người không ghê tay đến tên chỉ huy đại đội quân cảnh đều muốn theo dõi xem cái vật thể dị dạng kia sẽ còn hành động thế nào nữa. Do vậy thay vì nhanh chóng thủ tiêu, tên giám thị chỉ bắt ông đứng úp mặt vào tường, đưa miệng ra cái khuôn tròn của vỉ sắt rồi dùng thước kẻ bằng đồng hình vuông khẻ gãy đủ ba cái răng cửa. “Trốn một lần… Lấy đi một cái này! Trốn hai lần… Tao lấy đi hai cái này! Trốn ba lần…” Cứ vậy, sau mỗi tiếng “này”, hắn lại kê đầu thước vào một chiếc răng và dùng lòng bàn tay kia vỗ cái bộp vào chuôi thước. Cắc! Tiếng thước gõ vào răng khô gọn và chiếc răng rơi xuống cũng khô gọn không kém. Mỗi lần chỉ rơi đúng một chiếc, đầu thước không bao giờ gõ lẹ sang chiếc thứ hai. Người tù khu giam ở đây đều gọi hắn là “Hung thần thước kẻ”. Tên hung thần khẻ răng có cả một cái bao cát đựng đầy nhóc răng tù này không ngờ rằng con người già cả, mồm miệng nhòe máu và dãi dớt kia lại vẫn quyết định vượt ngục lần thứ tư.


Và lần này cũng không lọt. Sau đó Ba Toản được biết tiếng súng nổ ồn ã kia là tiếng súng nhằm vào nhóm của ông. Thì ra vào giây phút chót, ông đã trở thành ích kỷ. Kẻ thù không làm ý chí ông rệu rã nhưng kẻ thù đã biến ông từ một con người giàu vị tha yêu thương thành một con người chỉ biết lo cho mạng sống của mình. Khi Ba Toản rủ ông ra, ông không ra vì e ngại cái sự ra lại thất bại. Nhưng ông đã thủ thế cả rồi. Người ta nói ông muốn cứ… để nhóm Ba Toản ra trước nếu suôn sẻ ông sẽ bí mật nối đuôi đằng sau. Còn nếu không thoát, ông sẽ hoàn toàn vô can. Thế là ở giữa, đằng nào ông cũng có lợi. Chỉ có điều cái khôn ngoan đó không gặp thời. Do ra nối đuôi cập rập mà có người trong nhóm của ông đã để y sì cả quần áo, bò rào. Lá rào dọc ngang chằng chịt, cởi trần truồng chui còn khó nữa là vướng víu áo quần. Thế là lộ… Số phận ông Xạ và cái nhóm đó sau này thế nào? Chết hay sống? Có ai nản lòng nhảy sang khu chiêu hồi không, Ba Toản không được biết. Anh chỉ buồn lòng ngậm ngùi trước sự thoái hóa của người bạn tù có thời kỳ nổi tiếng là mẫu mực và khí phách. Nếu đừng để mất lòng tin, nếu đừng quá vì bản thân mình, nếu biết dựa vào bạn bè chiến hữu thì đêm ấy ông và cả nhóm đâu có nằm gọn trong quầng sáng đạn lửa của kẻ thù!


… Ra khỏi khu vực giáp ranh nhà tù, nhóm vượt ngục Ba Toản không biết đường hướng ra sao, bèn bảo nhau tuốt lên một ngọn núi gần đó tránh né cái đã (Sau này mới biết là núi An Thới). Leo đến đỉnh, tất cả đều kiệt sức. Trời tối như bưng, gai mây cứa ngang cứa dọc, còn chút gì gọi là vải vương lại trên thân thể đều rách bung ra hết. Tính nằm nghỉ đại nhưng nghe tiếng máy đèn rù rù chạy ngay dưới chân, biết rằng chưa ra khỏi khu vực nhà tù, lại bảo nhau tìm đường đi tiếp. Trời càng tối, đường xuống núi càng mờ mịt. Mò mẫm hoài thì sáng trời mất nên tất cả ôm chặt lấy đầu, cuộn tròn người lại làm động tác tuột dốc… Tuột đến đất bằng, nhìn nhau nát bét nhận không ra. Nằm giạng chân giạng tay thở hồng hộc một chập rồi băng qua lộ. Gần sáng thì chạm bưng Ba Gà. Sự tích ở đây truyền lại rằng, cái bưng này nước rất độc, ai đi qua phải cúng ba con gà mới mong tai qua nạn khỏi. Tất nhiên người tù lấy gà đâu mà cúng. Họ dìu dựa nhau lội nước vượt bưng. Chao ôi! Những chỗ xước sát, toát lở vừa đông máu gặp nước chua phèn xót đến trào nước mắt. Vừa lên đến bờ, toàn thân còn rét run thì chợt có tiếng giày lính và tiếng chó sủa lộ lên. Khắp bốn xung quanh. Những người tù nhìn nhau mắt bạc phếch! Cái chết đã cầm chắc trong tay…


 


11


 


Cùng lúc đó, từ phía căn cứ Dương Tơ, có một tốp người len lách trong rừng đi ngược trở lại khu vực nhà tù. Họ ăn mặc không giống ai đủ kiểu, nón ba nút vàng của Mỹ, súng ga răng, súng cạc bin đủ cả.


Thoạt trông như một tốp thám báo thiện chiến chuyên lùng sục trong rừng. Nhìn kỹ khi họ rửa ráy dưới suối mới chợt nhận ra rằng: Cả tốp đều đi dép râu và trên khuôn mặt sau khi được lau chùi kỹ, nó hiện ra cái nước da sốt rét rừng tái tái màu xanh chì. Họ là ai vậy và lúc này họ đang đi đâu?


Mời các bạn cùng tôi ngồi xe máy đi hai chục cây số từ thị trấn đến Dương Đông rồi rẽ trái vào một con đường bò cát trắng phau dẫn tới nhà ông Ba Lon, một con người chỉ huy kỳ cựu của lực lượng vũ trang trên đảo.


Ông không có ở nhà. Tôi phải ngồi chờ đến gần chiều tối mới thấy ông lọm khọm đánh đàn bò ba mươi con từ ngoài đồi trở về. Rõ ràng khi biết tôi đến đây vì lý do gì, ông không mấy cởi mở. Vừa hùi hụi quát mấy con chó giống Phú Quốc luẩn quẩn dưới gầm bàn, ông vừa nói lơ đễnh bằng cái giọng còn giữ nguyên được chất Quảng Trị.


-         Chú coi, tiêu năm nay không hiểu sao vàng rụi hết trơn. Coi như bỏ. Tôi chuyển sang chăm mấy con bò thay thế. Chui cha! Thời buổi này sao mần ăn khó quá trời!


Tôi đưa mắt phóng nhìn khắp khu vườn râm mát và rộng dài, chạnh nghĩ: Nếu mai mốt hòn đảo cô đơn xa đất liền hàng trăm kilômét này trở thành đặc vùng sầm uất thì cái mảnh vườn đẹp như một cánh rừng ôn đới nơi đây dứt khoát phải tạo nên một mảng du lịch thơ mộng cho trẻ em đến cắm trại vui chơi, cho con trai con gái đến dựng những mái lều bạt mà tâm sự chuyện trò rủ rỉ giữa thiên nhiên.


-         Chú muốn biết chuyện cũ à? – Giọng ông Ba Lon vẫn đều đều, rõ ràng là không muốn bắt chuyện – Tôi giới thiệu đến Năm Sĩ nghe! Ông là chính trị viên huyện đội, có trào lại là huyện đội trưởng, ông biết nhiều lắm đó. Bọn này gọi ông là thổ công trên đảo.


-         Dạ! Tôi đi tìm rồi anh Ba. Nhưng anh Năm Sĩ không có ở nhà. Anh lên rẫy cả tuần mới về. Đang vào vụ mần ăn, tìm người khó lắm anh Ba ơi!


-         Vậy hả! Chú gặp Tư Tâm chưa? Tư Tâm ngày trước nhiều năm là đại đội trưởng đại đội chủ công của huyện, sau làm huyện đội và giờ này đang làm bí thư huyện ủy, đại biểu quốc hội đó.


-         Dạ, tôi có biết, anh Ba! Nhưng thời buổi ổn định chiến lược kinh tế này, gặp được mấy ông nghị sĩ đâu có dễ. Anh Tư đi Hà Nội họp rồi, tất nhiên tôi sẽ chờ gặp bằng được vị cựu đại đội trưởng này.


-         Thôi, được rồi – ông Ba Lon thở dài – Vậy chú muốn hỏi tôi điều gì nào? Hỏi ngắn, hỏi ít thôi nghe! Chuyện qua lâu rồi, bỗng dưng bắt nhớ lại ngang hông, coi chừng lộn xộn đó nghe! Sao? Chuyện tù vượt ngục hay chuyện chiến tranh trên đảo?


-         Cả hai.


-         Tham quá trời vậy chú Hai!


Ông cười, cái cười làm giãn nở khuôn mặt đã có nhiều nhăn nhúm qua thời gian năm tháng. Vậy là ổn! Tóm lại ông đã cười, sáu mươi tư năm sống ở đời, ngót ba mươi năm trận mạc gian nan, lại chục năm về già lo làm ăn sinh sống, tưởng rằng người lính già đã chôn chặt quá khứ vào góc vườn sâu tăm tối rồi, nhưng không, chỉ cần qua một nét cười trầm mặc là đủ nhận thấy ông vẫn thuộc về ngày hôm qua, những ngày ác liệt cam go nhưng cũng thật nhiều lãng mạn tốt đẹp mà ai đã trải qua một lần thì không bao giờ quên được nữa.


-         Tôi nói chuyện tù trước rồi sau đó xen kẽ, nhớ đâu kể đó nghe!


Sau Hiệp định Giơnevơ, địch đưa tù chính trị ra. Lúc đó tại Cây Dừa đã có một số tù quân sự rồi. Vậy là đảo lúc đó hình thành hai nhà tù trung ương và một nhà tù của quận. Ba cái tất cả. Số tù có khi đông hơn số dân.


Trước tình hình đó, huyện và xã đều thành lập ban binh vận để hướng mục tiêu ứng phó với nhà tù. Nhà lao Cây Cầy ta đã bắt mối được ba nội tuyến nằm sâu trong hàng ngũ địch, nhà lao Cây Dừa khá hơn, ta đã nắm trọn được một trung đội do một chuẩn úy quân cảnh chỉ huy. Người chuẩn úy này tên là gì, ở đâu, tôi cũng quên mất rồi. Nhờ đó, ta có thể thường xuyên đưa thuốc men, tin tức vô trong tù và cấy được cả nhau thai đưa vô bồi dưỡng cho anh em bị thương tật ốm yếu nữa. Hơn một năm sau, có một trăm tù bên phía Cây Dừa đề nghị với ta xin ra cùng với nội tuyến – Người này tên là Lắc thì phải. Ta chỉ chấp nhận năm mươi vì như chú biết đó, ra dễ nhưng nuôi khó, tổ chức đưa về đất liền lại càng khóa hơn. Trong năm chục người đó có cả anh Phạm Văn Khỏe, em ông Phạm Hùng, chắc chú…


-         Dạ, có nghe anh Năm Trì nói, anh Ba!


-         Ừa! Ra thoát, ta tổ chức đưa về đất liền phần lớn, còn lại hầu hết đều là cán bộ chủ chốt của lực lượng vũ trang trên đảo cả. Tôi còn nhớ mấy anh như Tám Đảo, Bảy Y, Ba Lửa… nhiều lắm, chiến đấu có nghề, dũng cảm lắm. Sau đó đều hy sinh rải rác trận này trận khác hết. Tôi thường nói với mấy anh trên tỉnh, trên khu, trên cả Trung ương rằng, sự nghiệp chiến tranh của Phú Quốc không thể tách rời được công sức và sự hy sinh vô điều kiện của anh em tù thoát ngục ra.


Sau đó chúng đưa tù chính trị về Côn Đảo hết, cuốn theo cả nội tuyến. Như vậy từ đó chỉ còn một nhà lao Cây Dừa. Ta tiếp tục chủ trương làm binh vận và đấu tranh chính trị. Lúc đó ta chưa có chủ trương võ trang lên kẻ địch làm căng lắm. Anh Năm Trì cho thành lập một tổ diệt ác, bắt đầu là anh Hai Hiến, sau đó đến tôi làm tổ trưởng. Cũng là một thứ tổ trá hình thôi. Năm 1960 tổ này phát triển lên thành một tiểu đội, hay gọi bằng đội cũng được, đội có mười hai người do anh Năm Sĩ chỉ huy, tôi và anh Hai Khánh làm phó. Thời kỳ này huyện ủy do anh Chín Kỳ làm bí thư.


Ngày 20 tháng 12 năm 1960, đội võ trang ra quân trận đầu ở đồi Ông Lang, đánh một B địch. Trận đầu mới lạ lên thắng không ngon. Cây Tom xông của Năm Sĩ phát hỏa không nổ nên ta nổ súng không đều. Gọi là nổ súng cho oai chớ hồi đó chỉ có một cây Tom xông trao cho chỉ huy, hai cây Mỹ mòng, một cây trường más, còn lại là súng hơi, lựu đạn trái na… Nhưng cũng diệt được 4 tên, ta không ai bị sao hết. Bà con phấn khởi lắm. Địch lại kháo nhau: “Đ. mẹ có lực lượng ở Bắc vô, coi chừng nghe!”.


Trên đà thắng, đầu năm 1961, đánh tiếp đồn dân vệ Hàm Ninh theo kiểu bán biệt động đóng giả lính vô thẳng đồn. Thắng tuyệt đối, thu hết trơn vũ khí, kêu tù binh xếp hàng giáo dục ba điều bốn chuyện rồi thả luôn. Sau trận này, vũ khí ra đầy nhóc, tha hồ xài.


Cùng trong thời gian đó… Mà ủa! Tôi đang nói cái gì vậy? Có đi lạc quá sâu sang chuyện đánh đá bên ngoài không?


-         Dạ không! – Tôi cười – Anh Ba đang nói vô khía đó. Không có bên ngoài, sao có bên trong? Nhà tù với Phú Quốc là một, cái này nằm trong cái kia, cái kia bao bọc cái này, cùng chung số phận, cùng chung thắng thua mà anh Ba!


-         Ừa! Đúng là báo chí văn chương mấy chú, nói kiểu gì cũng được. Vậy tôi cứ kể nghe, rồi tùy chú sàng lọc. Cái nào trùng thì bỏ, cái nào mới thì nghe…


Cùng trong thời gian này, phong trào diệt ác ôn lên mạnh dữ lắm! Nói thế nào nhỉ? Đành rằng ba quả đấm, ba mũi võ trang, chính trị, binh vận đều giáp công, nhưng cái món võ trang, diệt ác là tối quan trọng, chuyện chiến tranh năm ăn, năm thua, nói miệng không với kẻ thù đâu có đặng. Nói mười không bằng bứt đi của chúng được một. Cho nên vấn đề diệt ác theo tôi phải được ghi thành một cuốn sử riêng của Phú Quốc. Diệt ác nhiều khi trở thành chủ đạo, thành nghiêng lệch cán cân trong những tình thế cách mạng hết sức mỏng manh, thành giá đỡ vực dậy hai mũi chính trị và binh vận kia. Nói vậy không hiểu có sai nguyên tắc, lập trường Đảng không, nhưng thực tiễn chiến tranh đã chứng minh điều đó hoàn toàn trúng. Như vậy là từ Giơnevơ đến khi đồng khởi, đảo đã ra tay trừ khử được thằng Cường, thằng Lắc, cai Sen, thằng Đức, thằng Chanh phòng nhì… Nhiều lắm! Ác giả ác báo, lấy độc trị độc, chúng nó rung động, bà con hăng hái yêu tâm hẳn lên. Phải tới gần 50 lính ngã lòng ngã sang ta. Hơn một trăm thanh niên rủ nhau trốn quân dịch vô rừng trong vòng vài ba tháng. Một lực lượng đáng kể đó chứ, hả? Có người ta lập ngay một trung đội mạnh, mạnh cả số lượng lẫn vũ khí. Vũ khí ư? Thiếu gì! Lấy của nó mà đánh lại nó, mệt nghỉ chú à!


Sau đồng khởi, sức ta lên như diều gặp gió. Diệt ác, phá kềm, vây đồn… Cứ ào ào. Sau trận Hàm Ninh, đánh tiếp một trận giao thông trên con lộ cạnh. Không giết được ác ôn nhưng bắt được một cha cố người Mỹ bự con lắm, Năm Sĩ giáo dục rồi thả. Sau này trong một trận phục kích diệt của nó non tiểu đội thuộc lực lượng hải thuyền vùng 4 chiến thuật ở đặc khu Cây Dừa, chúng khủng bố đem ba người dân di cư ra bắn, chính vị cha cố này đã đứng ra can gián, phát động dân đấu tranh. Ít tháng sau, nghe nói chúng đưa ông cha này về Sài Gòn.


Mấy trận sau này tôi do bị thương nên không dự được nhưng nằm ở trạm xá nghe súng bên ta nổ giòn mà khoái trong bụng dữ lắm! Trận Bãi Bổn diệt gọn một tiểu đội bảo an đi lùng sục nè! Trận đánh một toán biệt kích ở ấp Dương Xanh, Bàng Quỳ thuộc Dương Tơ nè! Tuy nhiên trận này bị lộ, bọn ác ôn chạy ỉa cứt trong quần nhưng về sau chúng cũng không dám đi lại nghênh ngáo làm tàng nữa. Kẻ thù co lại thì quần chúng bung ra, luật đấu tranh sanh tồn là vậy. Hàng chục ấp chiến lược bị phá rã, nhìn bà con mình đổ về xóm cũ mần ăn dười ánh nắng mặt trời mà mát ruột gan.


Đến năm 1962, ta thành lập được huyện đội. Ấy, chú đừng tưởng cái chuyện lập huyện đội này không có gì đáng nói. Đúng! Cái từ “huyện đội” đâu có nghĩa bao nhiêu, nhưng phải đặt trong hoàn cảnh thế địch mạnh hơn ta gấp ngàn lần, bao lâu nay nó ỷ thế lắm người nhiều súng lấn ta từng bước thì mới thấy sự ra đời của một tổ chức vũ trang tên là “huyện đội” nó có ý nghĩa lớn lao thế nào. Nó là biểu hiện từ nay trên hòn đảo côi cút này đã hình thành một thế đối đầu bạo lực bất phân thắng phụ, chớ có đùa!


Huyện đội bước đầu có sáu chục tay súng. Thế cũng đã nhiều. Năm Sĩ là chỉ huy trưởng. Sau đó tôi ra viện thay Năm Sĩ, Năm Sĩ chuyển sang làm chính trị viên. Tất nhiên bí thư Đảng ủy huyện đội kiêm bí thư huyện ủy vẫn là đồng chí Bảy Kiên tức Giang Lạc Đắc (lúc này anh Chín Kỳ trở về tỉnh rồi). Một khi đã có cơ cấu huyện đội, tất nhiên phải kéo theo những tế bào cơ bản. Lực lượng võ trang xã, ấp cũng chính thức ra đời mà ta thường kêu bằng xã đội, ấp đội. Thành lập cả công trường tức công binh xưởng chế vũ khí tự tạo đủ cả: Mìn trái, bộc phá sào bê ta, hỏa lôi công, súng ngựa trời, súng nẻ từng viên, dao găm, mã tấu… Do anh Hai Nguyên làm công trường trưởng thay ông Ba Bông chuyển sang làm công tác khác.


Bước qua năm sáu bốn, ta tập kích vô sân bay khi tướng râu dê Nguyễn Khánh đến đảo thị sát. May cho ông cố ba đời nhà hắn, trời xui đất khiến thế nào hắn lại đáp xuống sau nên không chết. Hận cú chết hụt vang danh xấu ra cả thế giới này, hắn rấp tâm trả đòn, trả đòn từng nấc một, trả đòn rất thâm độc. Hắn đánh ngay vô cái địa thế cô đơn của đảo bằng ngón phong tỏa nhà nghề dài ngày. Ngón đòn này đã có kết quả, đẩy hòn đảo dần dần ngã sang một tình thế mới và dẫn đến cái chết sau này của anh Giang Lạc Đắc như chú đã biết.


Nhưng muốn phong tỏa được cái hòn đảo can tràng, có bề thế dày truyền thống bất khuất này đâu dễ dàng gì, chú! Ta vẫn làm tới. Làng xã chiến đấu vẫn ra đời và tồn tại. Kẻ địch bị bó chân bó tay ở khắp mọi nơi. Công tác đấu tranh chính trị và binh vận dâng thành cao trào. Khu dinh điền tại Cầu Sấu, nơi bọn địch tin tưởng nhất bị chà sát trong một đêm. Hai chục thanh niên trai tráng bỏ ra với cách mạng. Khu vực An Thới vốn là trọng điểm bình định của nó, nay bỗng thành trọng điểm nổi dậy của ta.


Trong đó không thể không kể đến sức mạnh đấu tranh chính trị của đội quân đầu tóc. Cuối năm sáu tư, để xúc tiến, chiến lược phong tỏa, hải quân địch bắn xối xả vô đất liền vô rừng rú và vô cả xóm ấp. Đứa nhỏ con anh Năm Bôi bị trúng đạn chết, lập tức hơn ba trăm chị em khiêng xác cháu lên tận bộ chỉ huy hải thuyền đòi bồi thường đền mạng. Bọn chỉ huy này không biết đối phó sao đành hứa sẽ hạ lệnh ngừng bắn vô bờ biển. Ít ngày sau Hai Hoa là vợ tôi dẫn đầu mười chị em kết hợp với mũi võ trang cũng lên bộ chỉ huy hải quân đòi không được bắn vô hoa màu, gia súc làm hại đến tài sản bà con. Bộ chỉ huy còn đang vò đầu bứt trán thì ta nổ súng vô một giang thuyền hỗ trợ đắc lực cho toán 10 người này. Rút cục, chúng lại phải hứa hẹn… Còn nhiều, nhiều lắm những vụ đấu tranh hợp pháp như thế khiến kế hoạch phong tỏa án ngữ và thiết lập vành đai trắng đoạn đường từ An Thới đến Dương Tơ của chúng tiến hành rất trật vuột, có lúc phải ngưng lại.


Bên trong đất liền, lực lượng ta tiếp tục tiến công. Trận Vũng Tàu ấp Cây Bến là một trận gây thối động lớn. Chúng chết một trung đội, phải kêu trực thăng lấy xác.


Rồi một trận đánh càn căng thẳng suốt 15 ngày trước lực lượng hỗn hợp hải lục không quân cấp trung đoàn của chúng, với đủ cả máy bay, tàu chiến. Lực lượng ta gồm có cả bộ đội lẫn dân quân du kích và dường như cả đảo làm nhiệm vụ tiếp tế, dân công cho trận đánh càn. Rút cục chúng phải hối hả rút chạy, bỏ lại một trung đội xác chết. Ta không ai bị sao. Vậy mới kỳ chớ!


Tiếp đến trận tập kích ban ngày cướp xác tại Cầu Cũ Bà Điểm thắng ngon lành. Trước đó, chúng phục kích bắn chết một cán bộ thông tin đằng mình và giữ xác lại trong đồn. Tư Tâm chính trị viên và Ba Thống, đại đội trưởng đã lên một phương án táo bạo cướp xác giữa ban ngày. Xác đồng đội ta lấy lại được và chúng phải trả giá bằng một trung đội thương vong hoàn toàn.


Và ngay trong thời kỳ mất liên lạc với tỉnh, lúc đoàn của anh Năm Trì chưa ra, lực lượng võ trang huyện dù đã teo tóp đi nhiều nhưng vẫn đủ sức dạy cho cả Mỹ lẫn ngụy một bài học xương máu nữa khi lần thứ hai chúng dùng cả hải lục không quân đánh vô Khu Tượng sau lưng ta. Trận càn mang cái tên hay ho: “Ba lượn sóng thần” diễn ra đúng 10 ngày đêm không ngơi nghỉ. Chúng tưởng rằng phen này dứt khoát sẽ nghiền đầu não và lực lượng cách mạng ra cám, nhưng rồi sau mười ngày ba cái lượn sóng thần thánh mắc dịch ấy lại lộn đầu nhấn chìm chúng xuống. Địch lại phải ôm đầu máu trở về với tổn thất: Một trung đội bị diệt, một máy bay đầm già bốc cháy.


Sau đó với sự kiện đồng chí phó bí thư tỉnh ủy tìm ra đảo cùng với lô vũ khí xã hội chủ nghĩa đầu tiên. Đảng đã hà hơi vũ khí hiện đại ra tiếp sức, lực lượng ta sau một thời gian phòng ngự bị động bắt đầu bung ra lấn sân địch từng bước như  đồng chí Lâm Kiên Trì chắc đã kể với chú! Tôi không nói lại nữa. Rồi sự kiện Mậu Thân xảy ra trong lúc chúng tôi chỉ nghe đài, nghe radio để phối hợp hành động với toàn chiến trường. Tất nhiên trước đó, sau khi anh Năm trở về được ít ngày, một đồng chí phái viên ở tỉnh ra đã truyền đạt mệnh lệnh chuẩn bị lực lượng cho chúng tôi, nhưng chuẩn bị để làm gì? Thời điểm hành động là lúc nào, thì chính đồng chí phái viên đó cũng không biết. Vậy là đảo vẫn hành động không chênh với thời gian của toàn miền là bao.


Nếu nói cho văn vẻ theo kiểu mấy chú thì Phú Quốc được gắn với đất mẹ bằng một mạch máu vô hình. Đã gắn rồi thì trong kia đất liền nóng lạnh thì ngoài này đứa con cũng nhức đầu sổ mũi theo. Đã mấy mươi năm nay, do địa hình xa cách chúng tôi đã hành động theo kiểu nhức đầu sổ mũi tự giác như thế mà chưa bao giờ đi lạc đường hướng.


Đêm ấy nghe đài thấy các nơi đánh dữ quá, chúng tôi cũng quáng quàng tập trung hết thảy lực lượng, cả du kích các ấp, xã rùng rùng kéo đi bao vây thị trấn, bao vây sân bay và xé lẻ bao bao vây luôn đồn bót ở khắp mọi nơi. Khí thế dâng ngút trời.


Bọn địch chắc đã nắm được thông tin toàn cuộc nên sợ hãi nằm im. Tưởng phen này mở mặt muôn đời, phen này hòn đảo sẽ sạch bách bóng thù, phen này dứt khoát các binh đoàn chủ lực sẽ ào ạt đổ bộ xuống đảo kín đất kín trời làm một trận “sạch không kình ngạc”. Nhưng rồi đợi hoài, đợi hủy, vẫn không thấy gì. Sau một vài tổn thất không đáng kể bọn địch đã dần dà tỉnh lại và cùng với tình hình tạm lắng trong đất liền, chúng bắn đầu bò ra phản kích trở lại. Nó hơn mình cả ngàn lần, lại đủ cả hải lục không quân, mình sức mấy mà bao vây, ép sát được hoài: Vậy là phải rút. Vừa rút vừa ngơ ngác vừa tiếc nhểu nước miếng.


Bắt đầu từ đó, đảo bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ đen tối, hãi hùng của toàn Đảng toàn dân trên đảo. Nhưng cũng là thời kỳ Phú Quốc mở ra những trang sử oanh liệt và rạng rỡ nhất. Trong đó không thể không kể đến sự xuất hiện của các đồng chí tù vượt ngục. Ví như vai trò của nhóm anh Hai Hội, Tư Phước ra đã thành lập được một phân đội đặc công đánh đông dẹp bắc khiến kẻ địch ngán sợ lắm.


Sau Mậu Thân, lượng tù trong nhà lao Cây Dừa lên đến 40 ngàn người từ khắp các chiến trường, các quân binh chủng đưa về. Và trong vô vàn công việc ngổn ngang của một cấp ủy thời chiến, huyện ủy lúc đó do anh Hai Hiến đứng đầu đã đề ra một nghị quyết về tù binh. Tiếp tục bồi dưỡng cán bộ nội tuyến để nắm tình hình bên trong, tiếp tục đánh động để anh em tù biết tin mà quyết tâm ra và nhanh chóng thành lập những nhóm nhỏ ở Dương Tơ, ở đặc khu An Thới, ở khắp chu vi nhà tù để sẵn sàng đón tiếp nếu anh em ra được. Chỉ trong vòng vài tháng, số tù binh trở về rừng đã có tới trăm người, mỗi người trở về một kiểu, nhiều chuyện cảm động và thương tâm lắm, nếu viết chú chớ có quên những cảnh này.


Một lần, nhân xuống Dương Tơ làm với xã đội do Hai Sửu phụ trách. Đã gặp Hai Sửu chưa? Chưa à? Chưa thì rất nên gặp, đây là con người đánh giặc đẹp nhất toàn đảo đó. Đáng lẽ Hai Sửu phải được phong anh hùng nhưng... sông có khúc người có lúc mà chú. Một chị cơ sở ở trong ấp đến báo: “Cách đây mấy ngày bà con có nghe thấy súng ở khu vực nhà tù nổ dữ lắm, sau đó thấy cả lính dẫn chó đi lùng sục khắp nơi”. Tù trốn rồi! Tôi phán đoán vậy và kêu Hai Sửu cho người đi đón, không anh em lại đi lạc vô đồn địch chết uổng. Hai Sửu cử ngay Sáu Thảnh dẫn một tổ đi…


Ba hôm sau tổ của Sáu Thảnh trở về dẫn theo 6 anh em tù người ngợm nát bấy, trên thân thể không còn một mảnh vải, để hở ra những cặp xương sườn còng queo tội lắm. Hỏi ra mới biết đò là nhóm tù của Ba Toản.


Ba Toản lúc ấy… coi nào, bây giờ cậu ta ước chừng 50 tuổi thì lúc ấy, vô năm 1968… Hai mươi năm… Khoảng hai bảy, hai tám tuổi thôi nhưng dòm như ông già 60. Hai mắt trũng sâu, tóc tai lởm chởm, đám trắng đám đen, da dẻ cóc cáy vàng bũn, giọng nói phều phào đứt đoạn như người không có phổi.


Bằng cái giọng đó, Ba Toản kể lại chặng đường vượt ngục của mình, nghe như chuyện trong phim mà thời gian trôi qua lâu rồi, tôi vẫn còn nhớ lõm bõm được chú à!


…Cái lúc khắp xung quanh vang tiếng giày đinh, tiếng chó sủa khiến ai nấy nhìn nhau mắt bạc phếch ấy, Ba Toản chợt phát hiện ra đám cỏ voi cao quá đầu người mọc trên lớp sình đặc sệt, nổi váng vàng váng đỏ. Một kỹ thuật nghiệp vụ lóe lên trên đầu, Ba Toản kêu anh em nhanh chóng bẻ mỗi người một lóng cỏ voi ngậm vô miệng rồi chui vô bụi cỏ, vùi sâu người xuống để hở ống cỏ một đoạn lên trên mà lấy không khí để thở. Mọi người vừa thực hiện xong động tác đó thì bọn lính cũng ập đến. Chúng đứng lố nhố trên miệng ao sình; xua chó xuống. Những con chó lội ào ào, miệng há ra đỏ lòm như miệng cá sấu. Chúng quầy nát cả ao sình, chui vô cả bụi cỏ, sủa lên mấy tiếng ằng ặc rồi ào ào lội trở lại, mình mẩy bê bết bùn hôi hám. Bọn lính văng tục mấy câu, đá thí mạng vào be sườn chó mấy cái rồi cả người lẫn chó kéo nhau đi nơi khác. Lát sau, họ đội sình đứng dậy, kiểm qua kiểm lại thấy thiếu một người. Vậy là tất cả lộn trở lại lụi hụi mò… Lát sau, họ lôi lên một thân hình rũ rượi gần như không thở. Đó là Dũng, quê Hà Nam, do sức khỏe yếu quá không chịu nổi mà ngất xỉu trong lòng sình. Hô hấp nhân tạo, đổ nước vô mặt chờ cho Dũng tỉnh lại, họ dìu nhau đi tiếp. Đến một con suối, cả nhóm thay nhau xuống tắm một chập cho trôi hết sình rồi nhìn nhau cười mếu máo. Tất cả lại trở lại sạch sẽ tinh tươm như cũ, chỉ phải người không ra người chút thôi.


Ngày hôm đó, cả nhóm hầu như không tiến thêm được bước nào, la bàn, bản đồ không có; người địa phương hoặc người am hiểu về Phú Quốc chút xíu cũng không nốt nên cứ nhắm đại hướng mặt trời mọc mà cắt rừng đi. Đi về hướng đó, dù không gặp căn cứ thì cũng gặp biển, gặp biển rồi sẽ tìm cách vượt về đất liền. Nhưng họ đâu có biết bờ biển bị phong tỏa dày đặc, nếu không có tiếng giang thuyền nổ máy rì rì thì cả nhóm đã sa vô cạm bẫy của tụi trinh sát thủy quân rồi.


Đêm đó họ chui vô rừng nằm tiếp. Muỗi, đói và mưa rả rích khiến cho không ai ngủ được. Nằm ôm nhau dưới những tán lá kết thành mái sơ sài, nghe mưa rơi trên xứ lạ mà nghĩ ngợi bao điều gần xa. Gần sáng, bấm nhau dậy tìm đường. Vừa ló khỏi vạt rừng ướt sũng, họ chạm ngay vô mặt lộ đỏ. Chết cha rồi! Mất bao sức lực, hai ngày sau họ lại trở về vị trí ban đầu. Hụt hẫng và thất vọng, họ oải người nằm bệt xuống. Có người phàn nàn: “Thôi không đi đâu nữa hết. Cứ nằm đây, chết thì thôi, không chết, bọn lính bắt được nhốt trở lại vào tù còn khỏe hơn”. Ba Toản không nói nửa lời, lầm lì dẫn mọi người cắt rừng đi tiếp. Cậu ấy không đi về hướng đông nữa mà chuyển hẳn sang hướng bắc. Sau này tôi hỏi tại sao lại chọn hướng đó, Ba Toản trả lời: “Linh cảm thôi anh Ba! Linh cảm của thằng lính trinh sát thôi chớ có biết hướng nào là ta, hướng nào là địch đâu”.


Đêm đó họ ngủ trong trảng tranh. Mưa càng to, mưa suốt đêm, một người lấy lá che cho hai người ngủ, kiểu ngủ ngồi bó gối để mặc cho nước lạnh chảy ròng ròng từ đầu xuống chân. Sớm sau đi nữa. Một người lên cơ sốt rét run cầm cập không bước nổi, phải thay nhau cõng đi. Ếch mang mình ếch còn không xong, huống chi còn đèo bòng. Tốc độ đi chậm như sên bò nhưng không ai kêu ca, không ai chịu rớt lại. “Khổ cực nhưng mà ham lắm! Nếu không lăn ra chết thì trước mặt là cả một khoảng trời tự do”, Ba Toản nói lại với tôi như vậy.


Đêm thứ tư họ lạc vô một rừng chuối rậm rạp. Xa xa dưới thấp có ánh đèn le lói. Đèn thiệt hay đom đóm? Mà nếu đúng đèn thì đèn dân hay đèn địch? Đói quá mắt mờ không phán đoán nổi. Họ bẻ đọt chuối ăn nhồm nhoàm rồi kéo lá chuối che người ngủ qua đêm.


… Sáng ra, mới bừng mắt dậy họ đã giật thót người. Thì ra đêm qua họ đã nằm kề một dòng suối mà không hay. Và lúc này đây, dưới dòng suối mùa mưa đục ngầu ấy đang có một toán người ăn mặc không ra ta, không ra lính đang rửa chân tay. Tất cả sẽ cho rằng đây chính là một toán biệt kích đi sục sạo trong đêm trở về nếu họ không phát hiện ra những đôi dép râu dưới chân những người kia. Khoan! Có thể bọn biệt kích cũng thường đi dép râu để đánh lạc hướng lắm chớ. Họ chú mục quan sát cách rửa mặt bằng tay và nước da xanh xanh tai tái của tốp người lạ mặt. Mười phần đã tin bảy. Lính ngụy không thể có nước da sốt rét quen thuộc và lối rửa mặt bằng tay kia. Chỉ đến khi đám người lôi cơm vắt ra chấm muối tiêu ăn ngon lành thì đoàn Ba Toản mới hoàn toàn tin hẳn. Họ lẳng lặng đi ra khỏi chỗ nấp mà hai cánh tay khẳng khiu cứ muốn đưa về phía trước định làm một vòng tay ôm đồng đội mà không được! “Các đồng chí ơi! Các đồng chí có phải là anh em mình đó không?”. Một người tù nghẹn ngào nói được từng ấy tiếng rồi lăn ra, ngất xỉu…


Thưa các bạn! Người lính già Ba Lon còn kể với tôi nhiều chuyện lắm; kể về chiến tranh, kể về thời bình, về những chiến công và mất mát những tháng ngày sau đó, kể về cả sự tồn tại của những người tù vượt ra sống, chiến đấu trong đội hình của đảo như thế nào. Ông kể chậm rãi, không khoa trương, không có một lời đại ngôn xa cách. Những tư liệu của Sáu Ái, của anh Hai Phi, của Ba Toản… đã chứng minh điều đó.


Nhưng tôi xin tạm dừng ở đây. Bởi lẽ lạm phát tiền tệ đã là một bi kịch, lạm phát tư liệu và chữ nghĩa trong lịch sử lại còn nguy hại hơn. Tôi chỉ muốn hỏi thêm ông về một hình ảnh lờ mờ mà không hiểu sao cứ ám ảnh day dứt trong tôi hoài.


Tôi lại hỏi ông có nghe nói một người tù nào tên là Quang vượt ra không? Ông lắc đầu!


-         Ra nhiều lắm! Một số ở lại cầm súng như Hai Hội, Tư Phước, Ba Toản… một số đưa về đất liền, số nữa tản xuống hoạt động tại các ấp xã hay chuyển sang khắp các ban ngành của huyện. Tôi nhớ trong đó có một người tên là Hòa, Trương Văn Hòa gì đó, to cao như Mỹ, vốn là anh hùng quân đội vượt được ra. Anh này không ở lại đảo lâu. Anh hùng là do Trung ương quản lý, mình địa phương giữ lại sao được nên tìm cách đưa về trên. Vậy thôi. Còn tôi không nhớ hay không để ý có ai tên Quang cả. Chú thử tìm hỏi coi.


Tạm biệt ông Ba Lon với đàn bò vàng rực nắng chiều và khu vườn râm mát như một mảnh rừng thơ mộng, tôi khăn gói lên đường tiếp tục cuộc hành trình cô độc của mình.


Chiếc đài to tướng chạy pin để trên bàn ăn cơm của ông tiễn đưa tôi bằng một bản tin nóng bỏng về vùng vịnh Pécxích… Ngày 15 tháng 1 tới, nếu Irắc không nhân nhượng, nửa trái đất sẽ ngập chìm trong lò lửa chiến tranh…


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà lao cây dừa. Ký sự của Chu Lai. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »