tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
02.08.2013
Chu Lai
Nhà lao cây dừa (5)

12


 


… Không chỉ ở lớp trẻ mà ngay trong lớp người già đã gánh trên vai hai, ba cuộc kháng chiến cũng không nhiều người biết về nhà tù Phú Quốc và nếu có một ai đó hiểu rằng hòn đảo ấy ngày trước là một hòn đảo tù đau thương thì thường họ chỉ nhắc tới huyền thoại đào hầm…


Huyền thoại đào hầm… Vậy là đã hàng chục ngày trôi qua tôi cũng đã gặp gỡ hàng chục người, hàng chục các nhân chứng sống nhưng một nhân chứng thực sự đào hầm lại tìm chưa ra! Tôi thoáng hốt hoảng! Chui rào, bò rào, giật súng để thoát ngục tôi đã nghe kỹ càng rồi và sẽ còn tiếp tục được nghe nữa nhưng con người khoét hầm bằng xương bằng thịt tìm không thấy thì coi như cái thực thể nhà lao Cây Dừa mới dựng được khung mà chưa có lục phủ ngũ tạng. Coi như rỗng tuềnh rỗng toàng. Tôi đã đánh điện, đã viết thư về Thanh Hóa hỏi tin Lê Xuân Các – Người anh hùng đào hầm mà Ba Toản có nhắc đến. Một tuần sau, ở đấy trả lời không rõ Lê Xuân Các đi đâu? Hỏi thăm vài nhân chứng nữa, họ nói Các đã đem gia đình vào Sông Bé lập nghiệp. Tôi nhảy xe đi Sông Bé. Chao ôi! Sông Bé đất rộng người đông, nhiều huyện lắm xã, biết tìm cái tên “Các” ở chỗ nào? Thà rằng có một Lê Xuân Các là giám đốc, là cán bộ tỉnh, cán bộ huyện hay chí ít là cán bộ xã thì khả dĩ có thể tìm ra. Nhưng thân phận những người tù binh trong chiến tranh đã mấy người được may mắn như thế, hay là giải phóng một cái, họ giũ bỏ tất cả trở về với đời làm dân, với đất đai lam lũ.


Nửa tháng trời rong ruổi không tìm được người cần tìm nhưng rõ là hên, tôi đã may mắn gặp được những nhân chứng sống khác mà nếu thiếu họ, cái thực thể Cây Dừa cũng không còn là Cây Dừa.


Một trong những người đó là anh Sơn, đang giảng dạy triết học tại đại học Cần Thơ, anh là một người cao, gầy, giọng nói quê hương Bác nhỏ nhẹ và khúc chiết như chính cái nghề nghiệp của anh đòi hỏi như vậy. Anh tiếp tôi trong căn hộ mới xây xinh xắn của vợ chồng anh. Có lẽ nếu gọi là dấu vết của những năm tháng tù đày thì ở anh, người ta sẽ tìm thấy ít nhất.


Anh không nói về anh mà nói về một vụ đi củi giật súng chạy thoát đến hơn bốn mươi người mà anh có biết và chứng kiến. Đó là chuyến ra hùng mạnh đông đảo nhất của lịch sử vượt ngục tù Phú Quốc, nó tạo thành thế đối tỉ với sự kiện ra ít nhất, ra một người của chàng trai Hà Nội tên là Tín như đã nói ở trên.


Sơn bị giam trong khu tù hạ sĩ quan. Khu này hầu hết là tù binh bị bắt trong đợt tổng tiến công Mậu Thân. Là khu giam thường nên cuộc sống lao tù không đến nỗi quá nghẹt thở như các khu biệt giam, khu cấm cố nhưng cũng đủ kinh rợn để mỗi người tù đều tự hình thành một ý chí thoát ngục xung lửa ở trong đầu.


Trước khi ra được, Sơn có những kỷ niệm đau đáu không thể quên trong những ngày đen tối đó.


-         Cứ mang cái kiểu bóp cò thẳng căng của người lính vào tù là không ổn, anh ạ! – Anh nói – Mình là kẻ bị trói, nó là kẻ cầm roi, mình thiếu mềm dẻo một chút là trả giá đủ. Tôi nhớ dạo ấy, để giết thì giờ và để tự trấn an đầu óc cho đừng nghĩ ngợi ngang ngửa, tôi có rủ vài ba anh em nữa mượn sách tiếng Nga của bọn quân cảnh để tự ôn, tự học. Thằng trung úy Hiển, dân công giáo toàn tòng nổi tiếng độc địa, thấy vậy, hắn cười khẩy, lấy chân đá đá vào cuốn sách trên tay tôi, hất hàm hỏi:


-         Mày là Bắc kỳ hả? Dân Bắc kỳ ham học dữ heng! Vậy nghe tao hỏi, trả lời cho thật đây: Bắc hay Nam sống khá?


Tôi biết thằng ác ôn này tính chuyện gây sự, nhưng không thể nói chiều lòng nó, bèn giả bộ ngơ ngác để có thì giờ suy nghĩ.


-         Ông trung úy định hỏi cái gì khá? Văn hóa hay thể thao?


-         Sống khá! Cuộc sống của bọn mày khá hay thua cuộc sống trong này? Tức là cái miếng ăn nhét vào mồm ấy. Nói cho thật.


-         Cuộc sống trong này tôi đâu có biết mà so sánh, ông trung úy! Vào Nam một cái là ở rừng luôn, ngày hay đêm, năm này qua năm khác, đều đập mặt vào rừng, có được xuống dân ngày nào đâu mà biết.


-         Được! Mày trả lời khá – Hắn cười gằn – Nghe hỏi nữa đây: Mày có chấp nhận cuộc tiến công Mậu Thân tầm bậy tầm bạ của Đảng chúng mày là bại không?


-         Mậu Thân ấy à? Vâng! Thắng hay bại, lính tráng cùng đinh nằm xó rừng như tôi đâu có rõ. Chuyện ấy là chuyện trên cao, bí hiểm lắm! Tôi cũng như ông, cứ trên ra lệnh tiến là tiến, ra lệnh lùi là lùi, nhiều khi có rõ tại sao tiến, tạo sao lùi đâu. Theo binh pháp thì chắc ông trung úy biết, tôi không dám qua mặt, nhiều khi tiến chưa phải là thắng và lùi cũng không có nghĩa là thua.


-         Thôi! – Nó quát – Cộng sản lắm cái mồm! Vào đây rồi mà còn lắm cái mồm! Bọn bay khổ vì lắm lý luận, lắm chữ nghĩa quá đấy. Bao nhiêu tuổi?


-         Cái gì tuổi cơ?


-         Tôi hỏi anh bao nhiêu tuổi?


Thấy hắn đã xuống giọng “anh – tôi” đàng hoàng, tôi khoái trong bụng nhưng ráng không xuống thế:


-         Tôi sinh ra cùng với đất nước!


-         Nói cái gì?


-         Chắc ở ngoài đó ông trung úy không còn lạ gì ông bà cha mẹ chúng ta đều thoát khỏi kiếp nô lệ tủi nhục vào năm 1945. Tôi sinh năm đó.


-         Đ. mẹ! Thằng này chơi xỏ quốc gia. Lính đâu! Cho nó ra sân giẫm gai mây, coi nó còn già hàm được không?


Tôi bị giẫm gai mây thật! Mây rút ở rừng về, chúng đem phơi nắng cho quắt lại, riêng những cái gai dài bằng nửa đốt ngón tay lại dẻo quánh, chỏng lên trời. Chúng rải cả bụi, cả bó như thế bắt tôi giẫm chân trần lên. Giẫm bước thứ nhất, gai đâm lút gan bàn chân buốt thấu lên tận óc. Giẫm bước thứ hai, mắt đổ hoa cà hoa cải, giẫm bước thứ ba, thần kinh mụ mị không còn biết mình đang giẫm lên cái gì nữa. Giẫm bước thứ tư… người mạnh nhất cũng té dụi. Té dụi, chúng đánh giữa mặt bắt cho đứng lên. Bước tránh chỗ không có gai, chúng nện than củi dài cả mét vào xương ống chân bẻ lái cho trúng gai. Đây là một hình phạt ghê rợn mà ai đã trải qua một lần đều tởn đến già, chưa nói hai gan bàn chân sưng tấy cả tháng sau mới nhúc nhích được.


Tối đó trở về nhà giam, lên cơn sốt nóng rên hừ hừ, đồng chí Bí thư chi bộ đến bên, vừa rửa nước muối vào chỗ đau cho tôi vừa rủ rỉ.


-         Đừng làm thế, Sơn ơi! Chúng nó ăn lương chỉ để tìm mọi cách hành hạ mình. Đánh bạc thua cũng kéo mình ra nện. Đi uống rượu về cũng ghé phòng giam quật chơi vài hèo. Thậm chí vào ấp ghẹo gái không xong, trở về cũng trút hận vào đầu tù… Khiêu khích, ăn miếng giả miếng với chúng có ích gì, chỉ thiệt thân.


Ngay lúc đó tôi thấy lời khuyên ấy đúng nhưng càng về sau tôi thấy càng không ổn. Luật tù đày, mình càng xuống nước nó càng làm tàng… Mình gồng lên, dù trước mắt có tổn hại nhưng sau lại thoáng ra. Tuy vậy, qua câu nói của đồng chí Bí thư, tôi cũng nghiệm ra một điều: Sự mềm mại khéo léo bao giờ cũng hái lượm được kết quả nhiều hơn sự thô ráp cứng queo.


Ví dụ, nhân một ngày lễ của ta, ngày Quốc khánh mồng hai tháng chín, tên đại tá chỉ huy trưởng nhà tù đi cùng với tên đại tá cố vấn Mỹ xuống thị sát khu tôi. Thông thường vào những ngày này: Ngày toàn quốc kháng chiến, ngày thành lập quân đội, ngày thành lập Đảng, ngày sinh của Bác Hồ… chúng thường vô cớ lôi tù ra đánh chết bỏ, chắc với hy vọng rằng làm thế sẽ tiêu hủy nhuệ khí người tù do ngọn lửa của những ngày lễ ấy hun đúc nên. Về phía ta, ta cũng thường nhân những ngày quan trọng đó mà mở những cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, đòi quyền được đối xử đàng hoàng như những tù binh chiến tranh… Cho nên đó là những ngày rất dễ dàng đẫm máu nếu không có sự chỉ đạo kịp thời.


Hôm ấy cũng vậy. Chắc muốn làm đẹp lòng tên cố vấn Mỹ mày râu nhẵn nhụi có cái cười thật giảo hoạt, tên đại tá Việt Nam bắt cả khu trên năm ngàn tù binh ra sân banh tập hợp. (Nên nhớ, trong tù một số khu có sân đá banh để lòe bịp các đoàn quốc tế, để xin đô la Mỹ nhét vào túi chứ có trái banh nào lăn ở đó đâu. Sân banh trong tâm tư người tù thực chất chỉ là cái pháp trường, cái đấu xảo, cái nghĩa địa đẫm máu và nước mắt). Đối diện với năm ngàn người ốm yếu, rách rưới là một tiểu đoàn quân cảnh súng ống lăm lăm trong tay để sẵn sàng hủy diệt nếu có lệnh của thượng cấp. Hơn một trăm cái xác của khu Tân sinh hoạt diễn ra đầu tháng trước đã là một bài học đắt giá với chúng tôi ở những hoàn cảnh tương tự như thế này. Có một sự chỉ đạo chung mơ hồ từ đâu đó lan ra khắp các hàng tù: “Kiên Nhẫn… Hết sức kiên nhẫn và khôn khéo. Bằng giá nào cũng không để rơi vào âm mưu khiêu khích của chúng”.


Thằng đại tá Trần Vĩnh Đắc, con rể của tướng Lê Văn Tỵ vung vẩy cái can bịt bạc trong tay, giọng ngọt nhạt:


-         Thưa các chiến hữu! Xin cứ được gọi các bạn bằng hai chữ chiến hữu và xét đến cùng chúng ta đều là người lính, chỉ khác người lính đứng hai đầu chiến tuyến. Nhưng không sao, chiến tranh thua thắng là sự thường phải không các bạn?


Nó mới nói tới đó, chúng tôi đã thấy sôi người lên! Ai bạn bè, chiến hữu gì với nó. Hàng ngàn xác chết chôn ngoài nghĩa địa kia là từ đâu nếu không phải từ cái miệng dẻo quẹo có hàm râu con kiến và nụ cười nhã nhặn một cách giảo hoạt của thằng quan thầy nó kia! Nhưng một lực cản vô hình nén đè lồng ngực chúng tôi lại. Thằng này xưa nay có ra mặt đứng trước tù nhân bao giờ. Bữa nay nó xuất hiện thế này chắc không phải là điều bình thường, chúng tôi chợt linh cảm thấy một điều gì đó ghê gớm đang sắp tiến đến.


-         Hôn nay là ngày Quốc khánh của các bạn! Phần nào đó cũng là ngày Quốc khánh của tất cả chúng ta, có phải không? (im lặng) Tôi nói thế bởi vì ông Hồ Chí Minh của các bạn xét theo lăng kính lịch sử nào đó cũng là một thứ anh hùng dân tộc, chỉ tiếc sau đó ông đi sai đường. Rất tiếc, theo lẽ ông đã trở thành một thánh nhân của giống nòi này. Nhân đây xin báo cho các bạn một tin không vui. Bác Hồ của các bạn đang trên giường chết. Ông sẽ chết, như con người ra đời có sinh có tử vậy thôi. Chỉ buồn các bạn đi theo đường lối của ông mà nửa đường đứt gánh. Ông đã đưa tất cả các bạn vô ngõ cụt vô phương.


Tai ù đi, chúng tôi không còn nghe thấy gì nữa! Nó vừa nói cái gì vậy? Có thật như thế không? Hay lại chỉ là một động tác giả mà chúng tôi đã nghe đến nhàm tai. Bởi lẽ, thỉnh thoảng bọn giám thị đi qua, lại nói trổng vào phòng: “Cách mạng chúng mày tới số rồi! … Đại tướng Thanh của chúng mày ngoẻo củ tỏi rồi! … A ha! Hà Nội đã vị san thành bình địa, những thằng tù cuồng tín kia có nghe rõ không?” hoặc “Bác Hồ của chúng mày sắp chết rồi!… Chết hồi hôm rồi…”. Chúng tôi hơi đâu để ý đến lời khiêu khích gọi đòn của bọn khát máu nên làm thinh mặc dù lần đầu nghe cũng thấy choáng váng. Chúng tôi bảo nhau: “Nó nói vậy là cách mạng đang lên. Nó nói Bác mất tức là Bác đang sống. Nó sợ, nó đang run sợ, đừng chấp. Được cái, nhắc đến Bác, thằng khốn nạn nhất vẫn phải gọi là “Bác” một cách kính nể, có thằng nào dám buông một lời hỗn láo về ông cụ đâu. Khoái!”. Nhưng hôm nay lại do chính thằng này nói ra? Một thằng chỉ huy trưởng có học vấn, lại mang khát vọng một tương lai sáng lạn, liệu nó có dám cược cả danh dự của nó lẫn ông bố vợ đại tướng của nó để đổi lấy một trò đùa giỡn chơi có hại đến uy tín này không? Hay là… Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Trong hàng đã có những xáo động khiến bọn quân cảnh vội vàng tiến lên một bước dè chừng.


-         Xin chia buồn – cái miệng ngọt nhạt nói tiếp – xin thành thực chia buồn với các chiến hữu phe đối nghịch. Càng đáng chia buồn hơn khi tất cả đều biết rằng bên cạnh cơn hấp hối của ông lãnh tụ Cộng sản đó, chính trị ủy của các bạn đang tan rã, rình rập hất đá nhau để giành quyền lực bá vương. Tin mới nhất: tướng Giáp đã triệu hồi được hai sư đoàn tinh nhuệ kéo về bao vây Ba Đình, sẵn sàng dùng vũ lực tiếm ngôi.


Thế này thì khốn nạn thật! Nếu nó dừng lại ở mệnh đề thứ nhất thì đã gây được tác động, nhưng nó lại sa đà vào mệnh đề tiếm ngôi sau đó thì khác gì nhại lại luận điệu của đài BBC mà chúng tôi thường có dịp nghe hồi còn ở ngoài. Thằng con rể dòng dõi này mất tư cách thật rồi.


-         Nhân ngày đáng nhớ này – Nó cao giọng – Bộ chỉ huy nhà tù quyết định tăng thêm khẩu phần ăn cho tất cả tù binh 0,1 gram cá mỗi ngày một đầu người.


Chúng tôi bụm chặt miệng để khỏi cười phá lên. Cả gram cá thối đã phải vứt bỏ, tăng thêm 0,1 gram để làm gì? Thật đốn mạt. Nói đùa, chính câu nói đểu giả của hắn đã làm năm ngàn con người dịu đi. Thử hình dung xem: Nếu hôm đó chúng tôi biết tin Bác ốm nặng sắp mất thật thì điều gì sẽ xảy ra? Mậu Thân đã không đâu vào đâu, (xin lỗi, lúc ấy tôi nghĩ thế chứ đã được hiểu kỹ về tầm quan trọng cũng như ý nghĩa chiến lược của nó đâu) rồi cuộc sống tù đầy khổ ải, bây giờ lại Bác mất nữa thì đời cầm súng vô vọng quá! Vậy còn xá gì nữa mà không xông tất cả lên xé xác bọn ăn thịt người đang hiện diện ở ngay trước mặt kia. Năm ngàn con người có thể sẽ chết hết nhưng cái nhà tù này cũng chẳng còn gì. Thật phúc cho chúng nó và cũng… còn may cho chúng tôi.


Nhác thấy câu nói của mình không gây một hiệu quả gì trong đám đông, thậm chí những ánh mắt giễu cợt từ đó bay lên tỏa vào thân hình hắn, lại thêm cái nhún vai không mấy hài lòng của viên cố vấn Mỹ đứng cạnh chẹn ngang lấy họng, tên đại tá bảnh bao và choáng lộn những khuy bấm, khuy cài trên quân phục thoắt nổi giận, y vẫy tên trung tá Phước, trưởng ban chiến tranh chính trị lại gần, vừa nói cái gì đó vừa xỉa đầu can xuống đám tù đen đặc hết nửa sân banh. Tên Phước gật đầu rồi bật ngón tay. Một đại úy to con, đen đúa như người Nùng bước ra. Tôi nhận ra hắn là trung úy Long, giám thị trưởng nổi tiếng về sự tàn bạo và cũng chính vì thói tàn bạo đó mà hắn được vinh thăng từ thiếu uý lên trung uý, từ giám thị thường lên giám thị trưởng nội trong vòng ba tháng. Thằng này lấy chủ trương đàn áp làm sách lược. “Thằng cứng đá cho mềm, thằng mềm đá cho chết, chết rồi cần thiết dựng dậy đánh nữa!”. Hắn thường tuyên bố như vậy và nhiều lần ra tay trực tiếp. Nghe đồn hắn học thuật đánh người từ Mỹ về và một khi hắn ra tay thì chẳng mấy người sống sót nổi. “Lành đập cho què, què đập cho què luôn!”. Hắn cũng lại nói như thế và làm đúng như thế. Hắn đập tù ở mọi nơi, ở mọi lúc. Vợ hắn lên thăm, hắn vẫn đập, đập xong ra ngồi thở hồng hộc cho vợ quạt mát rồi trở vào đập nữa. Mẹ hắn lên thăm cũng vậy. Bà mẹ đi đạo, không chịu nổi hành vi của con, đã buông lời khuyên: “Mày làm ác, sau này xuống địa ngục bị bỏ vạc dầu đó con”. Nó trả lời: “Trước khi tôi bị bỏ vạc dầu, tôi cho mấy thằng Cộng sản cuồng tín này vào vạc dầu trước đã”.


Kềnh kệnh chuyển dịch cái thân xác nặng ít nhất 80 kilô ra trước hàng người, tiếng nói ồm vang như phát ra từ chum vại, tên trung úy ác ôn gườm gườm:


-         Đ. mẹ! Bây giờ hô nghe bay! Tao hô gì thì bọn bay hô y sì theo đó. Thằng nào không hô bắn bỏ tại trận.


Phương án này các chi bộ Đảng chúng tôi đã dự kiến nên chẳng lấy gì làm ngạc nhiên. Những ngày đầu, chúng cũng tập họp bắt tù hô tầm bậy tầm bạ, anh em chưa có kinh nghiệm nên chơi rắn trở lại, rút cục chúng nổ súng xối xả làm thiệt mạng hàng chục người. Đầu óc thân thể chúng tôi căng chằng để chuẩn bị đối phó. Đây thực sự là một cuộc đấu trí mà cái giá phải trả là mạng sống của mình, và toàn bộ nội dung của sự đấu trí đó là cách hô lái để chuyển đổi ý nghĩa, vậy thôi.


-         Nước Nam là của người Nam – Nó hét.


Câu này chuyển đổi không khó, chỉ việc đệm chữ “Việt” vào trước chữ Nam cuối cùng là xong, chỉ có điều phải đệm thật nhẹ, đệm bằng hơi gió, đệm như không đệm gì cả mới ổn. Chúng tôi hô:


-         Nước Nam là của người Việt Nam…


Không rõ có hài lòng hay không, trung úy Long gào tiếp:


-         Quân lực Việt Nam cộng hòa bất khả chiến bại!


Câu này rắc rối hơn một tí. Bất khả là không có khả năng. Khả năng là có, vậy chỉ còn cách hô ghép “bất khả” thật nhanh “bất” hô nhẹ “khả” nhấn mạnh nghe như chỉ có mỗi chữ “khả” thôi. Bởi lẽ hàng ngàn con người đều hô thì việc còn hay mất, nhẹ hay nặng một chữ thật khó mà phân biệt. Tất nhiên, năm ngàn người không phải người nào cũng hô lái, được như thế, chủ yếu trông vào mấy hàng đứng đầu đã có ý sắp đặt trước, những hàng đứng sau chỉ cần ầm ào theo. “Quân lực Việt Nam cộng hòa… khả chiến bại!”. Bọn tôi hô đúng như thế và lần này cũng thoát.


Câu cuối cùng:


-         Chúng tôi nhất quyết không đi theo Đảng Cộng sản Bắc Việt – câu này tương tự như câu trên, chỉ việc “nuốt” khéo đi chữ “không”.


-         Chúng tôi nhất quyết… đi theo Đảng Cộng sản Bắc Việt!


-         Tốt! Thứ tự giải tán!


Đại loại là như thế anh ạ! Thực ra xét đến cùng là hòa. Nó tưởng mình hô theo nó, mình biết mình hô theo mình. Nó có biết nó thua đâu và nó cũng đâu có hay mình thắng, nếu sau này nó phán đoán ra thì cũng muộn màng rồi, có thằng nào tự tay vả vào mặt mình bao giờ.


Nhưng nó lại có tác dụng khích lệ tư tưởng và siết chặt đội ngũ tù binh ghê lắm! Năm ngàn con người đều phát ra những lời thề công khai giữa nắng gió, phát ra từ lồng ngực u uẩn của mình kia mà.


Tuy vậy đêm hôm đó về trại, tất cả chúng tôi đều không ngủ được. Lời thông báo của thằng đại tá Đắc cứ ám ảnh chúng tôi. Cả trại muốn ngồi dậy, muốn hỏi nhau, muốn tìm ở các đồng chí lãnh đạo một lời khuyên, một lời giải đáp nhưng không dám nhúc nhích. Đèn trong phòng sáng choang, chỉ cần ngồi tụm năm tụm ba, rì rầm trò chuyện là bọn quân cảnh ập vào thét lác rồi. Có lẽ đêm ấy tất cả chúng tôi, những người tù ở một hòn đảo xa ngái đều nhớ về Hà Nội, nhớ về Bác. Hình ảnh Bác chưa bao giờ sáng rõ lên trong trí não đã từng chai mòn đi vì những trận đánh đập bạo tàn của bọn tôi như đêm nay… Bác Hồ ơi! Bác đừng chết nhé! Bác không thể chết… Cuộc chiến tranh còn đang lâu dài ác liệt, chúng cháu đang khổ cực lắm… Bác đừng bỏ chúng cháu mà đi… Bác Hồ ơi!


Trong đêm giá lạnh hun hút khí núi tràn về, những người tù không manh quần tấm áo nằm co quấp lấy nhau trên bệ xi măng đã thành tâm nguyện cầu như vậy. Hy vọng như vậy.


Đó là đêm mồng hai tháng chín năm 1969. Bốn mươi ngàn tù binh Phú Quốc đều chẳng ai ngờ rằng, đấy chính là đêm Bác vĩnh biệt dân tộc ra đi mãi mãi. Tin này mãi đến tối ngày hôm sau, tối mồng ba, chúng tôi mới biết! Một người lính quân cảnh vốn xưa nay, có thiện cảm với trại tù đã chọn đúng phiên gác của mình mở khe khẽ cái đài đen bên hông làm bộ đi qua đi lại trước cửa tù… Ban chấp hành Trung ương Đảng… Hội đồng Nhà nước… Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đau đớn thông báo cho toàn thể đồng bào và chiến sĩ… Giọng chị phát thanh viên Đài tiếng nói Việt Nam nấc nghẹn đã báo cho chúng tôi cái tin khủng khiếp đó. Chúng tôi cũng nghẹn lặng người đi… Thế là hết! Thế là không còn một tia hy vọng mỏng manh nào nữa! Tại sao lại có thể nhanh như thế được Bác ơi… Bác chết rồi! Bác chết thật rồi mà chúng cháu, những đứa cháu, những đứa con của Bác vẫn còn bị giam cầm tủi nhục ở đây! Chúng cháu không thể… Có lẽ đó là cái đêm đau đớn nhất của cả dân tộc và của cả chúng tôi. Đêm ấy không ai nói một lời nào, chỉ thỉnh thoảng trong phòng giam lạnh lẽo lại vang lên những tiếng thở dài, tiếng sụt sịt và cả những tiếng nấc nghẹn ngào không kìm nén được. Ngoài kia ngay những người lính quân cảnh cũng đi lại khẽ khàng hơn. Dưới ánh sáng đèn tù, thoáng thấy những đôi mắt ngấn lệ của một vài người trong đám lính rằn ri ấy…


Bác mất rồi! Phải biến buồn đau thành sức mạnh, người lính nào chả tự chủ lòng như thế nhưng ở trong tù, biến thành sức mạnh thế nào đây? Thành ra nỗi đau nhân đôi, đau trong sự bất lực. Song cũng kỳ lạ lắm! Chắc anh đã biết trong tù làm gì có đủ quần áo mà mặc; vải áo vải quần xé ra lau vết đau, lau mủ máu, lau vệ sinh sạch trơn rồi, nhưng không hiểu bằng cách nào, sáng hôm sau ngay trước cửa trại đã xuất hiện một hàng chữ trắng viết trên nền vải đen rộng một tấc, dài hai chục tấc: “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Tôi hiểu đây là kết quả của công tác binh vận hoặc tầm nhìn xa có ý thức chuẩn bị trước của liên chi ủy trại tù. Nói thật anh ạ! Giữa nhà tù khổng lồ đâu đâu cũng rờn rợn khí tử thần, cái khẩu hiệu giống một chiếc băng tang đó thúc mạnh vào ngực ghê lắm! Ngay bọn giám thị cũng bị bất ngờ và choáng váng. Chúng chỉ dám lặng lẽ gỡ xuống rồi đem đi chứ không gầm gào như mọi lần. Bọn quỷ sứ cũng có một góc sâu thẳm trong trái tim đen tối giành cho vị lãnh tụ anh minh mà kích thước bao trùm lên trên cả những hận thù chính trị tầm thường.


Chưa hết! Ít ngày sau, chúng tôi được bên khu sĩ quan ném đá sang báo tin: Bên đó anh em đã thay nhau trích máu vẽ lên một hình ảnh Bác Hồ ngay trên tường thiếc. Sao lại thay nhau? Thân tội tù gầy guộc tựa xác ve, chỉ một người làm sao đủ máu vẽ nên hình Bác? Phải mươi, mười lăm tù góp máu lại mới tạm gọi là có chút màu đỏ nhờn nhợt vạch lên tôn thiếc. Rất tiếc bây giờ cả khu tù không còn lại một dấu tích gì, chứ không trên tường thiếc đó chắc chắn vẫn còn những vệt đỏ mờ mờ. Bởi vì sau đó, bọn giám thị bắt tù cạo rửa, tưới nước thế nào cũng không sạch, làm cách sao hình dạng đôi mắt và hàm râu Bác vẫn hiện ra.


Nghe đến đây, tôi siết chặt tay anh Sơn:


-         Quý hóa quá! Rất cảm ơn anh Sơn đã cho tôi nghe được những kỷ niệm xúc động. Cảm ơn!


-         Bây giờ tôi kể về vượt tù – Sơn chớp chớp mắt lảng đi cái siết tay của tôi – Nếu nói về vượt tù thì có lẽ nhà lao Phú Quốc là nơi có nhiều cách thức vượt phong phú thiên hình vạn trạng nhất trong các nhà tù toàn quốc. Tôi nói điều này không sợ võ đoán vì nhà lao này toàn quân nhân thì bao giờ cũng giàu năng lực hành động và bản lĩnh hành động. Người lính thường đồng nghĩa với sự quyết liệt phải không anh? Mà hành vi vượt tù đòi hỏi sự quyết liệt dữ lắm về cả phương diện tư duy lẫn phương diện thực hiện.


Ngoài chui rào, ngoài bám gầm xe, chui thùng rác, thùng phân, ngoài đào hầm khoét ngạch… Một trong những phương diện quyết liệt ấy là đánh lộn, cướp súng trốn tập thể. Đây là dạng thức hữu hiệu thường được anh em áp dụng nhất.


Như anh đã biết, tù không phải chỉ là tù ngồi một chỗ. Ngày ngày, chúng sử dụng anh em đi làm đủ trò tạp dịch: Bẻ củi, đào hào, chặt gỗ, dọn chuồng phân hố xí, giặt giũ, rào hàng rào… Nói chung đi bẻ củi về cho nhà bếp hay đi chặt gỗ trên núi về củng cố nhà trại là thứ tạp dịch chúng tôi chấp nhận. Nhưng bắt tù bỏ sức đi đào công sự, làm hàng rào để trói chặt thêm đời tù túng là chúng tôi không chịu. Không chịu luôn cả những tạp dịch tầm bậy như  dọn chuồng phân hố xí cho lính hoặc nấu nướng giặt giũ, lấy củi cho vợ con nó. Các cuộc đấu tranh thường nổ ra ở mấy nội dung này và máu người tù cũng hay đổ ra ở đó. Đổ thì đổ nhưng phải đi hầu hạ kẻ thù và vợ con kẻ thù là dù có chết chúng tôi cũng không chịu. Sau này, thấy găng quá, chúng cũng bỏ qua luôn việc này.


Trở lại việc ra rừng bẻ củi. Rừng gần thì đi bộ. Rừng xa thì nhảy ô tô. Thoạt đầu chúng còn chủ quan lơ là cho rằng tù binh Phú Quốc có cho chạy cũng chẳng biết chạy đi đâu nữa huống chi là trốn. Và chúng áp tải tù lấy lệ. Mười tù, có khi hai mươi tù chỉ có một hay hai lính cầm ngang súng nghễu nghện đi theo trông coi. Và gọi là trông coi cho có vẻ chứ vào mí rừng rồi là chúng bỏ mặc anh em, bấm nhau mò vào ấp kiếm rượu, kiếm gái giải khuây rồi chiều lại, huýt còi tập hợp tù trở về. Thật đơn giản và nhẹ nhàng. Thời gian đó tù không có hiện tượng trốn thật. Núi rừng mênh mang biển trời bát ngát, biết trốn đi đâu về đâu? Sau đó, nhờ có mấy trận đánh phục kích cướp tù của lực lượng cách mạng huyện thành công nên anh em mới hình thành ý thức vượt ngục và bọn lính cũng kìm kẹp gắt gao hơn. Trước là một kèm mười, sau là một kèm năm… Một hèm hai. Thấy tù vẫn trốn được, chúng áp dụng luôn tỉ lệ một kèm một. Tỉ lệ này xuất hiện sau Mậu Thân, khi lượng tù lên quá nhiều. Anh thử hình dung mười người tù lẻo khoẻo đi té lên té xuống lại có mười thằng lính vâm vạm, súng ống lăm lăm ghì gầm bên cạnh thì làm sao còn thoát được nữa.


Vậy mà chúng tôi vẫn thoát đó, thoát được cả bốn mươi hai người một lúc. Lần thoát đông đảo nhất trong các lần thoát ngục. Nhưng riêng tôi lại không thoát, thế mới khốn khổ. Tôi xin kể.


Mùa mưa sắp đến, biết rằng chúng sẽ huy động tù đi bẻ củi ồ ạt để dự trữ, nên chúng tôi ngấm ngầm chuẩn bị. Trước hết là thành lập một đội hình ngon lành gồm toàn những người trẻ khỏe và chí cốt. Trẻ khỏe thì dễ rồi! Trong hơn một trăm người oặt ẹo, anh nào có sức một chút là lựa được ngay. Khái niệm “có sức” ở đây có nghĩa là còn ăn uống, còn đi lại được. Và thực chất chúng cũng chỉ chọn những người như thế để vào rừng. Vậy là cả ta lẫn địch đều ngầm chọn một đội hình sao cho thật khớp. Còn “chí cốt” thì cũng không khó mấy. Chỉ cần ở với nhau vài tháng là biết tư chất của nhau ngay. Anh nào gan góc, anh nào nhu nhược nó lộ ra lồ lộ không thể lẫn lộn được. Chỉ có cái anh làm mật vụ, làm chỉ điểm có khó phát hiện hơn một tí nhưng vẫn cứ lòi ra. Tuy nhiên không chỉ căn cứ vào phong độ, tư chất chung chung. Từng tổ Đảng, từng chi bộ bí mật đứng ra cử người, chọn người. Có người được chọn lại không muốn ra, có người không được chọn lại tình nguyện xin ra. Thành thử vấn đề nhân sự cũng xáo trộn rắc rối lắm.


 Có nhân sự ổn định rồi, chúng tôi bắt đầu tranh thủ tập luyện. Trong tập luyện có cả rèn luyện thể lực và tập luyện kỹ thuật. Tập luyện lén thôi, tập luyện trong đêm, giờ ra sân hóng gió buổi chiều. Tập luyện hai người, ba người một. Tập luyện không cho kẻ thù đoán biết và không cho cả nội bộ được hay. Nước đời tù tội khó thế đó. Có khi đối phó trong nội bộ còn phức tạp hơn đối phó với kẻ thù.


Tất nhiên trong năm mươi người phải có một người cầm đầu. Đây là một trận đánh táo bạo, có lên phương án thì dứt khoát phải có người chỉ huy. Cái đó hoàn toàn bí mật, cái đó không thể công khai bàn tán, cử ra. Người chỉ huy cũng như người chủ trì Đảng thường là người khuất bóng nhất, thậm chí còn làm ra vẻ con người cầu an tiêu cực nhất để dễ bề che mắt, dễ bề chỉ đạo lãnh đạo. Nghĩ cũng hay! Trong lao tù, tất cả những khái niệm về địa vị, về quyền lực đều được xem xét dưới dòng chính thống. Chỉ huy ư? Lãnh đạo ư? Có vinh dự bổng lộc gì đâu ngoài một quyền lợi duy nhất: quyền lợi được khổ trước, chết trước mọi người. Chuyện kết nạp Đảng cũng vậy. Trong tù, qua thử thách, có những đảng viên thối chí không được mời sinh hoạt, có những đảng viên gần như vô hình bị loại ra khỏi Đảng (tôi nói “vô hình” bởi lẽ làm gì có một công văn chính thức quyết định hay khai trừ và ai đứng ra ký?) Nhưng cũng có những quần chúng ưu tú được gia nhập Đảng. Vào Đảng lúc này có nghĩa là tự đứng vào đội ngũ những người tình nguyện hy sinh vì sự sống của anh em. Cho nên khái niệm địa vị và quyền lợi chính trị lúc này thật hết sức trong sáng, hết sức nhân văn. Tôi nói thế không hiểu có đao to búa lớn quá không nhưng thực chất đúng là như vậy.


Tôi có một nghĩ ngợi bên lề: Trên chiến trường, người lính được sàng lọc hết sức ngặt nghèo, cái giả, cái thật, cái xấu cái tốt, cái cao thượng, cái thấp hèn không có chỗ lộn sòng. Người lính trong ngục tù, lại một lần nữa được sàng lọc nghiệt ngã hơn. Những cái gì bên ngoài còn mù mờ đánh lận được, vào đây sẽ được phanh phui ra hết. Vậy mà…


Anh Sơn ngừng lại, trên vầng trán của người dạy triết cấp đại học thoáng ưu tư. Nắm bắt được điều đó, tôi hỏi:


-         Vậy mà sao anh? Anh cứ coi tôi là bạn tâm tư…


-         Vâng! Vậy mà từ lò lửa địa ngục trở về, người lính bị đánh đổ đồng như nhau hết. Cũng buồn… Nhưng mà thôi – Anh cười – Tính tất yếu của lịch sử phải không anh? Tôi nói đến đâu rồi? À… Đang nói về người cầm đầu. Người cầm đầu đó có thể nhiều anh em không biết nhưng tôi nghĩ rằng tôi đoán ra. Đó là một đại úy trinh sát chủ lực, nhưng vào đây anh chỉ khai là thượng sĩ anh nuôi, mang biệt danh Tư Lì, còn tên thật là gì, thú thật tôi không hay. Nghe nói anh này ngày trước là võ sư nhất đẳng huyền đai, tức võ sĩ đai đen gì đó. Trong tù kham khổ đói khát thế mà anh ấy vẫn rất linh lợi, rắn rỏi. Trước khi đi ngủ và buổi sớm tỉnh dậy, bao giờ anh cũng đi mấy bài quyền cho mồ hôi vã ra rồi làm gì thì mới làm. Thân thể anh ấy hầu như miễn dịch với tất cả các bệnh hắc lào, ghẻ lở và phù thũng mà người tù thường mắc. Tính anh ấy trầm lặng, hay ngồi im tọa thiền hàng giờ không nói năng, không vui buồn, không giận dữ, chỉ có đôi mắt trũng sâu là ánh đỏ lên, nên chúng tôi kêu anh là Tư Lì. Tư Lì bằng việc làm của mình đã kéo theo được hàng chục người, trong đó có tôi, sáng tối tập luyện như anh. Tập cho qua thời gian, cho thoáng đãng phần nào trong đầu, cho khỏi u uất đập đầu vào tường mà chết chứ tập hay không tập cũng thế thôi. Tôi nghĩ vậy, cho đến khi đội hình thoát ngục được bí mật hình thành, tôi mới láng máng nhận ra hành động và vai trò của con người lì lợm gần như sống thoát ra ngoài mọi người này. Một tuần sau, đúng như dự đoán, thằng giám thị kêu ông trại trưởng cắt 42 người đi bẻ củi. Đã có thống nhất ngấm ngầm trước, ông trại trưởng kêu tên những người đã dự kiến ra khỏi hàng. Tất nhiên 8 người nào đó phải ở lại. Rất buồn là trong tám người không may đó lại có tôi. Hẫng hụt một chút nhưng không sao! Không ra lần này thì ra lần khác dù mỗi lần ra mỗi khó hơn. Miễn là 42 anh em kia lần này trót lọt.


Họ đi rồi, cả ngày hôm đó, dù làm gì thì làm nhưng trong lòng chúng tôi nóng như có lửa đốt. Ai cũng hướng về mé rừng xa cầu mong cho anh em mình đừng gặp điều rủi ro gì, cầu mong cho đừng nghe thấy tiếng súng nổ từng tràng. Giật súng trốn mà còn để nghe súng nổ thì có nghĩa là hết, là bại là sẽ không còn một ai sống sót trở về cả. Căng thẳng và nặng nề lắm! Nặng nề đến nỗi thằng giám thị cũng phải kêu lên: “Bọn bây chết vợ cả rồi hay sao mà nín khe vậy?”.


Cho đến trưa vẫn không nghe thấy động tĩnh gì, chúng tôi đã khấp khởi mừng thầm. Thành công rồi! Thoát rồi! Cố gắng lên các đồng chí ơi! Các bạn cứ yên tâm ra trước. Ngày mai chúng tôi sẽ gặp lại nhau tại một căn cứ trong rừng!


Thế rồi vào khoảng xế trưa, một tín hiệu nữa khẳng định thêm mong mỏi của chúng tôi: Từ sân bay, chiếc trực thăng vội vã cất cánh bay xiên bay xéo vào tất cả các cánh rừng kế cận. Liền đó, trong khu vực nhà tù thấy bọn quân cảnh chạy qua chạy lại nhộn nhạo cùng với hàng đàn chó săn được xua tới tỏa ra ngoài hàng rào. Chúng đang hốt hoảng đi lùng sục hòng bắt lại anh em mình. Thế tức là đội hình 42 người đã hoàn tất sứ mệnh. Vấn đề là có thoát ra khỏi tầm truy lùng của chúng nó không? Ngồi trong phòng giam, lòng dạ chúng tôi một lần nữa lại bồn chồn khôn tả. Cứ một tiếng tắc độp của đạn thẳng, một tiếng cảo đùng của rốc két thả từ trên máy bay xuống từ nơi xa vẳng đến là lồng ngực ai nấy đều nhói lên như chúng bắn, chúng thả vào chính con người mình.


Đến chiều tối thì mọi việc lại trở về vẻ yên ắng thường ngày. Người lính quân cảnh đeo đài cho chúng tôi biết tin Bác mất hôm nào, đã tìm cách thông báo cho chúng tôi toàn bộ diễn biến của sự việc…


Vừa ra khỏi trại, 42 tên quân cảnh, đúng, 42 tên không hơn không kém đã bắt đám tù đi dồn cục lại, còn chúng nó đi rải rác thành thế chặn đầu đít để phòng ngừa bất trắc. Kiểu đi thế này thật bất lợi, 42 tù làm sao có thể dứt gọn được 42 lính ở tư thế lệch như vậy. Cho nên phải nén nhịn chờ thời cơ. Thời cơ nào? Chắc chắn nó không thể xảy ra lúc đi, cái lúc mà đối phương còn hoàn toàn tỉnh táo và ra sức đề phòng rồi. Vậy chỉ còn chờ lúc về. Lúc về hai bên đều mệt và đói. Ta thì bó củi lặc lè trên vai, nó thì đã có phần nào chểnh mảng, dưới sự điều khiển ngầm của anh Tư Lì. (Sau này khi ra gặp lại, anh em còn sống sót có kể) bằng cách nào đó như giả vờ đánh tuột củi, giả vờ vấp ngã, giả vờ đi nhanh, đi chậm lại… để gióng đều được hàng với tụi lính. Tức là tụi lính đi hàng dọc trên bờ đê, anh em tù đi hàng dọc dưới thấp sao cho cứ một người tù đi kèm được một người lính, không để quãng cách quá so le. Bọn lính không để ý, chỉ muốn mau mau áp tải được cái đám tù “của nợ” này về trại đặng còn hú hí với vợ con, với cờ bạc nhậu nhẹt. (Anh nên lưu ý: Vợ con lính không ở cố định kiểu khu gia binh như một số nơi khác mà chỉ thỉnh thoảng lên thăm chồng con ít bữa rồi lại về. Vợ con bọn giám thị, bọn chỉ huy tối cao cũng thế).


Còn cách trại khoảng ba cây số, thấy đội hình ta đã áp sát đều đội hình địch, một người – như đã tập luyện và phân công trước, lăn đùng ra, chân tay giãy giụa như bị trúng phong. Cả hàng lính đột ngột dựng lại và thằng lính đi kế đó hạ súng bước tới kẻ bị nạn… Tôi mở ngoặc đơn một chút. Có lần ở trại tù bên cạnh, anh em làm động tác giả khéo hơn là đang đi, một người chìa ra hộp quẹt zip bô đã chuẩn bị sẵn vào mắt thằng trưởng toán: “Có phải quẹt này của ông không?” Nổi máu tham nó nhận bừa, vừa chìa tay ra là bị tóm ngay lấy quật ngã luôn. Nhưng đấy là một toán nhỏ hai, ba thằng, còn đây là cả một trung đội dư 42 tên… Tôi kể tiếp! Thằng lính hạ súng bước tới kẻ bị nạn… Thời cơ hành động đã điểm. Tư Lì hô lên một tiếng “sát” rợn người… Nhanh như cắt, theo một thế võ tước súng, quật ngã đối phương đã được bí mật tập luyện thành thạo trong trại, từng người quăng củi nhào tới tên lính của mình. Trong chớp mắt, 42 tên lính hoàn toàn bị tước vũ khí. Đứa ngã dúi ngã dụi, đứa loáng quáng đưa hai tay lên trời, đứa bỏ chạy thục mạng, đứa lại cứ đứng chết trân, nằm há hốc không hiểu gì cả… Lệnh không được bắn ban ra – Đây là một cái lệnh hết sức sáng suốt vì nếu không, hận uất bao ngày dâng lên, dứt khoát anh em sẽ đánh đòn thù và để rồi sau đó, hàng chục hàng trăm anh em khác còn trong vây hãm sẽ bị trả giá tàn khốc – Và theo phương án đã phổ biến, từng tổ nhanh chóng tản khai vào rừng…


Đúng lúc ấy trực thăng bay lên và quân cảnh từ mọi hướng túa ra… 42 người là 42 thực thể xa lạ, không hề có khái niệm gì về địa hình, đường xá nên cứ hướng rừng mà chạy. Kẻ thù đoán biết đều này và chúng cũng có phương án rượt tù của chúng nên dần dần anh em bị chết tắc trong vòng vây. Trên trời trực thăng thả rốc két, dưới đất lính dàn hàng ngang càn từng thước rừng… Thỉnh thoảng lại vang lên một tràng đạn khoái trá… Cho đến mãi một tuần sau, 42 anh em chỉ chạy thoát về cứ Dương Tơ năm người. Số còn lại lần lượt bị bắn gục hết. Số năm người còn lại này, sau những trận chiến đấu ác liệt trên đảo, trên đất liền, cũng thay nhau hy sinh hết… Tất nhiên trong đó có cả người cầm đầu, anh Tư Lì!


Đây là một bi kịch phải không anh? Bi kịch trong chiến tranh nhưng lại có giá trị cổ xúy những người còn nằm lại trong vòng vây giam hãm của kẻ thù. Từ đó, anh em vượt ra nhiều hơn. Người vượt lần sau rút bài học người vượt trước nên hầu hết trót lọt. Sau vụ 42 người này, chính bọn chỉ huy quân cảnh cũng tỏ ý kính nể mình. Thằng Đắc ra lệnh cho bộ hạ chôn cất anh em đàng hoàng, chôn mỗi người một mồ chứ không chôn ù xọe chung đụng như trước kia.


Vụ vượt ngục táo bạo này rung động tới cả nội các Sài Gòn. Đại tá Đắc dù là con rể tướng tổng tham mưu truởng nhưng số phận cũng chuẩn bị lung lay để chuẩn tướng Tân về thay. Và nó có một độ vang xa trên trường quốc tế. Ba hôm sau đài BBC đưa tin:


“Hàng chục tù binh cộng sản Việt Nam đã táo bạo giật súng đối phương trốn chạy giữa ban ngày. Sự việc này buộc người ta phải xem xét tới trách nhiệm và bổn phận của những quan chức hữu trách liên đới tới nhà tù Phú Quốc”.


-         Thế còn anh – Thấy Sơn dừng lại lâu, tỏ ý không muốn nói nữa, tôi gặng hỏi – Trường hợp vượt ngục của riêng anh?


-         Tôi ấy à? – Sơn lắc đầu cười nhẹ – có gì đáng nói. Một thứ chui thùng rác theo kiểu trốn tìm. Chuyện vặt ấy mà.


-         Chính thế tôi càng cần nghe. Những cái vặt ấy tạo nên cái tổng thể. Thiếu những cái lặt vặt đó, làm sao thiên hạ hiểu cho trọn được nhà tù Phú Quốc, anh!


-         Nói đùa, các anh dai thật đó – Sơn miễn cuỡng thỏa hiệp. Nhưng đừng ghi chép nhé, đáng gì. Đơn giản thế này thôi. Phòng giam nào cũng có riêng một cái bếp. Bếp nào cũng có hai thùng đựng rác, thứ thùng to tướng, cắt đi một nửa ấy mà. Một lần vào bếp xin mấy hạt muối về rửa chỗ loét mủ, tôi phát hiện ra cái thùng này và chợt nảy một ý định bất ngờ. Thông thường tù binh hàng chiều phải cắt phiên nhau đi đổ rác. Mỗi thùng hai người khiêng, có lính đi kèm, khiêng ra đổ tận ngoài khu vực rào. Đổ đi đổ lại nhiều lần, cái kíp khiêng 4 người tự dưng hình thành thế cố định, cứ đến lượt là tự khắc kéo nhau đi, không phải phân công đi phân công lại nữa.


Lần ấy cũng thế. Chiều mai đến lượt, tối nay sáu thằng kéo nhau ra một góc riêng vừa giả bộ đánh cờ vừa bàn soạn. Nội dung bàn soạn có thể tóm lược như sau.


Một, ai đi và ai không? Thống nhất người nào vào tù trước thì được quyền ra trước. Tôi và anh Đại – Tên anh ấy gọi trong tù, còn tên thật là gì, tôi không biết – Được nhất trí ra đợt này.


Hai, nếu bị lộ thì chỉ hai người đi tức hai người ngồi trong thùng phải đứng ra chịu trách nhiệm mà không được khai báo gì hết về kẻ khiêng. Nhất trí!


Ba, cách thức tiến hành như sau: ai đi phải bí mật chui vào thùng ngồi trước từ ba đến bốn tiếng, rồi người khiêng sẽ lượm lặt càng nhiều càng tốt các thứ rác rưởi, bao bì đựng cá, tro nguội đổ tú ụ lên trên. Đặc biệt là tro nguội phải cho nhiều để lúc đổ xuống, tro sẽ tạo ra một lớp mù che khuất thêm người. Sau đó sẽ rải than nóng lên trên cùng nhằm gây hiệu ứng tâm lý cho đối phương.


Bàn soạn xong đâu đó, chúng tôi mới báo riêng cho đồng chí phụ trách Đảng trong trại biết, phòng giam của tôi tuy đông tù binh nhưng số đảng viên không nhiều, khoảng hơn hai mươi gì đó, nên chỉ thành lập chi bộ chứ chưa có Đảng ủy. Tôi nghĩ số đảng viên chắc nhiều hơn nhưng biết làm sao được, một khi có nhiều người không nhận mình là sĩ quan trước kẻ thù thì sao lại không cá biệt có phần tử đảng không nhận mình là đảng viên để mong nhẹ tội. Tuy nhiên hai cái này đương nhiên là mang hai ý nghĩa khác nhau.


Đồng chí cấp ủy nghe tôi báo cáo, chỉ khẽ thở dài: “Tôi yếu quá rồi chứ nếu không tôi cũng sẽ xin ra cùng các cậu. Nếu thoát được, ra ngoài ấy nhớ nói với các đồng chí lãnh đạo rằng, dù hoàn cảnh nào, những tù binh Phú Quốc vẫn nguyện trung thành với cách mạng, với Đảng đến giọt máu cuối cùng. Phú Quốc mong từng ngày cách mạng đến phá ngục giải phóng cho mình…”.


Buổi trưa, chờ mọi người đi nằm hết, mấy người tù làm bếp cũng đang lúi húi cọ rửa xoong nồi ở sân sau, tôi và Đại bới rác chui nhanh vào thùng của mình…


Vừa mới gục mặt xuống, một mùi hôi hám tựa cóc chết của các loại phế thải xộc mạnh vào mũi khiến chút nữa tôi bật đứng dậy mà ra sức hắt hơi. Nhưng quen được ngay. Bao ngày qua, tôi còn có thể quen được mùi vị ghê gớm hơn thế này kia mà. Hai tay ra sức bới rác, tôi cố chìm sâu người xuống, chìm càng sâu càng an toàn… Đít tôi chạm đáy thùng. Được rồi! Tôi khoanh hai cẳng chân lại cho hết cỡ như cái lối ngồi tập yôga hay ngồi xếp bằng tròn cho hạ thật thấp mục tiêu.


Buồn cười! Trong tình huống nguy nan, con người có thể làm được những cái mà bình thường không thể làm nổi như cái động tác khoanh tròn dưới đáy thùng này. Bây giờ có các vàng tôi cũng không thể ngồi lại được. Hoàn toàn chịu. Ngồi như vậy được chừng một giờ đồng hồ thì hai chân tôi bị tê cứng. Tê vậy chứ tê nữa cũng đành chịu. Định đổi chân à? Cả lớp rác trên đầu anh sẽ rùng rùng chuyển động ngay. Chiếc thùng bên cạnh tôi bỗng phát ra một tiếng “khục!” Bỏ mẹ! Thằng cha Đại nó ho. Bây giờ mà nó ho bật lên thì coi như hỏng hết xôi chè. Lại “khục” một cái nữa! Rất may giờ này bọn giám thị không hay lai vãng vào khu vực bếp núc. Nhưng còn mấy người tù nấu bếp? Sợ liên lụy, họ có thể tố giác chúng tôi lắm chứ. Tôi cố ngồi im và thở thật đều, thở chỉ cần mạnh một chút, tro bay vào họng thì không những phát ho hen mà còn hắt hơi ầm ầm lên ấy chứ. Thời gian trôi qua thật nặng nề. Thỉnh thoảng mấy người nấu bếp lại quẳng thêm lên đầu một vật gì nữa không rõ hình thù. Vừa ngạt thở, vừa nóng nực, mồ hôi tháo ra, ngứa ngáy kinh khủng mà không biết cách nào để gãi. Lúc lúc lại một con kiến cắn vào đùi, hoặc một con giòi từ đám cá thối nhồn nhột khui vào cổ nhầy nhầy… Cho qua hết, miễn là đừng ho, đừng ngất xỉu…


Rồi cái giờ khắc chờ đợi cũng tới. Bốn anh em tù đã ra, vừa đi họ vừa ho hắng khậm khạc đánh động để chúng tôi hay mà chuẩn bị tinh thần. Nghe tiếng giày bọn lính đi cồm cộp ngoài sân, đoán rằng lúc ấy đã vào cuối giờ chiều. Rào! Chợt một xẻng than nóng đổ lên đầu tôi. Đổ than nóng là đúng theo bàn bạc nhưng than nóng tới mức đỏ hồng lên thế này thì gay quá! Nhiều hòn than len qua lá rác rơi xuống người tôi. Tóc tôi hình như đang bắt lửa? Ngực tôi giống như có một đàn bò cạp đang cắn. Tôi bậm chặt răng để khỏi kêu lên thành tiếng… Thùng bên liệu có cùng chung cảnh ngộ như vậy không? Cố lên Đại ơi! Sắp thoát rồi! Họ đang khênh kìa!


Và thân thể tôi bỗng được nhấc bổng lên thật. Một tiếng nói rơi xuống tai tôi: “Ráng chịu khó chút nghe! Bắt đầu đi đấy! Ngồi cho im, kẻo gãy đòn!” Theo bàn bạc tối qua, hai cặp khênh phải chuẩn bị cây đòn cho chắc vì thêm một trọng lượng người, dù là người tù chỉ còn 30, 40 kilô nữa thì cũng dễ gãy lắm. Và điều quan trọng hơn là đi cho nhẹ! Rác rưởi lồng cồng, vậy mà khênh đi lặc lè là khó qua con mắt cú vọ của nó.


Sự kiện chui thùng bị phát giác ở khu giam bên đã là bài học đau xót chẳng khi nào quên rồi.


-         Ê! Hai thằng kia đứng lại!


Một giọng quân cảnh hét rợn tóc gáy. Cái thùng tôi đang ngồi được đặt phịch xuống đất. Nói vậy, tôi đã tưởng tượng ra một loạt đạn sắp sửa phóng xuống đỉnh đầu…


-         Cái gì trong thùng mà khét vậy mầy? – Cái giọng đó nói tiếp.


-         Có gì đâu thầy Hai – Tôi nghe một bạn tù trả lời – Cái giẻ, cái giẻ lau háng, lau dái dơ dáy quá, đốt lên cho khỏi hôi.


-         Vậy hả? – Đột nhiên cái giọng nói đó hạ thật thấp – Giẻ gì mà cháy hôi mùi tóc? Có đứa nào ở trong đó không? Nói không tao bắn bỏ cả đám bây giờ, có không?


Tôi rụng rời. Thế là xong! Chả lẽ chịu chết trong tư thế ngồi khoanh như thế này! Nhục lắm! Mà lại mang lụy cho đồng đội. Tôi vừa định quyết định hất rác đứng dậy thì có một giọng lính khác cất lên hách dịch ngay trên đầu:


-         Vừa phải thôi hạ sĩ! Làm gì thì làm cũng lo để phúc để đức về sau chớ! Cho họ đi đi, đừng hự hẹ mất thời giờ nữa. Có đứa nào dám ngồi giữa đám than hồng này mà trốn? Chú nghĩ rằng thời thế không có lúc đổi thay, chưa biết chừng tôi và chú lại làm tù của họ à? Mấy anh kia, khênh tiếp đi, tối mẹ nó rồi.


Tên lính ban đầu hự hẹ văng tục mấy tiếng nữa theo cái kiểu không muốn ai lên mặt dạy bảo trước đám tù rồi cũng đá vào thành thùng đến choang một cái “đi!” – Nó quát. Trong thùng, tai tôi ù đi vì cú đá lăm le đó nhưng đầu óc lại nhẹ hẳn. Than cũng đã nguội, tóc tai không còn cháy nữa.


-                      Chiếc thùng lại được nhấc lên và chao đảo chuyển động… Một lúc sau, tôi thấy mình ngồi im. Tới rồi! Giọng người bạn tù nói gần như ghé sát màng tai: “Trong ấy chuẩn bị nghe! Tớ đổ này!” Thành thùng nghiêng dần… tôi cũng nghiêng theo… Ụp! Trong tích tắc, cả tôi cả rác rưởi tro than đều được đổ ụp xuống bãi cỏ tranh mọc lút đầu. “Cứ nằm im, đừng động cựa” Trong tro bụi phủ kín người, giọng anh bạn tù vang lên khe khẽ. “Thế được rồi! Bây giờ chúng tớ về đây! Đi ráng mạnh khỏe, chúc may mắn!” Thoáng thấy hai cái lưng bạn tù quay đi, khênh chiếc thùng rỗng đi tòng teng trở lại, phía trước là thằng lính, trước nữa là trại giam xám xịt đang mờ dần trong trời chiều. Lòng tôi quặn thắt lại trong một cảm xúc xót xa và biết ơn vô hạn vào những cái bóng đồng đội kia.


-                      Lúc ấy cách tôi chừng vài mét, khuôn mặt Đại cũng dần dần ló ra trong đám bụi than. Chúng tôi nhìn nhau mếu máo cười, mặt mày chân tay đen nhẻm. Trời còn sáng, chưa đi được, chúng tôi dũi sâu người vào đám cỏ tranh nằm im nghe ngóng. Lát sau, trong vòng rào chợt vang lên tiếng thằng giám thị kêu lên:


-          Đ. mẹ! Điểm danh mất hai thằng! Bọn bay, xem nó có nấp ở đâu đó không? Thử vô bếp coi!


-                      Tiếng giày lính nện qua nện lại. Muộn rồi, quá muộn rồi các chú lính ơi! Chúng tôi reo thầm trong bụng và bắt đầu lợi dụng những vạt tranh lúp xúp vọt lẹ. Xung quanh trại tù, bóng tối im lìm đã đổ xuống…


-                      Sau này được biết bốn anh em khiêng chúng tôi đã bị đánh một trận đòn nhừ tử, chết đi sống lại nhưng nhất định không chịu khai. Nửa tháng sau, hai trong số bốn người đó tìm cách chui thùng rác định trốn theo kiểu chúng tôi nữa nhưng không thoát. Chẳng rõ bọn địch đã thêm kinh nghiệm phòng ngừa hay có chỉ điểm mà họ bị chúng bất thần đổ hàng chục xẻng than đang cháy đỏ rực vào thùng rồi đậy nắp lại kêu tất cả mọi người đến xem…


-                      Chúng đã độc địa dùng ngay cách thức ngụy trang của anh em để nướng cháy họ.


-                      Anh Sơn kể đến đó thì dừng lại, chìm lắng đi trong cái mảng ký ức thật buồn! Tôi cũng không hỏi gì thêm nữa. Họ, những người bị nướng cháy đó là ai? Ba mươi bảy người giật súng bị bắn chết rải rác trong rừng đó là ai? Là ai?… Liệu có một người tên là Quang, trung úy Quang quê Thái Bình trong số đó không? Có hay không?


-          Quên đi thì thôi, nhưng mỗi lần nghĩ lại, đau xót lắm anh ạ! – Anh Sơn trầm ngâm nói tiếp – Tôi có cảm giác bây giờ không ai nhớ, không ai muốn nhắc đến những ngày tháng đó cả. Có phải con người hôm nay do cuộc sống khó khăn bộn bề quá mà lãng quên, mà dửng dưng với những đau thương đã qua không?


-                      Tôi không thật biết nữa. Nhưng vô lối, dù thế nào mà quên đi cũng đều là có tội. Ở đây xa thành phố, xa thủ đô, nhưng nghe nói có những người muốn phủ nhận quá khứ, phủ nhận truyền thống, muốn kêu gào đa nguyên, đa đảng, muốn… Thực chất là họ muốn gì? Họ muốn quên đi những dòng máu đổ xuống tưới đẫm mảnh đất này để có thời buổi hôm nay chăng? Hay họ đang rắp tâm mưu cầu cái khác trên xương máu đồng đội, bạn bè?


-                      Tôi không trả lời vì câu hỏi của anh, người tù đau khổ một thời đã chứa sẵn ý trả lời trong đó.


-                      Lúc này đã 12 giờ khuya. Bản tin cuối cùng về vùng Vịnh Pécxích lại vang lên: “Nửa triệu lính Mỹ đang chờ một mệnh lệnh của ông Bush là siết cò súng… ông Hútxen cũng tuyên bố: “Người Irắc mong muốn hòa bình nhưng nếu ai đó muốn chiến tranh thì hãy bước qua xác chết của dân tộc này” …Nền văn minh châu Âu, cuộc sống của nửa nhân loại đang bị đe dọa trên miệng vực thẳm…”.


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà lao cây dừa. Ký sự của Chu Lai. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »