tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
06.08.2013
Chu Lai
Nhà lao cây dừa (7)

15


 


Thế là rút cục, tôi vẫn chưa tìm ra cái hạt nhân của thiên phóng sự này là nhân vật khoét hầm! Tôi tự trách mình đã để sự kiện trôi qua trong quên lãng quá lâu. Giá như từ ngay sau năm “bảy lăm” tôi đã chịu nhạy bén sờ mó tiếp cận đến nó thì đâu có khốn khổ thế này. Lúc ấy thì mặc sức mà gặp gỡ, mà ghi chép, quơ tay một cái là vô hàng đống tư liệu còn nóng hôi hổi. Đành vậy. Muộn còn hơn không, có lẽ Tỉnh ủy và Hội cựu chiến binh Kiên Giang cũng đồng nhất với tôi quan điểm đó. Bởi lẽ, đây nó thuộc về phạm trù lịch sử. Mà đã là phạm trù này thì không bao giờ là muộn cả.


 Hồng hứa với tôi là sẽ viết thư, gọi điện, thậm chí đánh điện đi khắp các bạn tù quen biết còn sống xem có tìm ra ai là người đào hầm không. Tất nhiên, với Lê Xuân Các thì không mong gì gặp rồi.


Còn bây giờ, trong khi nôn nao chờ hồi âm những lá thư của Hồng, tôi thực sự may mắn lại nhận được một lá thư khác từ Phú Quốc gửi về. Lá thư dài như một cái truyện ngắn. Tác giả là một đồng chí trong Ban tuyên giáo Huyện ủy còn rất trẻ vốn đã tốt nghiệp đại học Văn khoa ở Huế mới chuyển vào. Bằng nhiệt tình hết sức vô tư của mình, đồng chí ấy đã đáp ứng được sự nhờ cậy hú họa của tôi là nếu có gặp thêm được nhân chứng sống nào của nhà tù hay hay một chút, nhớ hỏi chuyện, ghi lại hộ và gửi cho tôi. Hơn trăm cây số đường biển, muốn ra vào phải mất hàng hai, ba ngày trời, đâu có dễ dàng gì.


Hóa ra cái nhân chứng sống hay hay đó lại hay thật. Từ đầu giờ, chúng ta mới tìm hiểu về những nhân vật của các khu giam những cá thể chiêu hồi, chao! Thật là một mảng tư liệu quý giá để bổ sung vào bức tranh toàn cảnh. Khu giam TÂN SANH HOẠT này thế nào và những tù binh chiêu hồi đó thực chất ra sao? Có lẽ để các bạn cùng với tôi đọc hết lá thư.


“Anh Chu kính mến!”


Sau hai ngày hỏi han tìm kiếm, em đã bắt chuyện được với ông Trần Xuân Tiến tức Hai Tỳ mang số tù 1.244. Ông bảo số tù này là do anh em mình tự đóng lấy cho nhau bằng khuôn đổ dầu hắc ín. Ông bảo, tức cười lắm, quần áo tù là quần áo lính tẩy nhuộm lại, mỗi khi gặp mưa, cả quần áo, cả số tù cứ phai ra lam nham trông không giống cái gì cả.


Đó là kể cái lúc ông đã chịu chuyện, chứ ban đầu mặt mày ông khó lắm anh ơi! Lội cả mấy trăm mét cát mới đến được căn nhà lợp lá ven sông Dương Đông, lúc thì ông kêu bệnh, lúc thì ông bảo sắp ra sông kiếm cá, lúc lại cho thằng nhỏ út con ông nói ba nó đi vắng rồi.


Cha này làm gì mà phách lối dữ vậy ta? Em đã bực, tính bỏ nhưng rồi chính vẻ khó khăn đó đã kích thích trí tò mò trong em. Vả lại… Em đã trót hứa với anh rồi, không làm được nghe kỳ lắm.


Vậy là em lọ mọ tìm đến giữa lúc ông vừa đi cá về. Hết chạy ghe, hết nói này nói nọ nữa rồi nghe! Không đừng được ông đành mời em ngồi vào bàn. Và câu đầu tiên ông phủ xuống mặt em là câu gì anh biết không?


-          “Nhục bỏ mẹ, làm cái thân tù nhục bỏ mẹ mà chú em còn quậy hoài! Chả bõ bọn nhỏ nó cười cho!”.


Thấy lạ, em mới hỏi lại: “Phú Quốc anh hùng, tù binh vinh quang; sao lại nói vậy chú Hai?”, “Nhưng mà là tù “Tân sanh hoạt”, là tù chiêu hồi, chú em hiểu không?”. Lựa lời, em gài: “Cháu là thế hệ đi sau, cháu sao mà biết được. Có gì chú Hai thủng thẳng kể chơi. Chú cứ coi cháu là phận cháu con trong nhà, không có khoa giáo, lịch sử Đảng gì hết trơn”.


Có lẽ do thái độ chân thật của em, cũng có thể do mấy ly đế đã làm sương sương trước khi ăn cơm, chú Hai Tỳ thở phìn phịt mấy cái rồi đành bắt chuyện.


-          Mẹ nó! Chiêu hồi cũng có năm bảy đường chiêu hồi. Chiêu hồi mà cam tâm ăn cứt, làm cái thân thằng “trật tự viên” đánh anh em còn hơn đánh chó thì có chôn xuống đất ba lần cũng phải đào lên mà chôn nữa. Còn chiêu hồi cái kiểu như tôi… Nghe nó tức trong bụng lắm! Oan lắm! Nhục lắm!


Chú bảo nó tập trung hết một ngàn hai trăm con người ta bắt ngồi áp lưng vô tường, hai chân duỗi thẳng, hai tay khoanh cứng sau gáy rồi giao hẹn: “Đù mẹ! Bây giờ tao đếm từ một đến ba, thằng nào chịu co chân lên thì thằng đó coi như chịu sang khu Tân sanh hoạt. Sang bển khỏe lắm! Ăn uống đủ, quần áo, mùng mền chăn chiếu ngon lành, lại còn được vui chơi ca hát giải trí nữa. Đù mẹ! Đếm nghe! “Nó bảo đếm đến ba chứ đếm đến ba mươi cũng kệ mẹ ông cố nội nó, ai mà thèm giơ. Cũng lính tráng, cũng sĩ quan đánh trận này trận khác cả, lòng dạ nào mà phản lại anh em mình. Thế là chúng oánh. Oánh vô đâu chú em biết không? Cứ thanh gỗ lim đầu bịt bạc nó thẳng tay khẻ vô đâu gối mình. Khẻ cái thứ nhất mình còn kìm được, khẻ cái thứ hai trúng gân, dù cái đầu có nghĩ đừng giơ nhưng cái chân theo phản xạ nó đã bật mẹ nó lên rồi. Vậy là chúng ngáng luôn cây que vào nhượng chân không cho co vô được nữa và tuyên bố: “Thằng này chịu! Đưa đi!”. Đó! Chiêu hồi là thế đó. Một ngàn hai trăm người, đến một ngàn người giơ chân kiểu đó. Vậy là cả ngàn đều xấu, đều phản bội cách mạng cả hay sao? Tất nhiên, nói qua cũng phải nói lại, một số đứa đốn mạt tham sống sợ chết, sợ đói sợ cực mà chủ động bước sang khu TÂN SANH HOẠT. Nhưng không nhiều. Số “trật tự viên” càng ít. Số này, loại “bể gà” trong chiến đấu, loại bất mãn từ ở ngoài có, lại có cả loại “TÙ LẬU” nữa. Tù lậu là gì hả? Là không phải tù binh. Đang đi buôn bán, đang đi chăn vịt, đang vô rừng ăn trộm gỗ, đang chạy càn… ồi, nhiều lắm! Chúng bắt được, đánh đau quá, nhận đại là lính, là Việt Cộng cho xong. Còn chúng nó cũng chỉ mong có thế. Vì càng bắt được nhiều tù binh, chúng càng có công mà. Cũng như trong tù, nếu khu nào cũng ngon lành, cũng đấu tranh đến nơi đến chốn thì chúng còn xơ múi được gì nữa. Phải có chiêu hồi, càng nhiều càng tốt để có con số mà báo cáo lên trên, để mau được thăng cấp, thăng chức. Vậy thôi chứ có mẹ gì sâu xa đâu, chỉ tức cái là mình bỗng dưng trở thành nạn nhân, thành cái công cụ để chúng kiếm mề đay mà rồi tủi nhục, rồi mang cái tiếng xấu cả đời. Chú thấy có điên cái ruột không? Hả?


Anh ạ! Lúc ấy ông Hai Tỳ quát vào mặt em, cứ làm như em là một nhân vật cao cấp có thẩm quyền định đoạt, quyền xét đoán tư cách được cho ông ấy.


-          Mà Tân sanh hoạt là cái gì? – Chú Hai nói tiếp – Là cũng như mọi khu giam khác, có khi còn tồi tệ hơn. Làm chó gì có mùng mền, giường chiếu, làm cho gì có vui chơi giải trí. Nhốt hơn một trăm hai mươi người vào một căn phòng thối khắm,  nóng hầm hập, vậy là no đủ, là giải trí à? Đểu không chịu được. Họa may có cái hơn là đánh dữ hơn, giết chóc tàn bạo hơn. Bởi vì anh em Tân sanh hoạt cũng đấu tranh cẩn thận chữ giỡn à?


Ý! Còn cái này nữa chớ! Ngoài số bị nện đầu gối, số tù lậu, số chủ động xin sang, chúng cũng dồn về khu Tân sanh hoạt luôn. Mà số này đâu có ít. Tới cả trăm, cả ngàn. Ráo trọi dồn về C8. Cả nhà tù chỉ có cái khu C8 này là khu Tân sanh hoạt thôi. Hàng ngày thấy anh em khu khác nhìn sang mình với con mắt khinh miệt và thương hại, là cái máu thằng lính lại uất lên. Vậy mới sinh ra các cuộc đấu tranh đẫm máu ngay trong cái khu mà chúng chắc mẩm đã được bình định ổn thỏa này để phục hồi danh dự.


Chắc chú em ở khoa giáo, ở lịch sử Đảng, chú em muốn biết về các cuộc đàn áp nổ ra như thế nào chứ gì? Rồi, kể luôn.


Anh Chu! Anh thấy kỳ không? Bắt đầu thì khó đăm đăm, khi nhập cuộc rồi thì ổng lại kể ào ào, kể không kịp hỏi nữa. Dường như những con người mang nhiều uẩn khúc như thế này, càng nói, lòng dạ càng được vơi nhẹ đi hay sao ấy. Nỗi buồn chia hai, nỗi oan cũng chia hai mới sống nổi phải không anh Chu?


-          Lần đàn áp thứ nhất tại trại Tân sanh hoạt là khởi đầu từ tôi – ông Hai kể – một sự khởi đầu chả đẹp đẽ mẹ gì. Nó liên quan đến đàn bà chú em ạ! Chả là thế này. Sáng hôm đó chúng định giải hai trăm tù đi đào hào, rào kẽm gai quanh nhà tù. Chúng tôi phản đối không đi vì mình làm vậy là rơi trúng ý đồ phòng thủ của chúng, mình đào hào, mình rào gai chính cuộc đời tù đày của mình à? Còn lâu! Đó, chú em thấy đó. Bọn tôi cũng có ý thức đấu tranh đàng hoàng như bất cứ một khu giam kiên cường nào chứ có phải cứ Tân sanh hoạt là bỏ đi cả đâu. Không được, chúng chuyển bọn tôi qua chuyện lên rừng bứt mây. Ừ, bứt mây về ràng núi lại nơi ăn chốn ở thì được. Tôi là người lớn tuổi nhất của một tổ nên được phân làm trưởng nhóm.


Thời kỳ này do ta đấu tranh nhiều nên tư tưởng chúng cũng oải ra, xem cách cai quản, cắt đặt công việc cũng có vẻ dễ chịu hơn. Thằng hạ sĩ đi kèm tổ tôi khoán kiểu ta khoán sản phẩm bây giờ: “Mỗi người bứt hai sợi, mỗi sợi phải được mười mét. Xong, cho về sớm!”. Nói xong, hắn để lại hai thằng coi giữ, còn hắn cùng hai đứa nữa mò vô ấp kiếm rượu nhậu.


Gọi là hai sợi nghe có vẻ ngon ăn nhưng mây bứt nhiều quá rồi, muốn kiếm được một sợi dài dài một chút là phải chui sâu vô rừng, thây kệ cho gai góc giành giật tứa máu ra. Tôi có kinh nghiệm những buổi đi rừng ở nhà nên không nan giải lắm. Quá trưa một chút, cả năm người đã bứt xong. Thằng hạ sĩ giữ lời hứa cho anh em về nhưng không được về trại ngay. Chúng tôi đành ngồi nghỉ ở khu nhà vợ con lính cho hết giờ. Và cái rủi của tôi nó nằm phục ngay ở trong đó mà đâu có biết. Thằng hạ sĩ dặn: “Nghỉ cho kín, đừng để mấy ông sĩ quan trông thấy lại quát nạt bọn này”.


Buồn quá, lại đói nữa, tôi chuyện trò với một người vợ lính đang nằm trên chiếc ghế bố gần đó để qua thời giờ. Mà cũng có chuyện trò gì đâu. Thấy giọng Quảng Ngãi giống mình, cô vợ lính hỏi tôi quê quán ở đâu? Đánh nhau thế nào bị bắt, bị tù khốn khổ thế này? Tôi cũng trả lời ở đây ở đó, bị bắt thế này bị bắt thế kia quấy quá cho xong. Ai dè thằng thượng sĩ chồng ả xuất hiện. Nó hỏi: “Sao về sớm vậy?”. - Tôi trả lời đã làm xong công việc. Nó hằm hè: “Coi chừng đó! Cứ cứng cổ không chịu đi đào hào, làm hàng rào là có ngày bỏ xác không nhìn thấy vợ con”. Rồi chú em ạ! Không hiểu do ghen hay bản tính đểu giả mà cho đến tận bây giờ tôi cũng không biết nữa. Nó hỏi tôi:


-          Có vợ chưa?


-          Tôi có vợ rồi – Tôi trả lời.


-          Có nứng cặc không?


-          Không! Ở tù ăn uống vậy nứng gì được mà nứng, ông thượng sĩ.


Câu này tôi trả lời thiệt lòng. Không rõ các nhà tù khác trên thế giới thường sanh ra sinh lý bệnh hoạn, đồng tính luyến ái thèm khát chuyện đực cái đến thế nào chứ nhà tù này thì tuyệt nhiên không. Thậm chí cơ cực tàn tạ quá, nhìn thấy đàn bà, nghe thấy chuyện đàn ông đàn bà còn phát ớn, buồn nôn lên nữa kia.


Thấy tôi trả lời vậy, thằng này sầm mặt. Nó muốn sinh sự để đánh đập tù cho khoái, cho lấy oai.


-          Thật không? Mày kêu rêu chế độ nhà tù của Quốc gia hả? Nó cười và quay ra gọi vợ – Em, mang cái gối ôm lại đây!


Chưa hiểu nó tính giở trò gì thì nó đã quắc mắt:


-          Mày lên ghế kia, ôm gối lắc. Lắc đàng hoàng. Không thì tha, nếu nứng, tao đánh chết!


Khốn khổ! Tức là nó bắt mình làm cái trò khỉ với cái gối tròn trùng trục đó. Nhưng trước mặt con vợ nó và anh em bạn tù nữa. Làm vậy ai coi cho được. Nhục lắm! Tôi lắc đầu:


-          Không, tôi không làm cái trò ấy.


-          Đ. mẹ! Thằng này ngon!


Miệng nói tay đánh chân đạp… Chỉ vài phút sau, cái thân thể ốm yếu của tôi đã be bét máu, nghe được cả tiếng mấy cái be sườn gãy lạo rạo trong ngực. Anh em khênh tôi vào trạm xá.


Đến chiều, hai trăm anh em tù đi làm lao công về, biết chuyện bèn rủ nhau làm reo, đưa ra yêu sách nếu không trừng trị kẻ đánh người dã man không có căn cứ sẽ tuyệt thực không đi làm nữa.


Sáng hôm sau, thằng thiếu tá tiểu đoàn trưởng bắt lính xếp hàng ngang ngoài sân, rồi cho tù nhận mặt. Anh em chỉ đúng thằng thượng sĩ đó. Nó bị lôi đi. Đi đâu không biết nhưng chắc không đi trừng trị rồi. Bởi vì mấy tháng sau anh em lại nhìn thấy nó đang hành hạ tù ở khu vực khác, cách thức hành hạ còn đểu giả hơn. Thực chất tên thiếu tá chỉ làm động tác tháo ngòi trái bom sẵn sàng nổ bất cứ lúc nào. Nhưng hắn găm sự việc này vào trí nhớ để tìm dịp trả đũa về sau.


Lần đàn áp thứ hai khốc liệt hơn do có lẽ chúng đã rút được kinh nghiệm lần một, và cũng có lẽ do thằng chúa ngục cũ đã được thay bằng một thằng chúa ngục khác cuồng tín hơn.


Lần này là bọn tôi hè nhau ra yêu sách chống lập khu Tân sanh hoạt, chống chào cờ, chống hô đả đảo Cộng sản… Với lý do đã vô đây ai cũng như ai cả, không cần phải giả vờ đối xử phân biệt để chia rẽ đội ngũ những người tù. Tất nhiên là chúng không nghe. Nhà tù to bự thế này mà không có một khu đã được “bình định” thì chúng đâu còn lý do tồn tại nữa.


Chúng không nghe. Chúng tôi phá tấm bảng gỗ kẻ dòng chữ TÂN SANH HOẠT đen nhức đóng trên cửa. Thằng chỉ huy hất hàm hỏi:


-          Anh em muốn gì?


-          Chúng tôi không đồng ý treo cái bảng dơ dáy này trước cửa phòng giam. Đề nghị gỡ gấp.


-          Sao trước lại chịu? – Mặt nó tím lại.


-          Vì đàn áp.


-          Vậy hả! Mắt nó long lên – Gỡ gấp hay chết gấp.


Chúng cho lính đàn áp. Chúng tôi chống lại, chúng lôi dây kẽm gai đến bao ví chúng tôi. Chúng tôi tuyệt thực, chúng bỏ luôn, đúng một tuần lễ, trong khi anh em đói khát ngất ngư hầu như kiệt sức tất cả thì chúng cho lính tràn tới, dùng M79, đạn lửa, trái cay phóng tới tấp vô trong phòng. – Tính ra đợt tàn sát này, khu Tân sanh hoạt mất đi gần hai trăm người. Bởi trước đó chúng dồn về đây gần 2.000 người: Hai trăm người ngã xuống do đấu tranh bảo vệ khí tiết nhưng vẫn tiếng để đời là dân phản bội chiêu hồi. Chú thấy có đau không. Riêng tôi, tôi phải chạy ra chui vô cầu tiêu hết một ngày mới thoát. Chỉ riêng một cái giếng nước anh em mình dồn xuống đó chết gần 60 người!


Lần đàn áp và chống đàn áp thứ ba dữ dội hơn nhưng may mắn thiệt hại lại không đáng kể. Lần đó anh em diệt tên Xuân – nghi là gián điệp. Tên này quê quán ở đâu, vốn là loại người gì không biết. Chỉ thấy nó gây ra nhiều tai ách quá nên đang đêm phải chém chết rồi quẳng vào đống tro trong bếp. Sáng ra, chúng nó phát hiện được, mở cuộc điều tra ngay lập tức, nhưng không ai chịu nhận cả. (Sau này mới rút được bài học xương máu là với những trường hợp như thế, tốt nhất là nên có một người đứng ra can đảm nhận về mình để tránh cái chết cho cả trăm người). Không nhận thì chúng đàn áp. Thoạt đầu chúng dùng bốn chiếc xe bọc thép bao vây rồi lùa một trung đội quân cảnh đem theo dùi cui, mặt nạ, trái cay xộc vô từng phòng. Chúng đàn áp từng phòng. Nhưng lần này nhờ có chỉ đạo trước nên anh em siết đội ngũ đánh lại bằng ca, muổng, củi, giày dép… Thấy vậy chúng kéo kẽm gai ngăn cách từng phòng và lại dùng thủ đoạn quen thuộc là bắn M79 và trái cay vào. Trong lúc đó ta đã bắt được bốn tên, trói nghiến đem thả xuống cầu tiêu làm con tin. Thế là chúng phải hòa đàm, hứa hẹn không dùng vũ lực nữa. Nhưng khi ta thả bốn tên này, chúng liền giở mặt bỏ đói anh em. Bỏ đói suốt chục ngày. Đói quá, phải lẩn mẩn gỡ từng hạt cơm khô đét còn giắt ở cọng chiếu nhét vô miệng. Miết rồi cũng phải cho ăn vì chúng đâu có dám để cho anh em chết hết.


Trận này hy sinh mười lăm nhưng cũng tạm coi là thắng lợi.


Anh Chu! Nghe ông Hai kể, em độ chừng lần đàn áp thứ hai chết gần hai trăm người ở khu Tân sanh hoạt này là vụ tàn sát lớn thứ tư, vụ tàn sát lớn cuối cùng trong lịch sử nhà lao Phú Quốc mà anh Ba Toản chưa kịp kể cho anh.


Như vậy anh em mình có thể kết luận được rằng nghĩa trang nhà lao dám phải lên tới bốn ngàn người như ta nói chứ không phải chỉ hai ngàn tử sĩ như nhận định ban đầu. Bốn ngàn trên bốn mươi ngàn! Một phần mười. Một con số tổn thất khủng khiếp khó hình dung nổi phải không anh?


Có lẽ chuyện của ông Hai Tỳ chỉ có thế. Nếu viết được em hy vọng anh không chỉ chú tâm vào miêu tả ba cuộc đàn áp này mà chủ yếu – Điều này ông Hai Tỳ tuyệt nhiên không đề cập tới – là phải làm cho rõ về bản chất và tính chất của khu chiêu hồi để hậu thế có cái nhìn toàn diện hơn, ngõ hầu qua đó có thể biện minh danh dự cho không ít người kiểu như ông Hai Tỳ.


Cuối cùng, em chép lại bài Sớ táo quân lên chầu trời được lưu hành trong khu Tân sanh hoạt mà ông Hai còn nhớ được để anh dùng làm tư liệu. Nhưng cũng là trích một đoạn thôi.


            “… Kính tâu thượng đế


            Tôi là táo quân


            Được lệnh 23


Nhưng vì đường xa


Tàu bè không có


Vượt sóng vượt gió


Giá võ đằng vân


Vào chốn dương trần


Lên chầu thượng đế


Xin ngài miễn lễ


Rộng lượng thứ tha


Tại vì đường xa


Nên về quá trễ


Quỳ trước thượng đế


Xin kể việc trần


Táo quân Phú Quốc


Đầu đuôi sự thật


Của những trại tù


Ăn uống các khu


Tù binh Phú Quốc


Nói về vật chất


Thực phẩm hàng ngày


Ăn uống quá tai


Thường xuyên củ cải


Long hội (tức lôi họng) cá khô


Chúng chẳng cho vô


Đường tiêu bột ngọt


Tháng năm thấm thoắt


Nghĩ cũng thật dài…”.


 


Chúc anh mạnh khỏe và lấy được nhiều tư liệu


Kính thư


Em!


 


Toàn bộ bức thư chỉ có thế, nhưng tôi thấy tự chiều sâu trong suy nghĩ nảy sinh những rung động thật sự với vốn tư liệu về khu Tân sanh hoạt này, nội phủ ngũ tạng lao Cây Dừa lại được phơi bày thêm dưới một làn ánh sáng nữa. Cuộc đời vốn dĩ không đơn giản, cuộc chiến tranh không đơn giản và nhà tù càng không đơn giản một chiều chút nào. Ngay trong bóng tối có điểm sáng và ngay trong ánh sáng cũng chứa thật nhiều hõm tối. Ma quỷ trong lòng ta, ai nắm tay được từ tối đến sáng. Tất cả những số phận và anh Hai Tỳ chỉ là một đang đòi hỏi được lịch sử xác minh. Xác minh cũng chẳng để làm gì, thời gian trôi qua cũng đã quá lâu rồi, song xác minh để cứu rỗi linh hồn – Nói theo đạo chúa – Và để tìm sự bình yên trong lòng mà sống nốt quãng đời làm người lương thiện.


Anh Hai Tỳ là một trong số những người may mắn được trao trả năm “bảy ba”. Còn bao nhiêu người nằm lại? Tỷ lệ những tử sĩ của khu Tân sanh hoạt bổ sung vào nghĩa trang khổng lồ Phú Quốc là bao nhiêu? Chắc cũng không quá ít để đến nỗi người ta nghĩ rằng nó cũng được “ưu tiên” như cái tên Tân sanh hoạt – chiêu hồn gợi ra. Rất may, trong hàng ngàn cái hài cốt còn lại không có người nhận, không có cái nào, góc nào, khoảng nào trương bảng Tân sanh hoạt – chiêu hồi. Cái biệt danh nhức nhối này dồn tất cả sự nặng nề cho những người đang sống.


Mãi sau này gặp một người khác trong khu chiêu hồi, tôi có hỏi về chuyện người ta nói thành phần chiêu hồi chúng không cho vào diện trao trả mà bí mật thả riêng phải không? Người này buồn rầu trả lời: “Nói bậy! Trao trả chung hết. Chỉ có mấy thằng chiêu hồi ác ôn kiểu “trật tự viên” thì họa may mới nằm trong cái diện bí mật thả ra đó”.


Thế là rõ! Trước tình thế diệt vong không tránh khỏi của chế độ Sài Gòn cũ, cùng với những đối tượng trung kiên đặc biệt bị đem đi thủ tiêu ở đâu đó, kẻ thù cũng bí mật thả sổng cho những kẻ một thời cúc cung làm tay sai không công cho chúng. Ở trường hợp thứ nhất mang ý nghĩa trả thù tiểu nhân không muốn những đối tượng này trở về làm hạt giống đỏ đánh lại chúng. Ở trường hợp thứ hai là một sự ban ơn, chiếu cố cũng không có chút quân tử nào.


Gấp gọn lá thư của người bạn trẻ cho vào cặp, tôi thầm mong Quang, người chồng của bạn vợ tôi không nằm trong số được thả bí mật đó và cũng không rơi vào đối tượng bị đem đi thủ tiêu trước ngày hòa bình.


 


16


 


Xong thêm được một việc, trong lòng thấy vui vui, tôi nhảy xe đạp ôm tìm đến nhà Hồng để hỏi về hồi âm của những bức điện.


Lại chưa xong rồi! Hồng an ủi tôi ráng chờ thêm ít bữa nữa. Chả lẽ vài chục ngàn tù binh nằm rải rác khắp quốc gia này lại không có lấy một ai đào hầm đang còn sống?


Buồn quá! Tôi chợt nhớ đến ông nhạc sĩ Phan Miên và bản hợp xướng trong tù. Và bỗng lặng người đi! Trời đất ơi! Một mảng sống quý hiếm như thế sao lại có thể thờ ơ cho được. Có đánh đập, có tù đày, có đàn áp và chống đàn áp, có vượt rào cướp súng, có niềm vui có nỗi oan, có gần đủ, tới đây nhất định sẽ có cả huyền thoại đào hầm, nhưng mảng tâm hồn, mảng trái tim nhạy cảm tù đày tôi đã có một khái niệm nào đâu. Nhà tù chả lẽ chỉ toàn có đau thương và chết chóc thôi ư? Phiến diện và nghèo nàn lắm! Thế là tôi lại nhảy xe tốc hành phóng tới Sài Gòn trong một sự háo hức rất ư là nghề nghiệp và cũng hết sức trẻ thơ.


Hóa ra ông nhạc sĩ họ Phan này là chồng bà Tường Vân, nghệ sĩ kịch nói của đoàn kịch Nam bộ ngày xưa và đoàn kịch Cửu Long Giang ngày nay – Đoàn kịch đã từng vang danh một thời trên sân khấu thủ đô với những “Câu chuyện Iêcskut”, “Lưu ba”, “Máu thắm đồng Nọc Nạn”…


Chị Vân dạo này đã già, tóc bạc nhiều nhưng dáng dấp, nói năng vẫn xởi lởi đôn hậu như hai mươi năm về trước tôi đã có dịp tiếp xúc ngoài Hà Nội. Vốn là một cô gái quê lụa Hà Đông theo cha mẹ vào Nam từ cái thuở đi Công-Tra rồi trở ngược lại tập kết ra Bắc, tiếng nói của chị vừa Hà Nội vừa Sài Gòn nghe ngộ lắm!


Nhận ra tôi là người quen cũ và tìm đến có việc gì, trong ánh mắt mở to nơi chị thoáng một chút cảm động. Người vợ nào không xúc động khi một ai đó đụng tới những năm tháng đau thương của chồng mình, đó cũng là những tháng ngày vợ chồng xa cách, kẻ Bắc, người Nam, kẻ tù ngục, người bên ngoài. Do bận dựng chương trình, chị chỉ kịp vẽ cho tôi một cái sơ đồ vội vàng trên bao bì gói thuốc lá đường đi đến nhà riêng của mình.


… Sau khi bấm chuông cả chục lần và cũng tới cả chục phút đợi chờ, cánh cổng sắt của một ngôi nhà trong hẻm Cao Thắng mới được lịch xịch chuyển động. Một khuôn mặt đàn ông chừng ngoài năm mươi tuổi ló ra dường như không có thần sắc. Ai vậy? Con người trông có vẻ bệnh tật này là Phan Miên đó chăng? Phan Miên… Cái tên này đã lâu lắm rồi không còn nghe thấy trên làn sóng các đài phát thanh. Một Phan Miên nhạc sĩ thực thụ mang danh hiệu Quốc gia hay một Phan Miên chỉ là nghiệp dư xuất thần viết nhạc trong tù? Cái dáng ngơ ngơ của khuôn mặt kia không nói lên được điều gì cả.


-          Tôi bị nó đánh vào đầu mạnh quá, sau khi ra tù trên cho đi Đức chữa bệnh mất mấy năm mới gọi là còn được như thế này. Tuy vậy cũng coi như bỏ nghề luôn. Cứ ngồi vào bàn, cầm lấy cây viết là đầu nó ong ong lên rồi thì còn sáng tác gì nữa.


Câu mở đầu chậm rãi, hơi lãng đãng của vị chủ nhà đã tháo gỡ cho tôi khá nhiều điều mà khỏi cần hỏi gì thêm nữa.


Do chấn thương nơi đầu, ông nhớ được ít lắm, cách nói năng cũng nhọc mệt lắm, mấy ngón tay đặt trên gối khẽ rung rung nên buổi chuyện trò diễn ra thật vất vả. Tuy nhiên, khi cố gắng sắp xếp lại, đảo lui đảo tới phần này phần kia, câu chuyện của ông cũng giúp tôi vỡ vạc ra thêm một mảng tư liệu hết sức mới mà tôi chỉ có thể thuật lại bằng cái giọng của tôi để bạn đọc cảm nhận.


Phan Miên năm nay 58 tuổi, tức là ông sinh năm 1932. Ông là nhạc sĩ từ thời “chín năm” cùng lứa với tất cả các nhạc sĩ lão thành có tên tuổi hiện giờ.


Sau khi tập kết ra Hà Nội, đi học nhạc viện nước ngoài năm 1963, ông tình nguyện trở lại quê hương, công tác tại Ban tuyên huấn “Rờ”. Năm 1967, nhạc sĩ Hoàng Việt cũng vào, cùng sống chung với nhau.


Một lần Hoàng Việt bảo: “Ông Miên! Tình hình có lẽ sắp có biến động lớn, tôi thường trực ở nhà, ông đi Cà Mau một chuyến nhé! Phân công này: Ông lo viết hợp xướng, tôi viết tiếp bản giao hưởng “Cửu Long Giang”. Cả hai nhạc sĩ đều không hay rằng họ trực tiếp tham gia vào cuộc Tổng tiến công Mậu Thân bằng chính những nhạc phẩm cách mạng của mình, cũng như không hề lường được rằng đấy là chuyến đi cuối cùng của Phan Miên trong thời kỳ chiến tranh.


Vì cuối năm ấy, khi Mậu Thân chưa nổ ra, được điện Trung ương cục gọi về, anh đã bị địch đổ quân đánh úp và bắt tại Kinh Trâu Trắng. Đoàn có bốn người thì một chết, một bị bắt, hai chạy khỏi.


Bắt được anh chúng đánh phủ đầu luôn. Anh khai mình tên Minh, là giáo viên bình dân học vụ ở Cà Mau về Cần Thơ thăm vợ con. Được giải lên Đơzembuyrô (phòng nhì) Tổng tham mưu ở đường Tô Hiến Thành Sài Gòn anh cũng khai vậy. Qua phòng xét hỏi của bọn Mỹ, anh cũng không nói gì thêm. Một cô phiên dịch tóc vàng người Mỹ phải gắt lên: “Ông khai vậy không được! Phải có cấp bậc chứ, người Mỹ muốn vậy” “Nhưng tôi chỉ là giáo viên ngành Sơvin” “Việt Cộng mấy ông sao bướng quá! Thôi được, tôi cứ ghi cho ông cấp bậc hạ sĩ vậy, chịu không?”. Không chịu thì cũng đành chịu. Thế là nhạc sĩ Phan Miên, một con người không dính dáng gì đến nghiệp nhà binh bỗng dưng mang hàm hạ sĩ của quân đội Cộng sản và cũng chính vì lẽ đó mà nhạc sĩ có mặt tại nhà lao tù binh Phú Quốc. Sau này ông mới biết thời điểm ấy mang tính chất bản lề của chiến cuộc, đối phương mang quân đi đánh úp tùm lum lấy số lượng tù binh để tìm một giải pháp chiến tranh có lợi nhất cho họ sau này.


Cuộc đời tù ngục của anh chắc cũng chẳng khác gì với cuộc dời tù ngục của những tù binh Phú Quốc. Nhưng vì là một người tù nhạc sĩ nên hy vọng rằng ở anh sẽ mang đôi chút bản sắc riêng để đại diện cho những tù binh nhà báo, nhà quay phim, giáo sư, bác sĩ… làm nên cái giai điệu tổng phổ của toàn bộ nhà lao đảo nhỏ.


Sẽ không một ai biết anh là nhạc sĩ, là một bí thư Đảng ủy trầm mặc và anh vẫn sẽ chỉ tồn tại dưới cái tên hạ sĩ giáo viên bình dân học vụ nếu không có một chuyện xảy ra vào khoảng tháng 9 năm 1969.


Đó là chuyện những người tù bán tín bán nghi nghe tin Bác mất. Tin này do mấy thằng giám thị tung ra. Chúng tung hoài để nắn gân nắn khớp ta nên không tin. Về sau anh em đi làm tạp dịch lượm mảnh báo gói đồ ăn của lính mới choáng váng tin là thật. Tờ báo có chạy một hàng tít lớn: “… Thể theo để nghị của Chính phủ Hà Nội, Hội nghị Pari ngưng họp một tuần để để tang Chủ tịch Hồ Chí Minh…”.


Giây phút đau đớn qua đi, người bí thư Đảng ủy mang nghề nhạc sĩ quyết định làm lễ truy điệu Bác ở trong tù. Vừa là tấm lòng những người lính cách mạng đang sa cơ thất thế hướng về vị lãnh tụ anh minh vừa là để củng cố ý chí xốc lại phong trào.


Lễ truy điệu thật là đơn giản và cũng thật là âm thầm nhưng nó lại đòi hỏi lòng dũng cảm nhiều lắm! Theo ý kiến của anh, ngày hôm đó hàng trăm tù nhất loạt bảo nhau đi làm tạp dịch không đội nón, không choàng khăn, không nói chuyện và không làm gì cả. Suốt một ngày chỉ ngồi nguyên trong trạng thái im lặng bất động.


Đêm xuống, kẻ thù bắt đầu khủng bố hàng loạt, xua hàng trung đội quân cảnh vào dựng dậy từng người tù mà đập. Đánh chán, chúng bắt đi một số người được nghi là nòng cốt, cầm đầu. Chẳng may trong đó có cả một cấp ủy viên đang có những triệu chứng dao động. Ăn thêm vài trận đòn nữa đau đớn quá không chịu nổi, người này đã khai ra Phan Miên để mong nhẹ tội.


Anh lập tức được gọi lên phòng xét hỏi kiêm tra tấn của Bộ chỉ huy nhà tù. Thường là trong những vụ việc như thế này, người tù một là chết thảm khốc, hai là bị hạ nhục ê chề. Không hiểu sao, đối với anh chúng lại sử dụng dạng thứ hai. Có lẽ chúng tính thông qua người đứng đầu Đảng này để làm một điển hình dằn mặt số đông.


Cũng cần nói thêm một chút về tiêu chuẩn để được bầu làm bí thư Đảng ủy. Thực ra, nó chẳng có tiêu chuẩn gì cả. Thường dựa vào tuổi tác, nói năng và cung cách đối xử trong những tình huống đặc biệt. Anh chững chạc ư? Anh tỏ ra chín chắn vững vàng trong những giây phút biến động ư? Vậy thì anh em tin tưởng đề nghị anh đứng ra làm lãnh đạo đi! Thế thôi chứ có qua các bước phân tích lý lịch, cấp bộ đảng, thành phần giai cấp gì dài dòng đâu. Tất nhiên nếu người ta biết anh là chỉ huy, là cán bộ đảng ở bên ngoài thì càng tốt. Phan Miên được tín nhiệm ở trường hợp này.


Chúng tập trung hết tù khu C3 – Đ7 lại và trung tá Đinh Công Chất, trưởng khối chiến tranh chính trị, người Bắc, nhỏ con, mặt choắt trực tiếp đối thoại với anh. Thời gian ấy anh đang ở tuổi 35.


-          Anh tên Miên, Phan Miên, Năm Miên, nhạc sĩ tập kết về chứ không phải là Minh đúng không? – Hắn hỏi.


-          Đúng! – Anh trả lời vì đến nước này có muốn nói dối cũng không được nữa.


-          Ồ! Thế có phải biết điều và có văn hóa hơn không? Chỉ có những kẻ yếu kém học hành mới ưa dối trá mà tôi biết chắc rằng vốn văn hóa của một nhạc sĩ không đến nỗi lắm. Phải không?


Anh biết rằng hắn đã bắt đầu giở trò và sẵn sàng chấp nhận cuộc đối thoại với một phong độ có thế nhất. Trước mặt đối phương, trước mặt đồng đội, anh, một người chèo lái tuyệt nhiên không thể tỏ ra nhu nhược cầu an. Dù có phải chết ngay tại đây thì cũng chết cho ra một con người, một đảng viên Cộng sản.


-          Nhận định của trung tá theo tôi mới trúng một nửa – Anh trả lời hết sức ôn tồn – Trong cuộc sống có những sự nói dối cao quý và có cả những điều nói thật thấp hèn. Vả lại, xin ông trung tá cho phép tôi được nói thật, văn hóa cao hay thấp không hoàn toàn phụ thuộc chỉ vào nói dối hay nói thật. Nó phụ thuộc cái chính là vào cách đối xử giữa con người và con người.


Tên lãnh tụ chính trị nhà tù hắng giọng một tiếng, mặt hơi nhợt đi, hỏi một câu ngang hông:


-          Anh có muốn ngồi không?


-          Cứ để tôi đứng như mọi người. Hơn nữa toàn thân lở loét hết, có muốn ngồi cũng khó.


-          Cùi mà còn sợ gì lở?


Hắn tung ra một câu hạ cấp không xứng với chức vị của hắn chút nào. Đám lính cười ầm lên để lấy lòng xếp của họ. Anh hiểu chữ “cùi” này hắn muốn ám chỉ vào tâm hồn què quặt, lý tưởng què quặt của người tù. Anh dựa vào đó trả lời luôn:


-          Cùi chân cùi tay đâu có xấu. Cùi tim cùi óc thì mới thật là cùi, còn đáng sợ hơn cả lở loét.


Viên trung tá tâm lý chiến con cưng được đào tạo chính quy quệt thêm một cái cười nhạt nữa:


-          Nói năng khá lắm, anh bạn nhạc sĩ! Bây giờ ta ngó thẳng vào sự thật nhé! Các anh ngớ ngẩn lắm! Thôi được rồi, chuyện mặc niệm hay truy điệu cụ Hồ Chí Minh tôi bỏ qua, bởi vì mấy anh có quyền làm như vậy và cụ Hồ xứng đáng được như vậy. Dù bên này hay bên kia, dù Cụ là lãnh tụ của phe đối nghịch nhưng chúng tôi cũng đủ đàng hoàng để biết rằng, về một khía cạnh nào đó của lịch sử, Cụ vẫn là anh hùng dân tộc. Ở đây, lúc này tôi muốn hỏi anh một chuyện khác: Khi còn ở ngoài, súng ống nườm nượp, Nga xô, Trung cộng trợ giúp ào ào, mấy anh còn đánh không lại – Mậu Thân vừa qua là một minh chứng hùng hồn – Vậy thì lúc này bị bắt, thân phận cá chậu chim lồng, mấy anh còn mong muốn cái gì mà bày đặt đấu tranh nọ kia cho tốn hao sức lực?


-          Thưa ông! Trong một xã hội có phân chia giai cấp, lẽ phải bao giờ cũng nằm ở cửa miệng những người bị áp bức mà lâu nay người ta hay võ đoán, cho rằng nó nằm ở kẻ mạnh. Bởi chưng, con cóc mình nhỏ nhưng nó khiến được trời mưa, con ếch ương to xác mà chỉ đủ sức kêu theo nước.


Biết là đối thoại thêm cái kiểu này sẽ không nói lại được anh, hắn chuyển làn:


-          Là một nhạc sĩ, tức là một nghệ sĩ tại sao không kiếm một nơi yên tĩnh mà làm việc lại nhào vô chiến cuộc làm gì cho mang lụy vào thân và sự nghiệp cũng tiêu tan luôn?


-          Vâng, thưa ông! Là kẻ sĩ ai chẳng ước ao như thế nhưng đất nước can qua, non sông bị xâu xé, kẻ sĩ từ xưa đến nay vốn có truyền thống cao đẹp “xếp bút nghiên tính việc đao binh”, cũng như ông trung tá, tôi biết ông là một cử nhân luật, lý do gì đó mới khiến ông có mặt ở đây? Còn sự nghiệp tiêu tan ư? Có thể nhưng cũng chưa hẳn thế. Nếu một nghệ sĩ biết gắn đời mình cho những bước đi hào hùng của dân tộc thì có nghĩa là anh đang tự hun đúc năng lực nghệ sĩ của mình. Tôi thấy…


-          Tổ chức Đảng của anh ở trong tù làm những cái gì? – Hắn cắt ngang, đôi mắt đã đỏ vằn lên.


-          Làm tất cả những gì có thể làm được để giữ quyền làm người trong cuộc sống tù ngục.


-          Giỏi lắm! Vậy tại sao hồi tết 1968, tù binh mấy anh cũng làm reo đòi hỏi bậy bạ nọ kia khi cái bụng đã được ăn no? Phải chăng trong cái đầu cộng sản của mấy anh chỉ chứa toàn nọc độc của loài giặc cỏ, thích la hú, thích phiến loạn?


Không khí đã quá căng. Bên đám sĩ quan và đám quân cảnh đang im lìm, chỉ chờ lệnh là hành động, chúng không có cớ gì để cười tán thưởng thế áp đảo ngôn từ của thượng cấp nữa. Còn bên anh em tù xiêu vẹo rách rưới cũng thật sự lo lắng. Những đôi mắt đỏ ghèn, trũng sâu mở rộng day dứt không hiểu tình thế này nếu kéo dài sẽ đi đến đâu.


Trước tình hình đó, anh buộc phải xuống giọng mặc dù bao nhiêu ý nghĩ nhức nhối tích tụ bấy lâu đang đòi được bung tỏa ra khỏi miệng, mặc dù đây là một dịp hiếm hoi để khẳng định thế thắng thua trước kẻ thù đang đắc chí và nhân thể răn dạy cho đối phương một bài học. Anh trả lời:


-          Nói ông trung tá bỏ qua, chuyện này ông hiểu lầm rồi đấy ạ! Chúng tôi không đòi ăn mà đòi có được một chút hương vị tết cổ truyền dân tộc. Không nói là tù binh chiến tranh mà ngay là kẻ tử tù ngày mai lên giá treo cổ, họ vẫn có quyền được hưởng cái hương vị cuối đời này kia mà. Ông bà ta khi dong buồm ra biển bao giờ cũng cúng heo để cầu mong sự tốt lành. Giàu cúng cả con, nghèo cúng đầu, chúng tôi cũng có thể cúng móng được chớ. Nó là lẽ phải, là đạo lý, là tâm linh dân tộc không thể bỏ qua được dù trong hoàn cảnh nào, dù chỉ một miếng dưa hành.


-          Thôi! Đinh Công Chất nhìn đồng hồ hay tìm cớ nhìn đồng hồ – Nói chuyện với anh như vậy là tạm đủ. Tôi không có nhiều thì giờ. Nhưng phải thừa nhận đây là một cuộc nói chuyện thú vị trong cuộc đời làm quân cảnh của tôi, đây là lần đầu tôi gặp một tên Cộng sản như anh – Hắn quay lại đám sĩ quan dưới quyền – Để minh chứng tính chất dân tộc và công bình của của phía chính nghĩa Quốc gia, tôi xin hứa sẽ không động đến một cái lông chân của anh, mặc dù với tất cả những tội lỗi, anh đáng phải đem ra tòa án binh xét xử và nghiêm trị. Giải tán!


Về sau anh mới hiểu đó chỉ là cách rút lui nhún mình có danh dự của tên trưởng khối chính trị. Bởi lẽ ngay sau đó, khi chiếc zeep đưa hắn đi khỏi, tụi lính xông vào đánh anh thừa sống thiếu chết. Tệ hại hơn, sớm hôm sau chúng đưa anh đi đày ở nhà lao cấm cố Khu 2. Một thứ biệt giam của biệt giam. Trong ký ức của những người tù còn sống sót, biệt danh “Khu 2” mãi mãi là một nỗi ám ảnh kinh hoàng.


-          Có lẽ loại biệt giam vô nhân này, những người khác đã nói cho anh nghe cả rồi – Anh Phan Miên nhỏ nhẹ nói tiếp sau khi đã uống thêm hai viên thuốc đau đầu – Mười hai khu, mỗi khu đều có biệt giam, nhưng chúng nó nhốt tôi vào biệt giam Khu 2 là biệt giam ác ôn nhất. Nơi đây, người tù phải ở trong những căn nhà dù ba mét bề ngang, tám mét chiều dài, vậy là 24 mét vuông. 24 mét vuông nhốt 24 người đã gọi là chật, đã khó bề cục cựa lắm rồi nhưng anh biết họ nhốt bao nhiêu không? Gấp đôi à? Hay gấp ba? Không! Gấp ba mới có hơn bảy mươi người. Gấp bốn? Gấp năm chăng? Ừ, thì cứ cho là gấp năm, tức 120 người là đã quá sức tưởng tượng. Đây họ nhốt 197 nhân mạng trên 24 mét vuông, tức là trên một mét vuông hôi thối đó, chúng tôi phải sống 8 người. Khốn khổ! Mà có được ở hết 24 mét đâu, chúng còn cắt ra 2 mét để làm phòng tra tấn nữa! Anh là nhà văn, anh thử tưởng tượng ra cái cảnh 8 con người ghẻ lở, phù nề, máu me hôi hám chung đụng nhau trên một mét vuông nhà bạt thì sự thể nó sẽ ra thế nào? Phải chồng lên nhau chứ gì? Nhưng mà chồng thế nào kia chứ. Nằm thì không được rồi, nhưng đứng hết hay ngồi hết cũng không được nữa. Mà đâu chỉ ngày một ngày hai, phải trải qua hết tuần này sang tuần khác, hết tháng này sang tháng kia, mùa mưa cũng như mùa nắng. Sao đây?… Thôi, cái đó để anh hình dung, tôi chỉ cần nói rằng trong căn nhà bạt đó lèn chặt, nhung nhúc thịt người. Cũng còn may, anh em tù hồi đó đều da bọc xương cả, chỉ nhẹ bằng phân nửa kí lô bây giờ, chứ nếu ai cũng dềnh dàng cỡ 60 kí lô như tôi hiện nay thì chắc chết tức hết rồi. Thì đó, gần hai trăm con người đi cầu vào một cái thùng thuốc sâu 20 lít cả tháng không đổ mà vẫn không đầy thì anh biết người ngợm chúng tôi hồi đó như thế nào.


Nói lại nghe chơi vậy thôi chứ lúc này ngồi đây mà nhắc tới tất cả những cơ cực chúng tôi phải trải qua, e lại phải đi nằm viện mất.


Tôi muốn để anh hiểu một khía cạnh khác. Đó là sự thâm độc của của kẻ thù. Họ cố tình dồn đẩy cuộc sống người tù đến lằn ranh khốn nạn tối đa để tự cắn xé nhau mà khỏi mất công gì cả. Con người vẫn là con người anh ạ! Nhưng rơi vào một hoàn cảnh quá khắc nghiệt náo đó, con người dễ có xu hướng trở thành con vật mà không tự biết. Kẻ thù chỉ mong có vậy.


Trong những căn nhà bạt ngột ngạt đó, đã có lúc con người trở thành con vật. ăn cũng tranh giành nhau, uống cũng tranh giành nhau, ngủ cũng vậy và ỉa đái cũng tranh giành nhau nốt.


Mỗi bữa chúng phát cho hai xô cơm, hai xô nước. Xô là gì? Là cái cà mèn quân dụng hai chục lít. Hai chục lít cơm cho hai trăm con người, mỗi người được bao nhiêu? Thế là thành kẻ ít người nhiều mặc dù đã cắt cử một người mực thước nhất, bàn tay ít mụn ghẻ nhất để chia cho đều. Mà đều sao được, khi chúng không có một cái chén, một cái muỗng nào hết. Tất cả khum khum vào lòng bàn tay, tợp lên miệng một miếng là hết. Vậy là cãi cọ, là chửi mắng lẫn nhau. Uống cũng vậy. Người bưng trước uống nhiều, người bưng sau uống ít, người sau nữa không còn gì để uống, và lại cãi cọ, lại cắn xé. Còn chuyện ỉa đái? Thôi, điều này không nói chắc anh cũng thừa hiểu. Ngày nào cũng diễn ra cái cảnh ấy, đau đầu lắm, nhục lắm. Đã hết đâu. Thỉnh thoảng ở cái hai mét kế bên, chúng lại lôi người lên đánh. Tiếng rú rít, tiếng la hoảng dội qua vách vải bạt nghe hãi hùng lắm. Kẻ thù muốn tận diệt ý chí và nhân cách anh em ta. Chúng cố tình tạo một địa ngục bên cạnh một địa ngục, một địa ngục con trong địa ngục to.


Trước tình hình đó, mấy đứa lớn tuổi chúng tôi bảo nhau ổn định lại mọi chuyện. Tại sao lại mấy đứa lớn tuổi? ăn ở như vậy còn Đảng còn Đoàn gì nữa đâu; bản thân tôi mới sang, đã ai biết mình là ai mà dám đứng ra nhận vai trò lãnh đạo, chỉ còn trông vào mấy người lớn tuổi vì trong cái mớ láo nháo như vậy, người lớn tuổi thường đồng nghĩa với cấp bậc cao, từng trải nhiều, dễ được anh em tín nhiệm. n định bằng cách nào? Bằng cách tự mình gương mẫu trước và khẽ khàng rỉ tai từng người đừng để rơi vào âm mưu địch. Người này rỉ tai tiếp người kia, miết rồi anh em cũng chợt tỉnh ngộ, chợt nhớ đây là đâu và ghìm cái nhu cầu bản năng xuống. Từ đó, trong bữa ăn trở nên có trật tự hơn. Mỗi người đều có một nắm cơm chim chim vừa bằng cái hột vịt, của ai người đó ăn từ tốn. Nước uống thì sao? Anh em tự giác nhường cho người già, người đang đau bệnh uống trước, người trẻ, còn khỏe uống sau nên cũng tạm đủ, thậm chí còn một chút đáy xô khoát ra cho người chia cơm rửa tay.


Những lúc ấy, thay vì trước đó là ánh mắt khinh miệt và đắc chí của bọn giám thị thì nay nó trở nên hằn thù, tức tối và có cả ánh mắt ngạc nhiên và kính trọng.


Cuộc chiến đấu với bản thân mình để đừng đánh mất đi tính người trong tù ngục là cuộc chiến đấu cam go khốc liệt nhất. Và không phải bao giờ cũng chiến thắng anh ạ!


Tuy nhiên, trong số giám thị, quân cảnh đó vẫn có một con quỷ đội lốt dạng người, từ đầu tới cuối vẫn chỉ một trái tim hằn thù và tức tối. Đó là tên thượng sĩ Nhu. Nhu theo đạo Phật, trong phòng riêng có cả một bàn thờ khói hương nghi ngút nhưng hắn lại hành động như một con quỷ sa tăng. Dường như hắn sinh ra để đánh đập, để được hành hạ người khác, dường như mỗi một ngày không nhìn thấy máu, thấy chết chóc là hắn không chịu được. Chỉ bằng một tay thước bằng gỗ lim, hắn đã lần lượt đánh văng mắt cá chân của một phần ba số anh em tù. Lâu lâu được lên trạm xá chữa bệnh theo thủ tục, nhìn thấy anh em bò lê bò lết qua sân, hắn bật lên những tiếng cười gằn cực kỳ man dại.


Không hiểu sao thằng này có vẻ thù tôi! Nó thù hay nhân danh thượng cấp một lần đối thoại với tôi không mỹ mãn mà thù, tôi không thật rõ. Chỉ biết, thỉnh thoảng vô cớ nó lại cho lính lôi tôi ra chuồng cọp nhốt chơi vài ngày. Nó bảo: “Ra đó mà sáng tác nhạc ca ngợi cách mạng”.


Chuồng cọp là sao chắc anh nghe kể rồi. Cao một mét, dài hai mét, chính giữa chăng kẽm gai, không nằm không ngồi, không đứng được, suốt đêm ngày cứ lom khom như con chó sắp được mang ra bán ở chợ. Có lần mệt quá, tôi thả đại đít xuống đống đinh nhọn, ngủ lịm đi. Đang mơ màng nằm mê thấy mình được trở về nhà thì nó bấm đèn lù lù đi đến. “Ê, dậy mầy! Tắm cái cho mát!” Thế là nó đổ cả xô nước đái lẫn cứt vào khắp mặt tôi. Kỳ lạ! Người ngợm nhoe nhoét mụn nhọn, nước cứt, nước đái thấm vào như thế mà sao không nhiễm trùng gì cả? Sau khi ra tù trở về với vợ con, mỗi lần tôi dẫn thằng nhỏ đi tắm, nó lại hét toáng: “Má Vân ơi! Đít ba có hoa, kỳ lắm!”.


Tuy thế, hắn cũng chỉ là một con quỷ nửa vời, chính mắt tôi đã trông thấy hắn quẳng người ta vào chảo nước đang sôi sùng sục mà không thay đổi nét mặt. Nhưng đến khi có một tù khác căm hận và dũng mãnh dâng ngút đầu, không chờ hắn nắm chân nắm tay, đã ngang nhiên lột bỏ quần áo rồi từ từ bước vào chảo thì hắn thét thôi và bỏ chạy.


Năm kia, một lần cùng với mấy ông bạn già đi xuống Hậu Giang có chút việc, tôi vô tình gặp lại hắn trên bắc Mỹ Thuận. Chắc chắn vừa trải qua một lớp cải tạo trở về. Trông hắn rạc rài tiều tụy đi nhiều quá, trong khi tôi lại đỏ đắn béo tốt ra. Số phận đi ngược chiều nay có mai không chẳng biết thế nào mà lường, đúng như Mạnh Tử đã nói. Nhận ra tôi, hắn tái mét mặt, chân bước giật lùi, một chút nữa đạp phải mâm bánh ướt nếu bà bán bánh không chửi ré lên, lôi lại. Hắn sợ tôi trả thù. Mà cũng đáng trả thù lắm chứ. Đâu có phải chỉ riêng tôi, còn là thân xác đau khổ, chết chóc của hàng trăm người! Đâu có phải cái đầu tôi mang bệnh tật suốt đời, còn bao nhiêu người khác may mắn sống sót cũng đầy những dấu vết đòn thù như thế! Trong phút chốc, tôi muốn xô đến, tóm lấy ngực hắn và đẩy hắn nhào xuống sông nhưng rồi không hiểu sao tôi lại dừng lại, phải chăng do nắng gió chứa chan, do cuộc đời còn bao điều vướng bận lo toan, do những ngày kinh hoàng đó đã lùi quá sâu vào dĩ vãng rồi mà tôi thành ra lơ đãng. Nhìn hắn với cái nhìn thương hại, không chút hằn thù, tôi quay đi! Xét cho cùng, cũng chẳng phải do một mình hắn, đằng sau hắn còn có biết bao thế lực mơ hồ cao, thấp đã tạo nên nỗi thống khổ cho hành tinh này. Hắn chỉ là nạn nhân, một thứ nạn nhân đáng tội nghiệp. May cho hắn làm sao! Nếu ở một quốc gia bạo lực nào khác, những sinh vật như hắn chắc đã nát ngực cả ba đời vì những tràng đạn trả thù rồi.


Sau khi qua phà, tôi kể chuyện này cho mấy ông bạn già nghe. Một ông nổi nóng, quắc mắt lên: “Sao ông không nói để tôi lấy gạch ghè từng cái răng của nó xem ngày xưa nó khẻ răng anh em mình như thế nào!”.


Sau này tôi được nghe nói con người ấy đã chết vì điên loạn sau khi mấy lần vượt biên không thoát. Điên vì tiếc của hay vì sự sám hối cắn xé lương tâm hắn, tôi không biết. Nhưng ở đời bao giờ cũng có luật bù trừ, ác giả ác báo là lẽ thường.


Bạn đọc thân mến!


Nếu kể hết về quãng đời tù ngục của người nhạc sĩ này thì tôi phải viết riêng thành một cuốn, bởi lẽ nó có rất nhiều cái để kể. Nhưng lan man quá e rằng sẽ bị loãng tuyến truyện chính vì như trên tôi đã nói, tôi muốn thông qua hình tượng này để hiểu sâu về thủ đoạn và âm mưu của kẻ thù cũng như tài trí và lòng dạ thủy chung với cách mạng của quân đội ta, trước hết là ở những pha đối chất mang tính đấu trí gay cấn.


Tôi xin phác lại một vài màn đối chất nữa của những người tù sĩ quan trong nhà lao Phú Quốc.


Sau khi nằm ở đây 11 tháng chưa chết và cũng chưa đầu hàng, Phan Miên được chuyển qua trại sĩ quan miền Bắc gồm một cộng đồng tù nhân 4.000 người.


Một buổi sáng năm “bảy hai” có chiếc GMC bon bánh vào trại kêu tên năm người lên Bộ chỉ huy. Năm người này toàn cấp tá và trí thức gồm: Ba Sinh (tức Nguyễn Chí Sinh) nguyên Phó tư lệnh quân khu Năm, Vũ Ngọc Phán, Sang ở Thừa Thiên, Nghĩa ở Đồng Tháp nguyên là cán bộ tuyên giáo học ở Nga về và Phan Miên. Toàn những cán bộ nòng cốt cả nên con mắt anh em trong trại thầm vĩnh biệt với ý nghĩ chắc rằng chúng mang đi thủ tiêu. Nhưng hoàn toàn ngược lại. Lên đến Bộ chỉ huy, chúng đưa mỗi người vào một phòng riêng và tuyên bố: “Bừa nay Cộng sản và Quốc gia nói chuyện sòng phẳng chơi. Các anh có thể nói tự do, nói hết những cái gì được nhồi nhét trong sọ, chúng tôi hứa sẽ không trả thù”.


Phan Miên ngồi trước mặt hai người đại úy còn trẻ măng, mặt mũi sáng láng, nói năng hòa nhã. Họ mời anh hút thuốc, uống nước rất đàng hoàng. Nhìn gói Capstan, Phan Miên thèm rỏ dãi nhưng anh chỉ dám hút vài hơi rồi kín đáo dụi đi, nhét túi tính lát nữa mang về cho anh em mỗi người hưởng một chút.


-         Chúng tôi mời anh lên để cùng bàn bạc với nhau về nền văn hóa xã hội chủ nghĩa của anh cũng như bàn về tự do tư tưởng tự do sáng tạo của chúng tôi.


Và gần hai tiếng đồng hồ, hai viên đại úy này thao thao nói đủ chuyện, lúc hỏi, lúc lên án, lúc lại gật đầu chấp nhận. Theo họ, chủ nghĩa xã hội là không tưởng, là siêu hiện thực nên nền văn hóa xã hội chủ nghĩa cũng là nền văn hóa phi nhân tính, đặc sệt màu sắc chính trị. Chế độ cộng sản bản chất là mất dân chủ, không chấp nhận cái cá nhân, chỉ chuyên lo những cái đâu đâu ngoại cuộc sống tự nhiên của con người nên chế độ ấy dứt khoát phải o ép những người làm văn hóa, làm nghệ thuật. Nghệ thuật được sáng tạo ra dưới lưỡi dao của chuyên chính vô sản thì còn gì là nghệ thuật nữa. Nó chỉ còn là bản văn tự kêu vang và rỗng tuếch… Họ nói nhiều lắm, nói lúc căng lúc chùng và anh lấy làm kinh ngạc khi thấy hai con người trẻ tuổi này biết nhiều đến thế, lại thỉnh thoảng đá sang cả các phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác nữa.


Đây là một hiện tượng lập dị xưa nay chưa hề có trong nhà tù địa ngục này nên thoạt đầu anh hoang mang không biết chúng định giở trò gì. Sau thấy hai con người này nói hăng quá, nói chân thành quá mà lại sai bét tất cả nên Phan Miên nóng máu dần lên. Tất nhiên chúng biết anh là văn nghệ sĩ mới đem toàn những điều về tự do hay mất tự do sáng tạo ra mà nói nhưng đã động đến cái vỉa ngầm đang sôi sục trong đầu nên Phan Miên cũng tranh luận lại thẳng cẳng không kém. Nhân danh là một nhạc sĩ cách mạng, anh nói hết những nhận thức và cảm xúc của mình từ khi bước vào con đường cách mạng cũng như những nhạc phẩm của anh, của bạn bè anh được ra đời trong không khí lãng mạn như thế nào. Giọng hai người này dịu dần, thay vì những cái lắc là những cái gật, cuối cùng họ đứng dậy bắt tay anh: “ông nhạc sĩ, cám ơn ông về buổi nói chuyện lý thú này. Hẹn gặp lại ông trong một hoàn cảnh khác vui vẻ hơn”.


Nhưng lời hẹn ấy đã không thành vì chẳng bao giờ ông còn gặp lại hai viên sĩ quan đối địch đang tập nói, tập nghĩ ấy nữa.


Buổi trưa về trại, năm người ngơ ngác hỏi nhau: “Không phải phỏng vấn, mà cũng không phải hỏi cung, chúng giở cái kiểu gì ra ấy nhỉ?”. Cả năm người đều rơi vào một cảnh ngộ giống nhau cả. Phan Miên là nghệ sĩ, chúng bàn về nghệ thuật, Ba Sinh là chỉ huy, chúng bàn về đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, anh Sang là Bí thư huyện ủy chúng nó nói về chủ nghĩa Mác và vấn đề ai thắng ai; còn anh Nghĩa học Nga về, chúng cãi nhau với anh về cuộc sống của tư bản với cuộc sống của Cộng sản khác nhau điểm nào…


Mãi mấy tuần sau mọi người mới vỡ lẽ ra, cái đám sĩ quan lắm mồm nhiều chữ nghĩa ấy là lớp đào tạo cán bộ chiến tranh chính trị cho hậu chiến khi Mỹ kết thúc chiến tranh xuống nhà tù để thực tập. “Hóa ra nó mượn mình làm thầy nó trong hai tiếng à?” Anh Ba Sinh kết luận và tất cả cùng lắc đầu cười to.


Nghe nhắc đến tên Ba Sinh, tôi giật mình và ngắt lời anh:


-         Anh cùng sống với anh Ba Sinh à?


-         Cùng phân khu nhưng khác trại.


-         Tôi nghe nói vào trong đó, anh ấy không giữ được khí tiết đã khai ra một căn cứ nên bây giờ vùng Châu Thành, Thủ Dầu Một vẫn còn lưu những cái tên: “đường tăng Ba Sinh”, “Bãi bom Ba Sinh”, ám chỉ những địa danh bị cán quét, bị đánh điểm. Nhưng lại có lúc nghe Ba Sinh là cán bộ đảng chủ chốt trong tù?


Anh Phan Miên trầm ngâm giây lâu rồi mới nói:


-         Ba cái vụ này khó lắm ông ơi! Thực hư sai đúng thế nào rất khó xác minh, ai mà đã đứng ra làm động tác xác minh nào đâu. Đúng ra tôi cũng nghe lào phào như thế nhưng hàng ngày vẫn thấy phong cách ông ấy đường hoàng chững chạc lắm và có sự kiện gì, anh em vẫn thường tìm đến ông xin ý kiến.


Tất nhiên cái sự tìm đến này nó còn phụ thuộc vào một điều: Ông ấy là thượng tá công khai, tức là người tù có cấp bậc cao nhất được mọi người đều biết và trong khi không biết rõ Đảng là ai, cấp ủy Đảng là người nào thì chỉ còn cách hỏi người có quân hàm cao nhất chứ biết hỏi ai.


Trực tiếp mắt tôi nhìn thấy thì nổi cộm lên hai việc này: Sau Mậu Thân, một số anh em miền Đông vào tù, vừa nhìn thấy Ba Sinh đã nói luôn: “Ông chiêu hồi, khai tùm lum để chúng nó oánh vô căn cứ tan nát ráo trọi!”, Ba Sinh chỉ khẽ thở dài không nói gì. Tôi hỏi mấy anh kia: “Có tổn thất gì lớn không?”, “Không! May mà không chết người nào. Nếu chết bọn này đã bắt lão ta phải đền mạng”. Tối hôm đó, tôi rủ rỉ tâm sự với Ba Sinh và được anh ấy bộc bạch: “Tình ngay lý gian, biết nói sao bây giờ? Tôi không chiêu hồi, không khai báo gì hết trơn nhưng họ khích, họ lăng nhục chịu không được phải bật ra, cũng may chỉ bật ra những địa hình vô hại”, “Khích thế nào? Một sĩ quan cao cấp như anh mà cũng rơi vào bẫy chúng ư?”. “Thế mới sinh chuyện. Họ nói: Mấy anh quân số lèo tèo, vũ khí gỉ nát, căn cứ không có, rúc bờ chui bụi mà đòi tổng tiến công. Thế là nóng lên mất tỉnh táo, tôi nói sao lại bờ bụi, tất cả rừng núi, bưng biền thuộc về chúng tôi. Ngay như cả những địa hình giáp ranh như… Vậy là lộ. Nhưng anh thử nghĩ coi, nếu tôi phản bội thật thì lúc này tôi đâu có còn ngồi ở đây nữa. Và không một căn cứ nào có người bị đánh bom cả, đã minh chứng cho tôi…”.


Sau đó chúng tôi có mời anh tham gia sinh hoạt Đảng, nhưng anh lắc đầu: “Không, mình không xứng đáng!”. Tôi cho đó là thái độ hết sức đúng đắn về nhân cách đảng viên.


Nhưng việc thứ hai thì tôi lại rầu lòng. Thời gian sau này, ảnh gượng lại được và bắt đầu tham gia vào công tác chỉ đạo vượt ngục. Trước khi vượt, ảnh làm sao đó cùng với một cậu là sĩ quan đồ bản đã vẽ được toàn bộ sơ đồ nhà tù với mục đích nếu ra được sẽ có cơ sở báo cáo với trên để tạo thời cơ đánh chiếm và giải phóng toàn bộ nhà lao trở lại. Hành vi và động cơ đẹp thế, nhưng khi hầm hào đào xong, ảnh lại ngần ngại không muốn ra, khiến cho một cán bộ phải nặng lời thu đoạt lấy tấm sơ đồ.


Có lẽ chuyện về Ba Sinh chỉ có thế, tôi biết đến đâu nói đến đó, nói đại, coi chừng xúc phạm đến danh dự người ta. Ảnh hiện giờ về hưu, đang sống với vợ con ở bên kia cầu Sài Gòn, anh thử tìm đến đó chuyện trò thêm xem.


Nghe tới đó tôi mừng rơn trong bụng. Tốt quá, dù tôi không muốn tìm gặp Ba Sinh vì biết đâu sẽ khoét thêm vào nỗi nhức nhối của ông đã tạm lắng đi nhưng tôi vẫn phải đến vì ông là người chỉ đạo đào hầm, liên quan đến đào hầm – Mảng tư liệu cuối cùng tôi cần tiếp cận. Và chưa chừng qua ông mà tôi rõ được về Ba Trân, con người còn đang là một ẩn số của thiên phóng sự này.


-          Anh Năm! Có lẽ anh Năm mệt rồi – Tôi nói – Bây giờ anh Năm kể cho tôi nghe trường hợp anh viết bản hợp xướng “Cửu Long Giang” mà nhiều người nhắc đến và cũng là lý do chủ yếu tôi đến đây.


-          Được rồi! – Nét mặt hơi ngây ngây của con người không còn có được một cái đầu bình thường hơi sáng lên – Tôi kể:


Sau hơn một năm quần lên quần xuống lúc căng lúc chùng cho nhão ra, chúng đưa tôi bằng trực thăng về Đặc ủy phủ Tổng thống ở số 1 Bạch Đằng Sài Gòn để chiêu hồi.


Chúng đưa Phạm Duy đến dụ khị: Thế là lại quất cho hắn một mẻ ra trò. Phạm Duy về rồi, biết không ăn thua, chúng đưa tôi sang phòng thẩm vấn. Tại đây tôi ghi thẳng vào phần nguyện vọng: “Mong muốn thực hiện một nước Việt Nam giàu mạnh thực sự, khi ấy tôi sẽ xin trở lại Hội nhạc sĩ, thành viên của mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam”.


Tức tối, chúng lại trả tôi về khu biệt giam lều bạt.


Chính nhờ có lần đi này, ngồi trên trực thăng nhìn dòng Cửu Long đỏ màu phù sa chảy dưới kia như bàn tay mẹ hiền giữ chặt đất quê hương lửa khói mà nảy sinh cảm hứng viết nhạc. Bắt đầu chỉ định viết ca khúc thôi nhưng lần gặp Phạm Duy về, máu kiêu tráng trong người nổi lên, tôi quyết định viết hẳn hợp xướng nhiều chương. Anh sẽ hỏi tôi ngồi ở xà lim viết bằng gì? Đúng! Con người ta hóa ra tiềm ẩn những khả năng thích nghi đến kỳ lạ, thích nghi trong những hoàn cảnh tưởng không tài nào thích nghi được.


Ở xà lim Bạch Đằng, tôi viết bằng cách gạch các môtíp xuống đất, còn son phe (tức là nốt nhạc) không có đàn thì ghi nhận trong óc để tự nó vang lên. Ghi nhận miết rồi thành nhớ, lần sau nhắc lại vẫn đúng giai điệu.


Về đến Phú Quốc, thấy tôi có ý định ấy, anh em đi làm kiếm bao thuốc về cho thay giấy. Mực là mực con cá mực nặn ra xin của mấy anh làm bếp. Bút thì dễ rồi, tìm đâu chả ra một cái que.


Bản hợp xướng này tôi viết hết ba tháng, có lúc đã định bỏ dở vì đau đớn mệt mỏi quá. Nhưng cứ nhắm mắt lại là âm hưởng của dòng sông lại ào ạt vỗ trong đầu, có xua đi không được, phần nữa do anh em tha thiết động viên nên tôi cắn răng đi đến nốt nhạc cuối cùng. Lời ca đại khái thế này, lâu quá rồi tôi không còn nhớ nổi nữa: “… Mênh mông một dòng sông nước bạc anh hùng… thấp thoáng đàn cò trắng thẳng cánh…” Ôi! Quên hết rồi. Mai mốt kiếm lại được cái băng cassette, tôi sẽ gửi ra Hà Nội cho anh vậy.


Viết xong, tôi tập cho anh em bạn tù hát luôn. Quên chưa nói, trong trại giam sĩ quan này có mấy anh em văn công quân giải phóng Trung bộ cũng bị bắt vào đây đợt Mậu Thân nên có nòng cốt để tập. Bắt đầu là hát rì rầm để đối phó, thuộc rồi thì hát to dần lên. Và vào dịp tết năm “bảy hai”, 42 anh em trong dàn hợp xướng do tôi cầm càng đã tập hợp ra sân hát vang lên. Anh em ở khu khác, kể cả khu Tân sanh hoạt đã được bên này dùng dây thun bắn giấy ra báo trước nên đồng loạt đổ ra sân hưởng ứng làm khán giả.


Chúng tôi hát liền hai chục phút. Những bộ ngực lép kẹp tróc lở nâng lên hạ xuống nhìn cảm động lắm. Khán giả ở rải rác khắp nơi cũng hướng đến bằng những con mắt ốm đau bệnh tật. Cầm càng cho anh em mà nước mắt tôi trào ra. Tôi biết rằng, đêm ấy trong toàn bộ nhà lao không ít tù binh đã không cầm lòng được khi nghe bài ca của chính lòng mình vượt lên trên đau khổ, chết chóc bay lên…


Dàn đồng ca dứt lời thì cũng là lúc bọn quân cảnh được điều tới. Nhưng mọi việc đã xong rồi. Nhà lao lại trở về im ắng, nhưng âm hưởng “Cửu Long Giang” vẫn còn âm thầm vang ngân mãi trong lòng người tù như một sự khích lệ, lại như một lời nhắn nhủ.


Sau năm “73”, năm tôi được trao trả, bản hợp xướng được hát trên Đài phát thanh Giải Phóng, được Đài phát thanh Trung ương dựng hai chương và sau năm “bảy lăm”, toàn bộ bản “Cửu Long Giang” được chơi trên sóng FM. Cho đến nay không còn ai nhắc nhở đến nó và cũng không ai chơi nó nữa. Thời buổi nhạc nhẹ, nhạc Pop, nhạc hải ngoại ủy mị tràn ngập, ai còn đi nghe hợp xướng! Đến tôi, tôi cũng không còn nhớ kia mà.


Buồn lắm! Càng buồn hơn khi mình trở thành phế nhân. Còn ăn, còn uống được nhưng đã liệt đi phân nửa thân người, cái tay đã run, cái đầu dù đã đi mổ ở nước ngoài nhưng không nhớ được gì, đọc tờ “Sài Gòn Giải phóng” tối ngày không hết. Lắm lúc nhớ nghề phát khổ phát sở, tính ngồi vào bàn nhưng ngón tay không nâng nổi cây bút, lại thôi. Chính vì lẽ đó mà tôi bỏ lỡ dịp không ra cùng được với anh em đào hầm lần ấy. Ra thế nào được khi hai đầu gối khớp sưng tấy, để anh em phải khiêng phải vác!


Hóa ra thằng trưởng nhóm Đinh Công Chất nói đúng: Nhà tù không giết nổi tôi nhưng đã làm tiêu tan sự nghiệp của tôi.


Chuyện trò đến đó thì chị Vân bưng cơm lên như là một cách thức nhắc nhở tôi hãy tạm thôi đi để cho chồng nghỉ. Bữa cơm dành cho người Hà Nội vào và những người từ Hà Nội tập kết về đậm đặc chất Kinh Bắc: Canh riêu cua, rau muống sống chẻ nhỏ, cá kho khô, đĩa cà muối sổi chấm mắm tôm, đĩa trứng tráng mỏng tang vàng màu lá mướp héo… Anh ăn nhỏ nhẹ và không nói gì thêm nữa. Phải chăng ngay lúc này đây, người tù nhạc sĩ còn mang trên mình dấu vết của bao trận đòn thù năm xưa đang âm thầm nghĩ đến những bữa cơm chan máu trong căn lều bạt hôi hám ngày nào.


-          Buồn cười lắm chú ạ! – Lần này lại chính Tường Vân nói với tôi – Ông này cái số làm sao mà bị đánh đến ngày cuối cùng trước khi trao trả. Cũng tại cực đoan quá cơ. Khi đưa ra sân bay về Lộc Ninh, nó đưa bằng xe zip là nó nể mình rồi, còn cái việc nó cắm cờ tam tài ở trước mũi xe nếu cảm thấy bị xúc phạm thì lựa lời mà nói, đằng này lại cứ khăng khăng: “Để tôi xuống đi bộ, nếu đi xe thì phải gỡ cờ hoặc cắm cả hai, cả cờ của mặt trận giải phóng nữa!” Thế là điên lên, nó lại lôi vào “xê” quân cảnh oánh cho ói cơm, ói ra máu. May mà có anh em tù khu sĩ quan làm ầm lên chứ không thì dám bỏ xác ở lại hòn đảo ấy lắm!


-          Bà nói hay nhỉ – ông Phan Miên hơi chau mày – Bao nhiêu gian nan cũng là để ngày ra có thể ngẩng mặt mà nhìn anh em bà con mình. Ra dưới bóng cờ của nó khác gì một cách tuyên bố với thiên hạ đã bán đứt linh hồn cho quỷ sứ.


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà lao cây dừa. Ký sự của Chu Lai. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »