tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
20.08.2013
Chu Lai
Nhà lao cây dừa (tiếp & hết)

-          Thì tôi cũng nói thế – Chị Vân cười thật hiền.


-          Tiện đây – Tôi hỏi – Anh có biết ông Ba Trân, sư trưởng sư 1 cũng bị giam trong đó không?


-          Ờ! Nhiều người nói đến ông này, kẻ địch cũng nói nhưng sao tôi đi gần hết các khu giam mà không có gặp, lạ quá! Hay chúng giam ông tại một phòng giam riêng biệt ở đâu đó không biết nữa.


-          Anh là một Bí thư Đảng ủy, rất may là tôi đi tìm một nhạc sĩ lại gặp luôn cả một ông Bí thư Đảng ủy, theo anh trong toàn bộ nhà lao có một đường dây Đảng lãnh đạo chung không? Ai cầm đầu? Liệu có phải ông Ba Trân, người có chức vụ cao nhất trong 40 ngàn người.


-          Đã có người hỏi tôi câu hỏi đó nhưng tôi trả lời không có đâu, không thể có được. Từng khu có Đảng ủy, từng trại có chi bộ đã là một sự kiện phi thường mà kẻ thù không thể lý giải nổi rồi. Điều này anh có thể tin ở tôi.


-          Vâng, câu cuối cùng, anh Năm có sống với một ai tên là Quang, Phan Huy Quang, trung úy người Thái Bình, ở lực lượng trinh sát Miền không?


-          Quang à? – Ông nhăn hết trán lại – Quang… Có, có một Quang kể chuyện Tam Quốc rất giỏi, ổng có thể kể hết ngày này sang ngày khác không thiếu một chương. Ban đầu lính không cho anh em tù tập trung từ ba người trở lên, sau thấy anh em mê nghe Tam Quốc quá nên tặc lưỡi bỏ qua và chính họ cũng ngồi nghe luôn. Nghe há mồm. Nhưng Quang anh hỏi hồi ấy chừng bao tuổi?


-          Khoảng hai tư hai nhăm gì đó.


-          Thế thì không phải rồi. Ông này trên ba lăm, người Nghệ An kia.


-          Vâng, không sao, cám ơn anh! Chào anh.


Tạm biệt anh Năm Miên, tôi chấp chới giữa âm thanh và cái nắng sáng vàng như mật của phố phường mà không hiểu mình đang đi ở đâu nữa. Chuyện của hôm qua và tiết tấu cuộc sống cuồng nộ hôm nay liệu có gắn gì vào nhau không?


Chỉ còn 15 ngày nữa, ngày 15 tháng Giêng là vấn đề vùng Vịnh sẽ được quyết định. Nếu cả hai bên đều căng thì chiến tranh phải nổ ra, và như thế, ngay cả cái thành phố giá cả đang vọt tăng này liệu có còn giữ được sắc màu hoạt náo như hôm này?


 


17


 


Nhưng tôi không đủ thời gian để nghĩ ngợi lan man chuyện xa chuyện gần này lâu. Vừa về đến nhà khách của Bộ Quốc phòng, một bức điện đã nằm sẵn chờ tôi ở trên bàn: “Về ngay. Đã gặp được người đào hầm”. Thế là bỏ cả cơm chiều, bỏ cả buổi gặp gỡ với hàng tá bạn bè, tôi khăn gói nhảy xích lô ra xa cảng miền Tây phốc về Hậu Giang.


Hóa ra người đào hầm không ở đâu xa lạ mà đang tồn tại ở ngay xứ Tây đô nước trong gạo trắng này. Và cái sự thật đó là người đào hầm đang ngồi trước mặt tôi, một người đàn ông bình dị, trạc tuổi trung niên, tóc húi cao, cằm vuông chữ điền, ăn vận xuềnh xoàng, nói năng chân chất. Tìm kiếm lâu lắc quá mệt rồi, giờ đây tốt nhất là để cho nhân chứng của một thời tự nói lên câu chuyện của mình, ngõ hầu giúp các bạn biết thêm được một sự tích mang tính hạt nhân của khí phách lao tù.


Tôi tên là Nguyễn Đưc Hòe, quê ở Lạng Giang - Hà Bắc, hiện nay là nhân viên bảo vệ của đại học Cần Thơ. Nghề bảo vệ đối với tôi còn nhiều bỡ ngỡ vì trước đó tôi là giáo viên dạy ở khoa trồng trọt, sau do hoàn cảnh kinh tế, tật bệnh nọ kia, tôi xin được chuyển xuống đây.


Tôi bị bắt trong trường hợp bị đạn vào đầu, định giằng lựu đạn tự sát nhưng anh em không cho. Tôi ngất đi… Khi tỉnh lại đã thấy mình nằm trong xà lim rồi!


Vâng! Tôi là người đào hầm, là người trực tiếp phụ trách đào hầm vượt ngục trong nhà lao Phú Quốc tại khu Hai, trại giam hạ sĩ quan miền Bắc.


Lần đào hầm của trại tôi được ghi nhận là lần vượt ngục thứ ba. Sau tôi, còn một lẫn nữa ở trại giam sĩ quan miền Nam và trước đó là hai lần tại khu giam sĩ quan miền Bắc. Tất cả là 4 lần. Đó là kể 4 lần trót lọt chứ trong toàn nhà tù, ở khu này khu khác đã xảy ra không ít những lần đào không thành công, phải trả một giá rất đắt.


Tất nhiên, trong hệ thống bố phòng chặt chẽ như thế không chỉ đào hầm mà ngay cả chiến thuật chui rào, cướp súng, leo thùng xe đều rất khó, khó khủng khiếp nhưng đào lần trước thường là thuận lợi hơn lần sau. Bởi lẽ, cứ sau một vụ như thế, kẻ địch lại đúc kết kinh nghiệm và tăng cường phòng thủ gắt gao hơn. Ngược lại, ta cũng rút tỉa ra bài học của người đi trước mà lo đối phó. Tóm lại cả hai bên đều không ngừng giữ miếng, lừa miếng, kẻ giữ, người ra.


Tôi lấy ví dụ, trước đó nền nhà tù đều nện bằng đất và đêm đêm chỉ điểm danh gọi một lần đầu hôm và cuối sáng. Sau này, do thất bại phòng thủ, nền nhà chúng đổ xi măng hết và đêm nào cũng điểm danh xoành xoạch cả chục lần, kết hợp với đèn đóm sáng trưng ngay bên trong trại. Tại sao lại đổ xi măng? Để ta khó đục được miệng hầm khi trong tay không có một tấc sắt (về chuyện này, chúng làm dữ lắm! Mỗi chiều đi làm về, chúng lục soát kỹ càng từng người, soi mói cả vào chỗ kín, để không cho tù mang được vào trại bất cứ một vật  gì gọi là cưng cứng một tí, kể cả một đoạn que gỗ ngắn bằng gang tay). Còn điểm danh? Đây là một thủ đoạn khá lợi hại. Muốn đào thì thường phải đào đêm, đang đào mặt trên, chúng xộc vào gọi tên từng người khả dĩ còn đối phó được, nhưng vô phúc đang chui như chuột trong lòng đất, bất thần lên không kịp, coi như xong đời. Và đèn nữa. Suốt đêm sáng quắc như vậy, ai ngọ nguậy một chút chúng cũng biết chứ đừng nói lục cục lào cào đào với bới. Nhưng không ăn thua. Anh em vẫn đào được, thời gian sau chúng dùng cả máy dò địa chấn mang từ Mỹ sang để tìm những dấu hiệu lạ trong lòng đất. Cái này kêu o o cả ngày lẫn đêm nghe vừa buồn cười vừa sốt ruột.


Trại tôi quyết định hành động đúng trong khoảng thời gian cao điểm của sự canh phòng này.


Bắt đầu tôi gặp Bí thư chi bộ đề đạt quyết tâm. Đồng chí này nhất trí ngay. Sau đó Bí thư chi bộ báo cáo thẳng lên Bí thư Đảng ủy. Nhất trí tiếp. Sao lại ngăn cản? Ra được người nào hay người đó, miễn là dám ra, nó hoàn toàn phù hợp với chủ trương chung và nguyện vọng của tất cả mọi người. Bí thư Đảng ủy trao đổi với ông trại trưởng để lo tìm cách đối phó và trợ lực. Tại sao lại qua nhiều bước rắc rối thế? Chuyện vượt ngục phải tuyệt đối bí mật kia mà. Vâng! Đó là những kiểu vượt ngục khác, kiểu vượt ngục này nó dềnh dàng bày ra đầy trước mắt toàn trại, che giấu ai được. Mà đã công khai bày ra thì phải công khai báo cáo để nhờ tổ chức trấn an và thanh lọc nội bộ để không có một ai phản trắc cả. Chưa đào hay đang đào mà có một kẻ ngấm ngầm khai báo thì cái giá phải trả như thế nào chắc anh quá biết rồi. Cũng rất may, thời gian đó trại giam khá sạch sẽ. Có một tên chỉ điểm thì đã bị anh em phát hiện và nhân một lần đi rừng lấy củi đã dùng nứa trừng trị rồi đổ cho là tai nạn lao động vào tháng trước rồi.


Lúc ấy đang là mùa khô. Đáng lẽ chúng tôi sẽ nán chờ đến mùa mưa mới bắt đầu vì mưa xuống, mọi động tác đổ đất, hốt đất đều hết sức thuận lợi. Đất đào lên chỉ việc đổ xuống rãnh chạy quanh trại là mưa trôi đi hết, gọn hơ, không một dấu vết. Nhưng mùa mưa cũng là mùa chúng canh phòng ráo riết. Tệ hại hơn, biết là mùa ta hay đào hầm, chúng xáo trộn tùm lum. Thành thử cấp ủy chỉ đạo phải đào xong trước khi chúng xáo trộn và đào ngay lúc chúng ít đề phòng nhất mặc dù mùa khô sẽ khiến cho việc đào phức tạp lên gấp hàng chục lần.


Để chuẩn bị “dọn bãi” cho công việc, chúng tôi đề nghị ông trại trưởng thông báo cho bọn giám thị biết trong phòng đã xuất hiện dịch ho lao. Để xác thực, một số anh em nằm phía ngoài, gần cửa, đêm đêm phải cố rặn ra những cơn ho xé cổ. Ho vậy làm gì? Tôi sẽ kể sau.


Thứ hai, đây là việc quan trọng nhất, chúng tôi thành lập một đội 15 người gồm toàn những người trẻ khỏe nhất để sẵn sàng lao động nặng, rất nặng so với sức người bình thường chứ đừng nói sức tù kiệt quệ. Đó cũng coi như đội cảm tử vì đang hành động nếu bị lộ, người tổ trưởng sẽ can đảm đứng ra nhận tất cả về mình để cứu sống toàn trại. Anh em cử tôi. Tôi nhận lời mặc dù trong lòng đầy lo lắng và không phải không có lúc rùng mình. Tôi phân 15 người ra làm 3 kíp, mỗi kíp 5 người trong đó có 3 người đào chính tạm coi như thợ cả, như kiến trúc sư là tôi, anh Ngọc nhà báo và anh Linh.


Thứ ba là phương tiện dụng cụ. Nói nghe có vẻ to tát nhưng toàn bộ dụng cụ chỉ là cái quai cà mèn được cưa ra. Cưa bằng gì? Nói nghe như đùa nhưng mà là thật. Đi làm tạp dịch bẻ lén được một đoạn kẽm gai chừng gang tay, lén lút đưa vào. Có đoạn thép rồi lại lo dùng gạch đánh bẹp, càng bẹp càng tốt. Thế là thành cưa. Đúng hơn là thành dao, một con dao không chuôi không lưỡi đuồn đuột. Muốn thành cưa phải dùng cạnh quai cà mèn cứa thành những mắt nhỏ. Vậy là quai cà mèn tạo nên giũa, giũa sau khi đưa vào bếp tôi, lại cắt đứt quai cà mèn. Nội cái cứa đứt được một quai cũng phải mất cả ngày trong khi đó cứa được càng nhiều càng tốt. Rất may kẻ địch không mấy khi để ý đến cái thứ quai cóc cáy han gỉ này. Nếu chúng tinh ý nhận ra sao độ này cà mèn cho tù ăn cứ trụi lủi nhiều thế thì gay go to. Có quai rồi, động tác nhỏ hơn là phải làm sao uốn khum khum được thành muỗng. Một loại muỗng đầu bằng đít, đít bằng đầu trông rất ngộ. Muỗng đấy là cái xẻng đào hầm, phương tiện độc nhất của chúng tôi. Những cái xẻng bằng hai ngón tay để moi ra hàng chục mét khối đất, tạo ra cả một địa đạo dài dằng dặc trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất thì anh biết nó công phu như thế nào. Nói đùa, lắm lúc ngồi buồn lại lần thần nghĩ, trong cái viện bảo tàng cách mạng đến là lắm xe to pháo lớn nhưng tại sao không có cái xẻng xinh xinh như đồ chơi trẻ con này nhỉ? Nghĩ thêm: Sau này Nhà nước một lúc nào chợt nhớ đến Phú Quốc, nhớ đến anh em tù binh cứ chín người được trở về lại có một người nằm xuống mà đắp một cái tượng đài kỷ niệm thì chỉ cần đắp một cái xẻng này phóng thật to lên là nói đủ tất cả.


Ngoài quai cà mèn ra, chúng tôi tìm mọi dịp để tha lôi về những cái can to nhỏ, sứt sẹo giấu kín xuống gầm sạp để có lúc dùng đến.


Việc chuẩn bị tạm xong, chọn ngày tốt, giờ tốt, không có cúng có vái gì, chỉ cầu mong cho ông bà phù hộ, chúng tôi bắt đầu hành động.


Gọi “hành động” nghe có vẻ ghê chứ việc làm ban đầu như cái trò đùa. Trước hết, cử một người chuyên trách mở cửa hầm. Sau khi thống nhất chọn điểm mở miệng là ở dưới gầm sạp nằm, người này cứ tỉ mẩn dùng muỗng cà mèn cạo nền xi măng ở chính chỗ đó ra. Cạo từ từ, cạo nhỏ thôi, chừng bằng cái mặt ghế là cùng, cốt sao cho khi chui xuống chỉ cần lọt khít thân người, còn hai tay đã giơ lên đầu để thu nhỏ tiết diện rồi. Nền xi măng chúng đã cẩn thận đổ dày tới 10 phân, cái việc cạo này không thể ngày một ngày hai mà xong, chỉ có thể kiên trì bóc đi từng lớp mỏng, bóc đến đâu, cho xi măng vụn vào túi quần túi áo đến đó, lựa lúc đi cầu mà lộn trái ra hất đi – Xin nói thêm việc này: Lúc chúng tôi đào hầm là thời điểm đấu tranh khá thắng lợi, khu trại chúng tôi được chúng cải thiện quần áo và sạp nằm.


Cùng lúc ấy chúng tôi phải triển khai hai việc. Một, nhờ những người khéo tay nhất, mà trong tù thì thiếu gì những người khéo tay do tập hợp cả những ngành nghề của cả nước vào, kiếm gỗ vụn đóng một cái nắp hầm để nếu đang đào, chúng có vào kiểm tra cũng vẫn chỉ thấy một nền xi măng phẳng lì. Tất nhiên cái nắp phải thật khít khao so với miệng hầm và phía trên cũng trám xi măng đàng hoàng. Hai, lợi dụng buổi chiều được ra sân ngồi, một số anh em tranh thủ vừa đánh cờ vừa khoét xuống đất, trong cỏ trong rãnh những cái lỗ bằng khoảng ống lon một lít để dành ém đất sau này. Một lần đang khoét vậy, thằng giám thị đi qua đá đá vào miệng lỗ hỏi: “Cái gì đây? Định đào hầm hả?” Một anh nhanh trí trả lời: “Người chứ có phải chuột đâu mà tính đào hầm bằng cái lỗ này, thầy hai! Buồn tay thôi! “Nó bỏ đi. Nó bỏ đi thì dựa vào cái thế công khai này, anh em khoét nữa, khoét thật nhiều.


Sau hai tuần nạo vét, lớp đất hiện ra. Đất sét pha cát thôi chứ nếu đất đá sỏi thì Phú Quốc sẽ không có sự tích đào hầm ngày hôm nay. Đào gì nói với cái thứ dụng cụ đó. Đất hiện ra rồi, công việc bỗng trở thành hết sức khẩn trương, tranh thủ từng giây phút bởi vì, nói theo danh từ quân sự là bộc phá đã nổ rồi, chỉ còn cách nhào vô mà làm tới thôi.


Từ khoảnh đất bằng cái miệng ghế đó, bọn tôi bắt đầu khoét sâu xuống. Độ sâu phải đạt ít nhất một mét mới chuyền ngang được. Đất mềm, đào không khó. Cái khó là động tác đổ đất, ém đất. Và có lẽ người ta nói nhiều đến kỳ công đào hầm này là cũng nói đến cái đó. Đất mềm, dù đào bằng muỗng hay thìa, cũng chỉ ba ngày là xong. Nhưng do động tác ém đất nên phải kéo dài ra chục ngày.


Ém đất có năm cách đã được chúng tôi suy nghĩ, bàn bạc kỹ và có cả rút kinh nghiệm những vụ đào hầm của khu giam bạn.


Cách thứ nhất là cách thông thường. Mỗi người bỏ vào túi quần, túi áo hoặc túi nilon, giấy xi măng một ít rồi khi ra ngoài rải đi.


Cách thứ hai, nếu không đi làm, mỗi người nắm chim chim một chút bằng bao diêm rồi ra sân làm bộ búng búng nghịch chơi, nghịch cho hết, hôm sau lại mang một nắm ra nghịch nữa. Tại sao lại búng và tại sao lại phải cầu kỳ rải tận ngoài rừng? Trong sân toàn đất cũ cả, lớ ngớ đổ đất mới lên thì thằng địch nào cù lần nhất cũng đoán ra. Trước đó đã có người bàn, hay là kiến nghị nó cho tù vỡ ít miếng đất trồng rau ở ngoài sân để cải thiện bữa ăn, thực chất là xới đất mới lên nhưng thằng giám thị gạt luôn. Nó rắp tâm muốn bần cùng hóa mình thì đời nào nó cho mình được cải thiện.


Cách thứ ba là cho vào thùng rác rồi phủ rác lên, thậm chí cho cả vào thùng phân nhưng cách này không bền và chậm lắm.


Cách thứ tư khá hữu hiệu là lén mang đất ra đổ vào những cái lỗ mới đào. Cái này hơi lằng nhằng, tôi phải nói kỹ. Những cái lỗ này khoét xong nhưng đâu có được để nguyên như thế mà đổ. Khoét xong phải lấp lại kẻo khắp nơi lỗ chỗ như dấu chân voi lại “Lạy ông tôi ở bụi này”. Nhưng có một cái lạ mà không hiểu do ai nghĩ ra, tôi độ chừng chắc do sáng kiến của  một chiến sĩ công binh nào đó, lượng đất khoét lên khi lấp lại bao giờ cũng hụt một chút. Chúng tôi ép đất vào cái “chút” đó. Một cái “chút” chả được bao nhiêu, nhiều cái “chút” lại thành kha khá. Buồn cười! Đất ở thể đặc, lắp xuống nó lại co lại hơn. Nguyên tắc vật lý ngược này có khi là ông trời bày đặt ra để giúp tù cũng nên.


Cách thứ năm là ép đất ngay trong ruột hầm cũng theo nguyên tắc ngược này. Tức là dùng cách: “Lấy mỡ nó rán nó”. Đào được muỗng đất nào, người sau lấy tay bóp nát miết vào vách hầm. Số đất moi ra và số đất miết vào cũng hụt đi một chút. Nhưng kiểu này rị mọ, không được nhiều.


Nói như vậy để anh thấy đào hầm giữa mùa mưa và mùa khô nó khác nhau trời vực như thế nào.


Chương trình đặt ra như thế, phương án đặt ra như thế tưởng cứ như thế mà làm, nhưng trong quá trình tiến hành nó lại nảy sinh ra bao điều phức tạp. Cái nắp hầm chẳng hạn. Khi đào thì mở ra cho thông khí không lại chết ngạt, hết ca đào lại đậy lại ngụy trang nhưng ngày nào cũng lấy ra hạ xuống hoài, nắp bắt buộc phải có cái quai bằng dây theo kiểu nắp hầm bí mật ở vùng địch hậu. Đã cột dây là phải cột cứng luôn. Như thế nó xộc vào nhìn thấy thì sao? Chả lẽ lại đành làm ngơ cho nó cứ việt móc dây vào tay mà lôi nắp hầm, lôi cả công sức và tính mạng mình lên hay sao. Dùng que cây cũng không được. Cậy miết, khe nắp toét ra chả lấy cái gì mà hàn được. Cuối cùng có một người nghĩ ra một kế rất hay. Đó là, dùng 4 cái lò xo ruột Bic nhặt được ngoài rào. Gắn 4 cái lò xo vào phía dưới nắp sao cho để ấn một cái nó ăn chặt vào miệng hầm, ấn cái nữa nó khẽ kênh lên. Thế là luồn tay vào nhấc gọn, ngon lành, cũng như cái kiểu mìn zip của nó ấy mà. Đạp phải, nó bật lên ngang bàn chân mới nổ.


Có một thước hầm chiều sâu rồi, chúng tôi chuyển sang chiều ngang. Đây là giai đoạn trọng yếu nhất. Ngay đào về hướng nào cũng phải cân nhắc kỹ. Tất nhiên phải ra hướng ngoài hàng rào rồi, nhưng coi chừng lại chọn phải khoảng cách xa quá. Suy đi tính lại, chúng tôi chọn hướng đào thông qua nhà Bộ chỉ huy của nó. Vừa ngắn hơn vừa bất ngờ. Nếu chúng dùng máy dò địa chấn thì chắc sẽ dò chỗ khác chứ ai lại dò xung quanh nhà Bộ chỉ huy, và thằng tù nào lại dám đào ngang mặt nó thế này. Yếu tố bất ngờ trên cũng được chúng tôi sử dụng vào quyết định điểm mở miệng hầm. Miệng hầm mở khuất quá, chúng dễ nghi, mở lộ quá, chúng cũng dễ nghi. Tốt nhất là mở ngay chân tường đối diện với nhà Giám thị. Ai dại gì đi đào khoét ngay dưới chân đối phương bao giờ? Chắc cái đầu của chúng nghĩ thế.


Hướng thì hướng vậy nhưng đào có trúng hướng không lại là một chuyện khác. Hồi ở Điện Biên Phủ, có trong tay tất cả các khí tài hiện đại mà ta còn mở chệch cứ điểm A1 mấy thước nữa là chúng tôi bây giờ. Thôi, nghĩ thì cứ nghĩ cho thấu hết mọi nhẽ, còn việc làm cứ phải làm, làm tới đâu tính tới đó.


Bắt đầu phải dùng đến tổng lực rồi! Hiệp đồng kíp đào 5 người liên tiếp thay nhau. Năm người này đảm trách một đêm một ngày lại đến năm người khác, năm người khác nữa. Mỗi kíp phải đào được một mét mới được bàn giao cho kíp khác. Một mét đất chiều ngang nghe đơn giản nhưng xoay xở khó lắm. Địa thế chật chội, nằm mà đào chứ đâu được quỳ được ngồi mà xắn đất. Quỳ hay ngồi dễ đào hơn rất nhiều, nhưng đường hầm sẽ rộng quá, đất lấy lên quá trời, biết đổ đi đâu? Phương châm là đào càng hẹp càng tốt, miễn là vừa một thân người trườn đi được.


Mới nhủi sâu vào chừng được ba mét, sức lực của cả 15 người đã có vẻ cạn rồi. Cạn do đói khát, do bệnh tật nhưng cạn chủ yếu do ngộp thở. Gọi là 5 người nhưng một người chỉ loay hoay được chừng nửa tiếng là lại phải trồi lên ngay thở dốc thở dác, mặt mày tái xám như đang cơn đau tim để người khác xuống thay. Mới chỉ có thế mà hai bàn tay ghì cán muồng đã trầy trật hết da, nắm vào thấy rát bỏng. Khi đó nhìn lòng đất mênh mông đen ngòm mà nản quá, đã có người cáo bệnh định thôi nhưng nhờ anh em động viên nên lại cắn răng vào mà làm.


Những lúc như thế mới thấy thấm cái nghĩa tình đồng đội cưu mang nhau. Trong khi đội cảm tử mở trận đánh nhọc nhằn trong lòng đất thì những bạn tù già, yếu không hề ở không. Họ cắt cử nhau cảnh giới vòng ngoài, phát hiện thấy tiếng chân địch từ xa để báo động vào trong. Họ rủ nhau đánh cờ, kể truyện Tây Du, Thủy Hử để che đi cái miệng hầm đang có chúng tôi ở trong. Họ còn tình nguyện cắt bớt khẩu phần ăn vốn đã quá ít ỏi của mình cho đồng đội, và không ít người thấy chúng tôi vất vả quá đã cố ý xin được thay nhưng nhìn thân hình tiều tụy, xanh bủn của họ, chúng tôi chỉ lắc đầu.


Tất nhiên trong số đó không phải không có những người cầu an bình chân như vại. Họ không tỏ ý phản đối nhưng cũng không tỏ ra tán thành, thế nào cũng được nhưng không được làm ảnh hưởng đến họ. Họ thường tách riêng ra một nhóm mũ ni che tai, ngoài giờ đi làm, giờ ăn uống, họ co chân nằm lì, gọi không thưa, hỏi không nói. Đây là số đối tượng cần giám sát của Đảng ủy. Biết đâu, từ cái dáng nằm u uất kia đến sự phản bội cách nhau có bao xa.


Vượt lên tất cả, đường hầm vẫn từng ngày nhích vô phía hàng rào, nhích từng phân một nhưng không hề dừng lại.


Càng vào trong, tốc độ càng chậm. Một trong những nguyên cớ để chậm đó là động tác lấy đất ra. Thông thường chúng tôi lấy đất bằng cách kéo dây, một thứ dây bện bằng vải quần áo tù xé nhỏ. Người nào đến lần đào thì kéo theo mình chiếc can hỏng đã buộc một đầu dây vào đó, đầu kia nằm ở cửa hầm. Đất đào được lèn vào can rồi giật giật, người ở ngoài biết, vội kéo ra. Kéo ra rồi mới phân nhỏ mang đi đổ? Chậm quá! Nhiều khi đất đào được nhiều rồi nhưng can vẫn chưa giải tỏa xong khiến người bên trong phải nằm chờ, trong khi đó sức lực không cho phép được nằm lâu trong đó. Cuối cùng chúng tôi bèn nghĩ ra một cách là khoan đào vào vội. Trước hết tập trung đào ngay một cái hố to ở ngay cửa ngách đã, tức là ở dưới chân cái độ sâu một mét. Cái hố này có tác dụng chứa đất tại chỗ, được can nào gọn ngay can đó mà đất từ hố mang đi đổ cũng dễ dàng hơn. Kế sách này đẩy tốc độ đào nhanh trông thấy nhưng cũng chỉ được ít ngày vì khi hố đã đầy rồi thì buộc phải trở lại cách thức ban đầu. Tuy vận cũng không sao! Trong cuộc giành giật này, nhanh được ngày nào sống được ngày đó.


Nhưng gay go nhất vẫn là cách thức đối phó với địch.


Một lần tôi đang đào thì chúng ập đến điểm danh. Vào sâu quá tôi lên không kịp, anh em buộc phải đậy nắp lại. Thế là thiếu một người. Nhưng rất may một ai đó đã nhanh tay tạo một cái hình nhân đang nằm trùm đầu trùm đuôi bằng những bao bì đựng cát khâu dính lại ở chính chỗ tôi vẫn nằm. Điểm danh xong một loạt, thằng quân cảnh bấm đèn pin vào cái hình nhân hỏi: “Thằng nào đây? Dậy!” Đứng ngay ở miệng hầm tim tôi thót lại, phen này chắc chết! Nó sẽ lấy đầu gậy lật chăn ra và… thế là xong. Tôi đã quay cuồng nghĩ đến chuyện mình sẽ từ từ đội nắp hầm trèo lên và sau đó… Chợt có tiếng trả lời: “Nó đang bệnh. Hình như bị sốt thương hàn hay sao đó, ỉa tong tỏng suốt!”.


Mới nghe đến hai chữ “thương hàn” thằng quân cảnh đã bật lùi trở lại. “Đù mẹ! Hàn hàn con mẹ gì! Ăn bậy ăn bạ lắm vào rồi còn bày đặt chuyện thương hàn. Đi”. Nó nhăn mũi quay sang điểm danh ở dãy nằm khác. Thoát! Tôi toát mồ hôi đầm đìa, chân tay nhủn ra muốn khụy xuống. Đã hết đâu! Không hiểu nó điểm danh kiểu gì mà tới cả mười lăm phút. Mười lăm phút không có không khí, giống như người bị bóp cổ, tôi trợn mắt ngáp ngáp mấy cái rồi nhủn ra thật…


Khi nó đi rồi, anh em lôi lên được thì tôi đã đang trong trạng thái ngất xỉu. Lơ mơ tỉnh dậy, nghĩ mình sắp chết, tôi thều thào trăng trối trở lại: “Tôi là Hòe, quê quán tại… Nếu tôi chết, hãy nhắn về cho vợ con tôi là… “Nói xong tôi tỉnh luôn, lồm cồm bò trở dậy. Nhác thấy những khuôn mặt cúi xuống cười ra nước mắt.


Một lần khác, do đã rút được kinh nghiệm nên anh em không chơi trò hình nhân quá ư mạo hiển ấy nữa. Chúng tôi sử dụng ngón tráo người. Khi chúng sắp gọi đến tên người còn ở dưới đất thì, nhờ có móc ráp trước, một đồng chí ở trại bên cạnh nhanh chóng chui rào qua tuồn vào thế chỗ và gân cổ “có” rõ to. Bọn giám thị không nói nhưng mấy tên quân cảnh có biết ai vào ai đâu, miễn là người nào “có” người đó và đủ số lượng.


Nhưng cái chúng tôi ngại nhất là máy dò địa chấn thì cũng lại xảy ra. Một buổi trưa, anh em đang nằm nghỉ thì một tốp lính mở tung cánh cửa định ào ào vào với cái máy nhỏ xíu hình con rùa màu xanh trên tay. Chúng tôi đã nghe nói đến cái máy quỷ quái này nên ngán nó lắm. Nó có thể phát tín hiệu khi thấy một cái gì đó khác lạ ở độ sâu hơn năm mét chứ cái nắp hầm mỏng dẹp nằm sờ sờ ra đó thì ăn nhằm chi. Nhưng tổ chức Đảng đã lường trước nên vừa thấy bóng bọn công binh an ninh, hàng chục người nằm ở bệ xi măng gần cửa bỗng nổi cơn ho, vừa ho vừa rên, vừa khạc nhổ om sòm, nhổ luôn cả cục đờm xanh lè vào chỗ nắp hầm nữa. Đám an ninh lùi lại hỏi tên giám thị: “Sao vậy?” Tên giám thị lúng túng trả lời: “Ho lao! Đang có dịch ho lao” “Thôi, sang trại khác. Khi nào mấy ông trị xong cái dịch quỷ quái này, bọn tôi lại đến!” và nó bỏ đi. Tên giám thị nhìn theo càu nhàu mấy câu rồi cũng bỏ đi nốt, thực ra đây là chuyện “gậy ông đập lưng ông”. Nếu hệ thống trạm xá của chúng đàng hoàng một chút và nếu tụi giám thị không cố tình để chết anh em thì ba cái ho này làm gì chúng không phát hiện ra thực hư.


Đại khái trong quá trình đào hầm, chúng tôi đã trải qua những lần căng thẳng như thế mà không thể kể hết ra ở đây.


Sang tháng thứ ba, đường hầm đã dài được chừng 60 mét, tức là phân nửa. Trong 60 mét đó có biết bao nan giải đã xảy ra. Nan giải nhất vẫn là chuyện thiếu không khí. Càng vào trong càng thiếu. Có lần có một kíp 5 người đều ngất xỉu, hè nhau vào lôi mãi mới ra. Cứ đà này thì chỉ vào sâu ít mét nữa là không tài nào chịu nổi. Chúng tôi quyết định trổ lỗ thông hơi cho từng đoạn. Nhưng trổ vào đâu lại là điều không đơn giản. Trổ lung tung ư? Lỗ thông hơi thòi lên đúng khoảng trống hay giữa nền nhà của lính thì tính sao? Thế là phải cử người lên mặt đất đo đạc cần thận, đo bằng mắt, đo bằng bước chân, đo bằng cả quãng cách giữa các hàng rào để lỗ thông hơi phải trổ trúng được rãnh thoát nước có cỏ mọc um tùm hay trổ trúng lòng hàng rào mà chúng không bao giờ để mắt, lai vãng tới. Trổ lần đầu, trượt lại lấp đi. Lần hai cũng thế. Đến lần ba, sau khi khớp cự ly trên dưới thật chuẩn xác mới trúng vào rãnh nước. Chà! Cái que sắt dùng để cời than liều mạng ăn trộm được của nhà bếp vừa bực lên một cái, không khí đã hun hút tràn xuống mát lạnh đến nổi cả da gà. Tất nhiên do sướng quá mà cảm thấy vậy thôi.


Có lỗ thông hơi rồi, giờ phải lo bảo quản được cái lỗ đó chứ không chỉ cần một hòn sỏi, một trận mưa ập xuống là lấp hết, lại bí như không, chúng tôi nghĩ ra một cách đi kiếm những ống thuốc pelixilin đã tiêm vất ở bãi rác mang về tiện đầu tiện đít rồi nối vào nhau thành một đường ống thủy tinh luồn vào cái lỗ đó, luồn hơi nhích đầu lên một chút. Lỗ thông hơi có thêm tác dụng tuyệt vời làm ống nghe kiểu tiềm địa đỉnh nữa. Đang đào, qua ống nghe bước chân, giọng nói chúng đến gần là tạm dừng lại. Rất tiện lợi.


Cứ thế, khoảng năm mươi mét chúng tôi lại tạo một đường ống như vậy cho đến điểm chót cùng. Công việc nhờ có nó mà thấy khỏe hẳn ra, có cảm giác đào cả đời cũng được.


Xong việc ngộp thở lại xảy ra việc lạc hướng. Những mét đầu, hướng đi cònẳnnnng, những mét sau đèn đóm không có, toàn đào mò như lạc vào thiên la địa võng không biết hầm chạy theo hướng nào, cong hay thẳng nữa. Có đoạn phát hiện ra cong quá, thế là đành phải uốn lại, mất công kinh khủng. Khi đào phải tiết kiệm từng xẻng đất, bỗng nhiên cong một cái, phải khoét thêm hàng chục mét khối đất nữa, đổ ém ra sao? Cũng may là còn có cái khoảng trống cong cong đó để đoạn thẳng uốn lại có chỗ mà đắp đất vào. Về sau nghĩ ra cách dùng cây que dài một mét đặt trên ba điểm để tạo nên một đường thẳng mà đào. Cái này anh chưa thật hiểu phải không? Thế này nhé! Một cây que đặt trên ba cục gạch con làm chuẩn. Cứ đào được một đoạn vì chục phân lại chuyển cục gạch ở dưới cùng lên đầu rồi nhấc cây que lên theo, làm sao nó vẫn nằm đè lên cả ba cục là được. Nguyên tắc “qua hai điểm ta có thể kẻ được một đường thẳng” thôi, ở đây không phải kẻ mà là đào nên thêm ra một điểm. Còn một cách nữa để định hướng, đó là căn cứ vào ngay sự thẳng hàng của các lỗ thông hơi. Quan sát ở trên, thấy một cái ống thủy tinh nào nhô lên hơi lệch đi một chút là phải thông báo cho ở dưới rõ ngay. Tất nhiên những ống thuốc tiêm nào nhô lên ở xa quá hay gần địch quá không đi qua đi lại để xác định được thì đành thôi.


Cứ như vậy qua 6 tháng ròng rã, chúng tôi đã nạo khoét được hơn 120 thước đường hầm. Kiểm lại chúng tôi đã tiêu tốn hết ba chục cái quai cà mèn, hai chục cái can hỏng và thay đổi cũng hai mươi lần dây kéo đất. Còn ba chục bàn tay chúng tôi hết sưng lại rộp nhưng rồi cũng nổi chai, mọc sẹo không còn thấy đau nữa. Đêm nằm đụng phải tay mình nghe là lạ như bàn tay người khác. 120 thước đường hầm cũng là ít nhất 60 mét khối đất, 60 mét khối này, ngoài rải ra rừng, ra bụi, nó còn cần bao nhiêu lỗ đất mới ém hết? Vậy mà vẫn giữ được bí mật! Cứ nghĩ tới là rùng mình!


Thực ra 6 tháng cho một trăm hai mươi thước đất cũng gọi là nhanh. Tôi biết có khu giam, anh em phải trần lực tới 8 tháng, 12 tháng để đào được một đường hầm còn ngắn hơn thế này.


Công việc đang đến đoạn chót thì trại giam được bổ sung thêm 12 người tù. Trong số đó có một anh cao to dềnh dàng, da trắng bóc trông như Mỹ. Anh này thấy có chuyện đào hầm là xông vào ngay đòi được tham gia, chúng tôi không chấp nhận là vì: Một, thân thể quá cỡ thế kia, xoay xở sao được mà đào. Hai là, đáng khả nghi lắm! Ở tù cực khổ vậy, da dẻ vẫn hồng hào thế kia thì chỉ có thể là điệp trà trộn vào.


Đang còn bán tín bán nghi thì đồng chí bí thư Đảng ủy rỉ tai tôi: “Tiếp tục đi! 12 người này hoàn toàn có thể tin được. Họ vừa giết một tên chỉ điểm ở nhà giam A7 nên bị nhốt chuồng cọp 10 ngày rồi điều qua đây. Cái con người to lớn kia khá lắm đó. Đến đâu quậy đấy, địch rất gờm và do hành động quá quyết liệt, khiến chúng có cớ đàn áp anh em nên cũng được tổ chức phê phán nhiều lần”.


Sau này, khi ra cứ rồi, tôi mới hay đó là anh Bảy Hòa, Trương Văn Hòa, anh hùng các lực lượng vũ trang, giữ chức tiểu đoàn trưởng nhưng khi bị bắt, anh chỉ khai là trung sĩ, trung sĩ quân bưu.


Đang đào tiếp, lưỡi muỗng bỗng kêu tách một cái rồi quằn lại. Trong bóng tối đưa tay sờ thì thấy cả một cái cọc sắt to tướng cắm trước mặt. Cọc rào gai rồi. Tức là ta đã đào quá chếch lên trên. Cũng may, không có cái cọc này “cảnh cáo” thì cha con dám đào thủng luôn lên trên mặt đất quá! lại phải mất năm ngày nắn sâu xuống để vượt qua cọc. Mọi sự suôn sẻ không sao, không may gặp một sự cố như cái sự cố cọc sắt coóc nhe này, trong lòng hụt hẫng lắm, lại phải gồng mình lên mà chịu trận tiếp. 6 tháng trời, 180 ngày, 120 thước đất, đã có biết bao nhiêu sự cố như vậy xảy ra? Bây giờ ngồi đây nghĩ lại thì chịu, không trả lời được.


Xin lỗi! Chắc anh đã đọc Tây Du Ký rồi! Anh còn nhớ cái đoạn thầy trò Đường Tăng trải qua 80 cửa ải đã tưởng là xong nhưng Phật Tổ vẫn còn bày ra cái hạn thứ 81 nữa mới hết thử thách không? Bọn tôi cũng vậy. Đo đạc, cân nhắc cẩn trọng, chúng tôi rạng rỡ thống báo với anh em chỉ còn một mét nữa là ra đến ngoài vòng rào, anh em hãy chuẩn bị đi. Cả phòng giam đêm ấy như có hội, người nào cũng thao thức đợi chờ cái giờ lên đường trở về với tự do, với sự sống bên ngoài. Bởi vì theo quy định, khi nào đội cảm tử sắp trổ cửa ra phải thông báo trước để anh em chuẩn bị chứ không trổ rồi mới thông báo e rằng không kịp, địch sẽ phát hiện cửa ra.


Nhưng đào mãi vẫn không thấy gì, vẫn chỉ thấy toàn đất là đất. Sao vậy? Tôi lẩm nhẩm tính toán trở lại mới ngớ ra là còn 3 mét chứ không phải một mét như đã tưởng. Cả một ngày đào hầm quần quật mới được có 5 mét, bây giờ là gần nửa đêm rồi mà còn những ba mét nữa thì tính sao đây?


Trong khi đó ở trên mặt đất, trong phòng giam, do chờ đợi lâu quá nên bắt đầu có sự chộn rộn qua lại, xầm xì hỏi han rất nguy hiểm nếu chúng xộc vào bất thần. Các đồng chí lãnh đạo phải đứng ra trấn an: “Không có gì. Vướng đá sỏi thôi!” Câu nói thông minh ấy đã làm mọi người yên lặng trở lại.


Như cuộc chạy vào nước rút, 3 mét đất còn lại, chỉ mất hai giờ đồng hồ, chúng tôi đã vượt qua ngon lành. Cửa hầm đã trổ ra trúng một bụi cây nằm dưới giao thông hào ngoại vi hàng rào.


Chúng tôi khẩn trương tổ chức bò ra. Tất nhiên là có đủ 15 người trong đội cảm tử. Sau đó có thêm 27 người xin ra theo nữa là 42 người. Tôi mời đồng chí bí thư đảng ủy cùng ra nhưng đồng chí ấy bùi ngùi lắc đầu: “Còn hơn sáu chục anh em nữa! Cứ ra đi, tìm cách liên lạc với đất liền và báo cáo tất cả cho Trung ương hay. Mình không thể bỏ mặc họ. Chúc may mắn! Cửa hầm mình sẽ cho ngụy trang kỹ lại”. Tôi chỉ còn biết nghẹn ngào ôm chặt lấy ông rồi theo mọi người xuống hầm.


Trên đường ra có một chuyện tức cười. Hầm chỉ đào cho khổ người trung bình chui lọt chứ ai tính đào lọt cho cả khổ người dềnh dàng của anh Bảy Hòa. Vì thế, ra được nửa đường thì anh Bảy bị kẹt cứng lại, ra tiếp không xong mà trở lại cũng không được. Cuối cùng để kịp thời gian, chúng tôi cứ người đẩy người lôi anh ấy đi. Đúng là đôi vai anh cào đất rèn rẹt như một chiếc máy ủi. Lên được đến mặt đất chúng tôi mới kinh ngạc thấy anh ngất xỉu đi từ hồi nào, hông đùi và vai rách nát, máu chảy ướt cả một vạt cỏ.


Thế là thoát. Cứ nơi nào có pháo nổ là có quân ta, cứ nơi nào có bom đạn là đi tới, với khẩu lệnh hành quân ấy, mười ngày sau, chúng tôi đã tìm gặp được căn cứ huyện đội Phú Quốc nhưng… điểm chỉ còn 25 người. 17 đồng chí đã ngã xuống trên dọc đường đi tìm. Điều đó lý giải tại sao con đường hầm đã mở ra thông thoáng đến thế mà khi ra, cũng chỉ có hơn một phần ba số tù tình nguyện.


Tôi chia sẻ với anh Nguyễn Đức Hòe suy nghĩ ấy, cũng như bằng thiên phóng sự này, tôi đã chia sẻ biết bao nhiêu điều với các anh Ba Toản, Hai Hội, Sơn, Hồng, Hai Tỳ, Hai Nam, Chất, Ba Lửa, Năm Miên… chia sẻ luôn cả cái tin đài BBC đã đưa sau đó có một ngày “… Lại hơn 40 tù binh Cộng sản tại nhà lao Phú Quốc vượt thoát bằng đường hầm như kiểu địa đạo Điện Biên Phủ, bất chấp tất cả những phương tiện canh phòng hiện đại do người Mỹ cung cấp…”.


Ngày đó trớ trêu thay, lại đúng vào ngày Thiệu trúng cử Tổng thống.


Tuy nhiên còn có một câu chuyện nhỏ liên quan đến huyền thoại đào hầm mà anh Hòe chưa kể cho tôi nghe và tôi cũng không tiện hỏi.


Đó là chuyện cả một tổ đào hầm của trại giam sĩ quan đã bị địch lấp cửa chôn sống. Chỉ khác, con đường hầm tang tóc đó không đào về phía ngoại vi hàng rào mà thọc thẳng vào kho vũ khí ở bên kia sân banh, kế dãy nhà hai tầng lắp ráp bằng vật liệu Mỹ của Bộ chỉ huy quân cảnh.


Tổ chức Đảng ở đó đã quyết định cướp kho vũ khí gồm hàng ngàn súng đạn các loại để trang bị cho tù binh đồng loạt nổi dậy tự giải phóng toàn bộ nhà tù nếu thời cơ cho phép. Nhưng lòng hầm mới nhích về phía kho chưa được một nửa thì kẻ địch phát hiện ra. Phát hiện bằng máy dò hình con rùa? Bằng sự phản bội của chỉ điểm? Hay phát hiện bằng chính sự bất đồng trong nội bộ trại tù? Rất có thể như vậy lắm chứ. Chủ trương vũ trang trong hoàn cảnh o ép dở sống dở chết như thế, có phải chi bộ nào, đảng ủy nào cũng đồng lòng nhất trí cả đâu. Bởi lẽ có đảng ủy tích cực, có đảng ủy cầu an, lại có cả đảng ủy chủ trương tuân thủ kẻ thù kia mà. Song, tất cả những giả thuyết đó đều chưa có cơ sở khẳng định, hãy để cho lịch sử phán xét, lịch sử bao giờ cũng công bằng, miễn là lịch sử đừng quên họ.


Thời gian này tình hình các nhà tù trên toàn bộ lãnh thổ đã mở ra thoáng hơn. Do ở Côn Đảo. Anh em tù trong chuồng cọp bị chết nhiều quá, nên công luận quốc tế dữ dội lên án. Lên án nơi đó, tác động đến nơi này. Bọn chỉ huy nhà lao Phú Quốc buộc phải tạm thời hủy bỏ chế độ phạt tù trong chuồng cọp hay chuồng chó. Nhưng hủy bỏ cái này lại sử dụng cái khác độc ác hơn. Chôn sống tù là một ví dụ.


Trước khi chôn sống, tên chỉ huy ban điều hành cho tập hợp toàn bộ tù binh lại: “Mấy thằng không muốn sống yên ổn trên mặt đất mà lại thích chui nhủi trong lòng đất thì ta cho vĩnh viễn chui nhủi luôn!”. Nói xong, nó hô lính lấp kín cửa hầm lại. Những người tù hôm đó, tôi được nghe kể lại rằng, nhỡn tiền chứng kiến cái chết tức tưởi của đồng đội mà không làm gì được, đành cúi đầu làm một phút mặc niệm âm thầm trước nấm mồ chôn chung. Nấm mồ đó bây giờ ở đâu, nằm trong vị trí nào trong cả cái nhà lao rộng năm cây số vương mà giờ đây chỉ còn là một thung lũng cỏ cây hoang mạc trải dài đến ngút ngàn trên địa danh An Thới? Chắc sẽ không có ai trả lời được câu hỏi này!.


Chưa hết! Ngày hôm sau chúng lôi người chủ xướng lên nhà Bộ chỉ huy. Anh tên là gì? Quê quán ở đâu? Mỗi người nói một phách, không thể đưa ra được một cái tên chuẩn xác nên tôi buộc phải gọi ANH như một danh từ chung. Chúng đánh phủ đầu ANH ngay từ ngoài cửa đánh vào. Chưa đứng yên chỗ, một tên đã dùng kìm cắt rào cộng lực bẻ ngang hai ngón chân cái ANH sang hai bên nghe cái rắc! “Định trốn à? Định đào hầm nổi loạn à? – Nó nói – Bẻ tạm hai ngón chân cho mày thành người Giao Chỉ luôn, mặc sức mà trốn!”.


ANH im lặng. Biết rằng sẽ chết nên ANH chỉ im lặng. Chúng không chịu nổi cái im lặng rùng rợn của người chiến sĩ đó nên nhanh chóng muốn anh biến đi khỏi mặt đất này. Hai thanh gỗ nặng nề kẹp cứng lấy phía trước phía sau lồng ngực lép kẹp… Hai cái đinh vít đã được bôi dầu… Hai cái cờ lê thi nhau vặn. Hai thanh gỗ vô tri chuyển động sát gần nhau, chuyển nữa. Tiếng xương rạn vỡ xào xạo… lục cục… Máu ở miệng, ở mũi người tù trào ra ướt đẫm mảng xương ngực đang tiếp tục vỡ, gãy… Chưa hả, chúng vung chiếc búa năm cân lên đóng lút những cái đinh 10 phân vào hai đầu gối người tù, hai cái đầu gối không còn có khả năng giữ thăng bằng nổi cái thân hình nặng chưa tới 40 kilôgram ấy nữa… ANH gục xuống, chỉ có đôi mắt u buồn nhìn ngước lên…


Những người bạn tù của ANH, trước khi đưa anh ra nghĩa địa đã lau hết máu trên thân thể, đã cởi áo quần của mình mặc cho anh, đã kín đáo mang vào cho anh một đôi dép mềm và dưới đế dép có ghi cả tên tuổi, quê quán, ngày hy sinh… ANH an nghỉ đời đời ở nghĩa trang mới. Khu nghĩa trang cũ, do anh em mình đấu tranh găng quá, chúng đã ủi đi để mở hai con đường chặn ngang từ Đông sang Tây nhằm cắt nhỏ các khu vực trại giam để dễ bề khủng bố.


Con đường chặn ngang đó đến nay vẫn còn với cỏ dại mọc kín hai bên, nhưng số hài cốt nằm dưới đó liệu có còn không hay đã bị xe ủi ủi đi đâu rồi? Năm ngoái, với trách nhiệm và tình thương dồn tụ tận đáy lòng, những người mẹ, người chị, người em của Hội phụ nữ Phú Quốc đã mở chiến dịch đi lấy lên được 800 hài cốt của những người con từ khắp đất nước ngã xuống ở đây, mang về an táng, truy điệu tại nghĩa trang liệt sĩ nằm gần sân bay, trên một điểm cao bốn mùa lộng tràn gió nắng. Nhưng vẫn chỉ là tám trăm!


Tám trăm của khu nghĩa địa mới. Còn bao nhiêu ở khu nghĩa địa cũ nữa? Tám trăm hay bốn ngàn? Thông số đau lòng không muốn tin là thật này, ai sẽ trả lời? Chao ôi! Lịch sử của một nhà tù, lịch sử của một hòn đảo lại lắm cái cần phải trả lời thế ư? Vậy lịch sử của cả một đất nước, của cả một cuộc chiến tranh thì sao?


Bạn đọc thân mến!


Tôi đang nói đến người liệt sĩ thầm lặng anh hùng. Bài viết này sẽ rất khiếm khuyết nếu tôi không xin phép các bạn đẩy thêm số phận người tù này một nấc nữa về phía sau cuộc đời. Cuộc đời riêng tư.


ANH  có một người vợ ở quê nhà Thủ Đức. Sau năm “bảy năm”, một người bạn tù của ANH sống sót về được, không rõ điều gì xui khiến hay chỉ là một sự hiểu lầm sai lạc, đã thông báo ANH là kẻ chiêu hồi trong tù, bị anh em đánh chết… Một năm sau người vợ này chấp nhận ăn ở với người bạn tù đó như vợ chồng. Theo yêu cầu của người chồng mới, chị phải đổi họ hai đứa con riêng của mình sang họ người bạn tù để tụi trẻ nó sau này lớn lên khỏi tủi hổ. Chị nghe lời.


Bỗng một ngày có một người tù cao cấp đến chơi nhà. Anh kể lại toàn bộ cái chết oanh liệt của người chồng cũ mà anh được nghe người tù khác cho biết, cho người vợ nghe. Khóc lóc hết ba ngày. Ngày thứ tư chị đuổi con người phản bạn lừa thầy kia ra khỏi cửa rồi cùng người tù cao cấp khăn gói mở cuộc hành trình đi ra đảo. Hòn đảo vừa giải phóng, vẫn còn nóng bỏng hơi thở của chiến tranh, vẫn còn nguyên cái xác khổng lồ của con quái vật ăn thịt người. Sau ba ngày, bằng vào sự giúp đỡ của bà con Phú Quốc, của một người tù đã trực tiếp mang ANH đi chôn ngày trước mà vô tình chị gặp được, họ đã tìm ra hài cốt của ANH, cái hài cốt không còn nguyên xương ngực, nhưng đầu gối lại còn nguyên hai cái đinh han gỉ cắm lút vào.


Chuyến tàu đò chen chúc đêm đó, kẻ cắp không biết đã lấy đi cái túi xách đựng hài cốt của chồng. Trở về Thủ Đức, người vợ bỗng phát điên. Bệnh điên kéo dài suốt một năm. Sau này, bạn bè của ANH chủ động đặt lại họ cho hai đứa con theo đúng họ của người cha liệt sĩ, chị mới dần dần trở lại trạng thái thần kinh bình thường.


Đây là câu chuyện nghe tưởng chừng như tiểu thuyết lâm li đang bán đầy đường đầy phố nhưng nó lại hoàn toàn có thật. Bởi lẽ người tù cao cấp đưa chị ra đảo đó chính là anh… Ba Trân, sư trưởng sư 1, Nguyễn Văn Trân, nhân vật mang ẩn số mà tôi cứ mất công đi dò hỏi mãi. Chính anh Ba đã kể cho tôi nghe câu chuyện này.


Tôi gặp anh trong bệnh viện “Vì Dân”, tầng 5, phòng 512 vào những giờ phút cuối cùng không còn hy vọng gì được gặp nữa để chuẩn bị trở ra Hà Nội. Đã độ tuổi 65 mà nhìn anh còn trẻ quá! Ông sư trưởng đã có thời bị tù đày đẹp như một tài tử xi nê phương Tây đã về già mà tươi tắn sáng láng như một ông chủ tư sản vừa trúng một cú cổ phiếu hay áp phe lớn.


-          Mình vào trị bệnh sỏi thận, ông ạ! – Giọng Huế anh nói nghe thật ngọt – Buồn cười! Thế quái nào mà thằng con mình nó chở mình bằng xe máy, cái cục sỏi trong thận lại tự văng ra. Nhưng vẫn phải vào đây nằm cho chắc ăn.


-          Anh Ba! – Tôi đi thẳng vào chuyện – Tôi đến đây để nghe người tù binh cao cấp nhất nhà lao Phú Quốc kể chuyện, nếu vị tù binh ấy không sợ bị vi phạm chế độ nhà thương.


Anh ớ ra một chút rồi bất thần cười vang, cười rất lâu. Tôi chau mày, bệnh tật gì mà lại có cái kiểu cười ầm ào lính tráng như thế! Vỗ vai tôi một cái rõ nặng, anh nói:


-          Vậy thì thất vọng rồi ông ơi! Ông nhà văn gõ nhầm cửa rồi! Tôi đâu có ở nhà tù Phú Quốc ngày nào.


-          Sao kỳ vậy? Người ta ai cũng…


-          Mà chả phải một mình ông nhầm đâu. Ấy, cứ ngồi chơi đã! Ông mới thất vọng chứ chưa đến nỗi tuyệt vọng kia mà. Tôi không ở Phú Quốc, nhưng số phận, nói đúng hơn là số tù của mình gắn bó với Phú Quốc rất ác.


Thế này nhé! Gần kết thúc Mậu Thân thì mình bị chúng tóm được tại kinh Vĩnh Tế. Bọn này đi có một trung đội bảo vệ và một cậu y sĩ, một cậu liên lạc. Đụng phục kích Mỹ, quần nhau hết hai giờ thì toàn bộ trung đội hy sinh, cậu y sĩ hy sinh, chỉ còn mình với tay liên lạc cũng bị thương cùng mình. Biết thế nào cũng không thoát được, mình dặn cậu ta: “Đánh tới viên đạn chót nghe em! Giả dụ có bị bắt thì nhớ đừng nói cấp bậc, chức vụ gì của mình cả”. Mới nói được thế, bọn chúng đã ùa tới từ bốn phía. Cây súng ngắn hết đạn. Theo một dự tính đã có sẵn, tôi vơ ngay lấy cái túi của đồng chí y sĩ đeo vô người.


Hai anh em bị giải về phòng xét hỏi vùng 4 chiến thuật đóng tại Cần Thơ. Một viên trung úy hất hàm:


-          Mày tên gì?


-          Tôi tên Hinh.


-          Giữ chức vụ gì?


-          Thầy lang.


-          Trong quân đội cộng sản sao lại có thầy lang?


-          Có chứ ạ! Vì trong rừng thuốc men thiếu thốn, quân đội phải biên chế thầy lang để khai thác nguồn thuốc nam của rừng.


Hắn hỏi thêm cậu liên lạc, cậu này cũng xác nhận, vậy là tin, mà tin cũng phải thôi vì hình dong mặt mũi của tôi cha mẹ sinh ra được cái cũng tạm coi là cao ráo trắng trẻo, lại cũng kha khá tuổi nữa, bốn chục ngoài rồi còn gì, đóng giả ông lang được quá đi chứ.


-          Mày có biết Ba Trân không? – Nó hỏi thêm.


-          Ba Trân nào kia ạ?


-          Ba Trân sư trưởng của tụi mày đó, chúng tao nhận được tin hắn cùng đi trong toán ba chục thằng qua kinh Vĩnh Tế, cùng bọn mày kia mà.


Mẹ khỉ! Một thằng oắt con đáng tuổi con mình mà cứ “mày mày, tao tao” nghe lộn ruột lắm nhưng thấy nó cứ hỏi xoắn vào tên “Ba Trân” lại khoái thầm trong bụng, giống một trò chơi ú tim nên cố dằn lòng mà ngọt nhạt trả lời:


-          Trời đất ơi! Làm gì có. Tôi chỉ là phận lang băm cấp đại đội, tôi làm sao có thể biết được cái ông sư trưởng ở cao chót vót ấy. Đến cái tên Ba Trân cũng chưa biết nữa là.


-          Còn thằng này? – Nó quay sang cậu liên lạc – Biết không? Nếu biết, nói ra, dù hắn còn sống hay đã chết, tao cũng thả ngay. Lời hứa danh dự.


Cậu này lé mắt nhìn tôi nhanh một cái rồi lắc đầu. Tội nghiệp! Sau này bị đày đi Phú Quốc, chịu đòn không thấu phải chấp nhận chiêu hồi nhưng điều bí mật về thủ trưởng của mình, cậu ấy vẫn ghìm chặt trong bụng. Sau giải phóng, tôi có ý đi tìm nhưng không thấy tăm tích cậu ta ở đâu, có khi chết rồi!


-          Kể tiếp đi anh Ba! – Tôi bị cuốn theo câu chuyện đầy chất kịch tính này nhưng vẫn đủ tỉnh táo để nhắc khéo – Thế cái gì khiến tên tuổi anh dính dáng đến Phú Quốc?


-          Từ từ! Tôi đang bị sỏi thận mà ông quay tôi dữ thế? Hả! Tóm lại chúng nó dốc tâm tìm cái tên “Ba Trân”. Về nhà tù Hố Nai, tôi bị truy gắt đế hơn.


Chúng không mất công hỏi khơi khơi nữa mà đi ngày vào ngón nhà nghề:


-          Anh nói anh là thầy lang kiêm y tá. Vậy y tá thì phải biết tiêm. Anh tiêm thử tôi coi! Tiêm vào thằng tù này! – Hắn hất mặt về một người gầy gò, rách rưới đang ngồi thù lù ở góc phòng.


Ối giời! Cái gì chứ cái đó thì dễ ợt. Tuy là chỉ huy nhưng tính tôi lại hay tò mò thích tìm biết mọi thứ, nhiều khi lại tự tay làm thử chơi. Bảo rằng mổ ruột hay cưa cắt chân tay, tôi còn chịu chứ ba cái trò này, kể luôn cả việc đỡ đẻ cắt nhau, tôi cũng làm bay; thế là, bằng những động tác thành thạo, hơi cố tình khoa trương một chút, tôi thực hiện cú tiêm vô đùi người tù một cách ngọt xớt.


-          Đọc tên tất cả những loại thuốc này và nói công dụng từng thứ!


Chúng kêu một thằng thầy thuốc lên tiếp tục sát hạch tôi. Cũng ngon trớt. Tôi nói liền một hơi, tiếng tây tiếng ta đọc vanh vách khiến chúng phải đưa mắt nhìn nhau… Còn nữa. Tên thầy thuốc trực tiếp hỏi:


-          Trong rừng có những thứ cây, cỏ gì có thể làm vị thuốc nam và tác dụng của từng vị.


Vẫn ngọt! ông già tôi là ông trùm thuốc nam gia truyền mà. Tôi lim dim mắt tuôn ra một hơi nữa đến chóng mặt đối phương.


-          Được rồi! – Hắn cắt lời – ở rừng có dùng cao hổ cốt trị bệnh cho thương binh không?


-          Có chớ! – Tôi lỡ trớn nói luôn.


-          Vậy cách nấu cao thế nào?


Tới đây tôi hơi sững lại. Thấy mẹ rồi! Kiến thức này còn lơ mơ lắm, nói bậy là lộ tẩy hết. Để hoãn binh, tôi kêu nói nhiều nhạt miệng quá! Hắn đưa tôi một điếu thuốc. Tôi cầm, cầm đại đi chứ! Từ nãy đến giờ, mình đã bán bao nhiêu là chất xám, cả tây y lẫn đông y, mình có quyền ngửa cổ rít vài hơi chứ. Nói vậy chứ đầu óc nghĩ lung lắm! Sao hè? Cái con khỉ thì mình đã trực mắt nhìn thấy mấy tay quân y trạm xá nấu rồi, còn con hổ… Gay đây! Chợt lóe một suy nghĩ: khỉ hay hổ cũng như nhau tuốt! Cùng loại bốn chân chạy trong rừng tuốt. Mẹ! Có khác gì nhau, chỉ có con hổ xương to, loài ăn thịt thì phải nấu kỹ hơn mà thôi. Kệ! Được ăn cả ngã về không!


Thế là rít xong hơi thuốc cuối cùng, mình mới làm ra bộ mặt hết sức tiên sinh đạo mạo nói một hơi, lửa củi phải thế này, xương phải giữ nguyên cả lóng thế kia, riêng cái sọ phải thế kia nữa… Lé mắt nhìn, thấy chúng nó tròn mắt lên nghe có vẻ say sưa lắm. Tưởng xong đã mừng! Một tên ở ngoài đi vào, bật lên một cái giọng Huế đặc sệt, mặt lạnh lạnh:


-          Ba Trân là dân Thừa Thiên, năm nay trạc tuổi ông, giọng ông cũng Thừa Thiên. Hai người có bà con họ hàng gì không? Hay là… chính ông? Hả?


Thằng này đểu, hỏi một câu quá xỏ lá nhưng phải công nhận việc hành chánh của chúng giỏi thật, cái chi cũng cho được vô hồ sơ hết.


-          Trung úy hỏi chi mà lạ! Nếu tôi là bà con của ổng, một sư đoàn trưởng thì tôi đâu có phải làm lang băm ý tá thế ni? Tôi phải là bác sĩ chớ! Cộng sản họ thiên vị riêng tư lắm mà. (Nói bậy vậy một chút để gỡ thế, đừng truy chụp hỉ?).


Không moi được gì, chúng thả mình về xà lim. Ra đến cửa… Đây là chi tiết quan trọng đây, một thằng còn giữ mình lại giữa luồng sáng, xâm xoi nhìn vô mặt rồi lại cúi xuống nhìn một cái gì đó ở lòng bàn tay. Mình nhìn theo và bỗng… giật thót người. Đấy là tấm hình Ba Trân! Sao chúng lại có thể có được tấm hình này, mình không hiểu. Hình chụp ở quê hay chụp hồi ra ngoải tập kết? Hay có thằng phản bội nào đã lén chụp trộm mới đây ở trong rừng? Hay chúng họa lại? Truyền thần lại? Nhưng mà kệ? Nhưng mà kệ má nó! Mình không lo. Dù hình nào đi nữa thì mình cũng đã lường trước hết cả rồi. Ngay từ trại giam vùng bốn, mình đã hàng ngày lén lấy xi đánh giày, hộp xi đổi bằng chiếc đồng hồ cho bọn lính gác, bôi mặt cho khác đi. Mặt trắng thì thoa đen, mũi cao thì bôi vẹo, cằm dài thì thoa ngắn… tóc tai cũng cào bới lòa xòa che đi vầng trán bắt đầu hói… Bữa ni cũng vậy nên làm sao chúng nhận ra.


Săm soi một lúc không được gì hơn, một cái bá súng thúc mạnh vô lưng mình đau điếng, đẩy đi…


-          Vậy cái hình này cũng chấm hết ở đó – Tôi nói – có dính dáng gì đến Phú Quốc đâu?


-          Lại vội rồi! Muốn có một phải biết hai. Muốn hiểu Phú Quốc phải hiểu từ Hố Nai. Hai thằng này như hai anh em song sanh. Cái này tạo truyền thống cái kia và cái kia phục hồi truyền thống trở lại cho cái này. Nói cách khác. Nhà tù Hố Nai là cái ga chờ, cái cửa khẩu của nhà lao Phú Quốc. Có người tù nào chở thẳng từ mặt trận về hòn đảo ấy đâu. Cũng như không có truyền thống vượt Côn Đảo thì chắc gì đã có hành vi vượt tù Phú Quốc.


-          Nhất trí! – Tôi nói ngay để mong hướng anh trở lại luồng.


-          Nhất trí hỉ – Anh Ba Trân cười – Nhất trí thì ta sang chuyện Phú Quốc. Nó là thế này. Không tìm được mình nhưng chúng vẫn mang máng đã tóm được mình – Tóm sống được một sư trưởng chủ lực là công bự lắm chứ – Tụi an ninh nhào xuống nhà lao Phú Quốc với tấm hình của mình trong tay. Nhưng chúng không trực tiếp ra mặt mà sử dụng một tên chiêu hồi nào đó đã có lần biết mặt mình. Trong khi đó mình vẫn đang ở Hố Nai. Thằng chiêu hồi này lang thang khắp các phòng giam. Gần 500 phòng hỉ? Đến đâu cũng cóm róm vô tận mặt từng người nhưng chẳng được tích sự gì. Hết Phú Quốc, nó trở ra Hố Nai. Và như vậy thì mình có thể nguy. Nhưng thằng này đã tới số của nó rồi. Một tù binh ở trại giam sĩ quan miền Nam thấy ghét quá, một phần cũng muốn bảo vệ đồng đội, đã chồm lên giết chết nó, cướp lại tấm hình, nhai nuốt vô bụng…


Từ đó số phận mình coi như được bảo hành, còn người tù tốt bụng kia sau đó có sao không? Hiện nay ở nơi nào? Còn hay mất? Bà xã mình bảo mình đi tìm để cám ơn người ta nhưng hai ba phen lặn lội mà đâu có thấy.


-          Tức là tóm lại, anh chưa hề đặt chân tới Phú Quốc mà chỉ có tấm hình đi thay thôi – Tôi nói – Vậy mà tôi cứ đinh ninh ông sư trưởng 325 nổi tiếng sẽ là người chỉ huy, người lãnh đạo Đảng cao nhất 40 ngàn tù binh kia đấy.


-          Anh em mình tốt lắm! – Giọng anh bỗng trở nên thâm trầm, khuôn mặt đang tươi tắn chợt già xọp hẳn đi. Tốt ngoài sức tưởng tượng kia. Đảng ư? Đúng? Nhà tù nào cũng có Đảng. Đảng góp phần quan trọng trong công việc giữ vững khí tiết nhưng quan trọng hơn là từng anh em biết lặng lẽ tự vượt mình, vượt lên tất cả để khẳng định nhân cách. Nếu có viết, ông hãy cố gắng viết về từng con người cá thể như thế. Tôi nhớ… Cái này nói thêm thôi. Một lần, vào khoảng ba giờ sáng, một ông già cơ sở bị bắt lẻn sang phòng nói với mình: “Tôi biết chú to, chú chỉ là tù mót (tức khai lậu) chú giữ khí tiết tốt, tôi mừng, mọi người đều mừng. Chú sa ngã, chú chớ trách tôi”. Nói rồi lẻn trở lại luôn.


Một lần khác, chuyện này xảy ra ở Phú Quốc, một chiến sĩ liên lạc nhỏ tuổi làm nhiệm vụ đưa thơ trong tù bị đánh liền 6 tháng nhưng vẫn không chịu khai ra ai là người cầm đầu cuộc tuyệt thực trong trại. Bỗng một ngày, chú kêu khai. Bọn địch mừng quá, tập họp ráo trọi tù lại. Thằng thiếu tá hỏi: “Mày khai phải không?” Chú trả lời: “Khai! Nhớ nhà quá nên khai” “Tốt! Khai đi, tao cho về” “Vâng, thưa thiếu tá, tôi là liên lạc cho…” “Cho ai?” “Tôi liên lạc bằng cách chui rào!” “Được rồi! Chui rào nhưng chui rào để gặp ai?” “Để gặp cụ Hồ!” Thằng này dựng ngược mắt: “Đù mẹ! Mày định đùa với chính phủ, đùa với tao hả?”. Câu liên lạc khóc nấc: “Nhớ nhà quá! Biết cụ Hồ ở Hà Nội, tính chui rào đi tìm”. Thằng chỉ huy được một phen mất mặt, còn anh em tù được một mẻ cười bể bụng.


Chuyện này, cũng xảy ra ở nhà tù Phú Quốc, một bác hàng thịt không hiểu sao trong một trận càn cũng bị bắt. Không phải chúng tưởng bác là cách mạng mà chính bác ngay từ đầu đã dương dương xưng mình là người cách mạng. Khi vào tù, thằng trưởng ban điều hành phẩy tay: “ông lớn tuổi; tôi tha cho về. Lần sau nhớ là đừng có nhận bậy nữa!” Chẳng dè bác này lại nói: “Không về. Tôi là Đảng viên Cộng sản đàng hoàng”. “Đơn vị nào” Ai kết nạp?” Nó hỏi: “Mới mà, tôi làm sao nhớ nổi”. Bác trả lời tỉnh queo. Tên trưởng ban nổi quạu: “Nói! Ai kết nạp?”. Lúc ấy ông già bán thịt mới thủng thẳng: “Đại tá chỉ huy cảnh sát. Chính ổng kết nạp. Bởi vì ổng vô có đánh tôi đau quá!”.


Đó! Anh em bà con mình như vậy đó. Có lẽ chính vì cái lý do đó mà khi anh Mười Khang (tức anh Hoàng Văn Thái) nhắn vào sẽ dùng bộc phá phá nhà tù để cứu mình ra, mình đã lắc đầu vì sợ không an toàn cho đồng đội. Chỉ tiếc, cái lò lửa nhà tù đáng lẽ sản sinh ra những người con ưu tú của Đảng, những anh hùng của nhân dân thì lại cho ra những nỗi buồn day dứt không lý giải nổi. Sao kỳ vậy? Dù anh là anh hùng hay anh là kẻ hèn hạ, một khi đã ra tù là đều được nhìn nhận bằng một con mắt như nhau tất. Tất nhiên trong đó có bao nhiêu sâu mọt nhưng con sâu đâu có phải khi nào cũng làm rầu nồi canh. Bao giờ chúng ta mới tháo bỏ được cái nhìn hẹp hòi thiên kiến này hả ông nhà văn thân yêu? Tháo bỏ trong mọi chuyện chớ không phải chỉ trong nhìn nhận phẩm cách con người. Mình muốn nói câu cuối cùng với danh dự người lính, danh dự Đảng viên: Suốt trong ba chục năm chiến đấu dằng dặc, thằng địch nó đã làm khổ ta quá nhiều rồi, ta lại còn nỡ làm khổ ta thêm nữa ư?


Tôi không nói nhưng tôi hiểu anh. Rất hiểu, anh Ba Trân ạ! Nghe nói vừa rồi anh mới được phong hàm tướng và sắp tới đây sẽ đi chuyên gia ở một nước bạn xa xôi. Theo một lô gích thông thường của điều lệnh, từ trước Mậu Thân anh đã là sư trưởng một sư đoàn mạnh, nếu không rơi vào tù đày, dù trong tù đày anh chói sáng như một anh hùng đi nữa, thì giờ đây anh sẽ mang cấp hàm và trọng trách gì? Chắc không phải chỉ là cái non khiêm nhường này.


Nhưng có sao đâu phải không anh Ba Trân! Nhìn nụ cười của anh, cách nói về đồng đội của anh, cách lý giải mọi điều trong cuộc sống của anh, tôi hiểu anh đã biết cách vượt lên trên mọi nghĩ suy so sánh để hôm nay gặp lại, tôi vẫn nhận ra anh là một người lính, một Đảng viên đích thực. Điều đó mới thật là tồn tại vĩnh cửu phải không anh?


Tạm biệt anh, người tù cao cấp nhất không nằm trong đội hình Phú Quốc nhưng tên tuổi, hành vi của anh lại lưu truyền ảnh hưởng rất nhiều đến nhà lao trên hòn đảo hình lưỡi mác này.


Tạm biệt anh mà trong lòng tôi cũng ngổn ngang nhiều điều lắm, bởi lẽ tôi cũng là người lính, cũng khoác bồng hành quân suốt một thời trai trẻ như anh, bởi lẽ ngày hôm nay cuộc đời nghiệt ngã làm sao, còn nghiệt ngã nhiều hơn những ngày một bồng một súng nhẹ tênh đi giữa cánh rừng và cũng bởi lẽ, người chồng của bạn vợ tôi cho đến nay cũng vẫn chưa tìm ra tăm tích gì.


Trong khi đó, chắc anh cũng cùng chung một mối lo lắng như tôi, phía trời xa, nửa nhân loại, đúng, nửa nhân loại theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen đang sắp sửa lao vào một cuộc chém giết tàn canh. Đằng sau những cuộc chém giết ấy là gì? Chắc anh và cả tôi nữa đều đã thấm thía đến đắng cay quá rồi!


 


 


 


THAY ĐOẠN KẾT


 


Phú Quốc là đất giàu! Phú Quốc cũng là đất dữ. Bao đời nay hòn đảo hình lưỡi mác vung giữa biển khơi này đã chặt nát bao ý đồ xâm lăng tàn bạo của các loại kẻ thù.


Phú Quốc gần mà xa, xa mà gần. Phú Quốc cô đơn nhưng không bao giờ cô độc. Phú Quốc, vị trí chiến lược quân sự lợi hại, Phú Quốc lại cũng là địa thế chiến lược kinh tế tràn đầy hy vọng cho công cuộc kiến tạo giang sơn mai này.


Phú Quốc mang trong lòng nó tất cả dáng hình của tổ quốc. Nhưng dáng hình nào cũng vẫn đậm đà của bản sắc Phú Quốc làm sao! Phú Quốc mang trong lòng nó cư dân của khắp mọi nơi dồn về. Nhưng cư dân nào cũng thấm nhuần phong độ người Phú Quốc biết bao! Người Phú Quốc kiên cường trước kẻ thù, thuần phác với bạn bè, chân tình với khách bốn phương và khoáng đạt trong cách sống, cách làm.


Phú Quốc mang trong lòng nó một nhà tù. Một nhà tù khổng lồ cũng mang tên Phú Quốc.


Đã có nơi nào số phận người tù lại gắn bó khăng khít với số phận của người dân đảo như ở đây? Đã có nơi nào sự nghiệp đấu tranh của nhà tù thở cùng nhịp thở với cuộc kháng chiến trên đảo như nơi này?


Hai mươi năm tồn tại nhà tù. Hai mươi năm tồn tại tội ác. Hai mươi năm thấm máu thương đau. Hai mươi năm quẫy cựa không ngừng khát vọng sổ lồng tung cánh. Hai trăm ba mươi chín người tù vượt ngục trong bốn mươi hai lượt người ra. 16 vụ vượt rào, 14 lần đi riêng lẻ, 7 cuộc đánh quân cảnh, 4 lần đào hầm… Những thông số khiêm nhường nhưng không hề ít ỏi đó nói lên điều gì? Sẽ không nói lên điều gì nếu như cuộc kháng chiến bên ngoài không tồn tại. Và sẽ nói lên tất cả một khi cái quật cường bên ngoài đã vẫy gọi, nâng đỡ cái quật cường bên trong. Tự nghĩ, nếu cái buổi hôm đó mà không có một đầu đạn mang nhãn hiệu CKC, nhãn hiệu của ta lọt vào trại giam thì những con số trên kia liệu có được hình thành không? Những con số hình thành bằng máu. Máu bên trong và máu bên ngoài. Truyền thống bên ngoài và khí phách bên trong thầm lặng hà hơi tiếp sức nhau.


Và nếu như bên ngoài là nơi tụ hội của dân cư mọi miền thì bên trong cũng là điểm tập trung tù binh của đất đai cả nước. Nếu bên ngoài mang trọn dáng hình sông núi quốc gia thì bên trong, bốn mươi ngàn tù binh cũng cùng tâm lý suy nghĩ mỗi người một vẻ. Tại sao lại có cái trong và cái ngoài trùng hợp nhau đến thế? Phải chăng cuộc đời gom tụ mọi sắc màu Việt Nam về đây để thử thách một phen. Phú Quốc, gương mặt của Việt Nam! Gương mặt sáng hay mờ? Trách nhiệm lịch sử ấy thiêng liêng và cũng nặng nề biết bao.


Hơn 400 người ra, nhưng chỉ 239 người đến đích. Thế mới biết, nằm trong lòng nhau, thở hơi thở của nhau, cách nhau không đầy gang tấc mà đến được với nhau gian khó làm sao!


Tổ anh Hai Hội, anh Tư Phước đi mất 11 ngày. Tổ Ba Toản 6 ngày, tổ của Hồng lại những 16 ngày, còn hàng trăm người khác nữa, hết bao nhiêu ngày? Nhưng cái đó có hề chi trước sau vẫn chỉ là số lượng, điều cốt yếu là đã đến được. Người ra trước kẻ ra sau, người gặp lại bạn, người không gặp lại bạn, tất cả đều mừng mừng tủi tủi trong cuộc đời mới mẻ.


Hơn 400 người ra, còn lại 239 người! Gần hai trăm người làm gì trong cái hòn đảo ít người cũng gay mà nhiều người quá cũng chết này? Huyện ủy và huyện đội để cho các anh được quyền lựa chọn tùy theo sở trường, ngành nghề của mình. Họ tản xuống các xã cùng du kích tham gia bám trụ địa bàn, họ gia nhập lực lượng võ trang huyện, họ vào trạm xá, trong các ban ngành của huyện ủy. Trong số họ có một ít quá mệt mỏi xin ra làm rẫy, lấy vợ như một người dân, số khác xin được trở về đất liền móc ráp lực lượng, tìm lại đơn vị hay trở lại quê hương.


239 người có 15 sĩ  quan từ thiếu úy đến trung úy, có 26 hạ sĩ  quan từ hạ sĩ  đến thượng sĩ, có 3 huyện ủy viên, 3 bác sĩ, 29 y sĩ, 5 y tá, còn lại là chiến sĩ của gồm đủ các quân binh chủng: Hải quân, bộ binh, pháo binh, đặc công, cơ yếu, thông tin…


Trong số sĩ quan có anh hùng quân đội Trương Văn Hòa. Chỉ khi khai lý lịch tại ban đón tiếp tù ở huyện đội, người ta mới biết được điều đó. Anh hùng là vốn quý của quân đội, của nhân dân, huyện báo cáo lên tỉnh, tỉnh báo cáo lên khu, khu báo lên “Rờ” và “Rờ” báo lên Trung ương. Trung ương điện trở lại. Ba tháng sau, Trương Văn Hòa dù muốn ở lại đánh giặc nhưng đành phải chia tay mọi người vượt biển về đất liền. Ba tháng sau nữa, người lính Phú Quốc một đêm mở đài đã thấy tiếng anh đang tố cáo hành động chà đạp thô bạo lên công ước quốc tế về đối xử với tù binh chiến tranh của Nhà lao Cây Dừa trên làn sóng phát thanh Hà Nội.


239 người ra tù! 106 người tản về các cơ quan ban ngành, các bộ phận huyện xã. 50 người còn khỏe mạnh và nhiệt huyết về lực lượng chiến đấu, 34 người về đất liền, 7 người đau bệnh chết, 5 người mất tích không rõ lý do, 1 người tự sát, 1 người chết vì trốn về đất liền, 2 người đầu hàng địch trở lại… Những con số này cũng sẽ không nói lên điều gì nếu khi ra, người tù không gắn mình vào hoàn cảnh ngặt nghèo của cuộc kháng chiến trên đảo và sẽ nói lên tất cả nếu hàng trăm con người đó biết coi mảnh đất đảo này chính là mảnh đất chiến đấu của mình. 239 người thoát tù, còn lại gần hai trăm người trụ lại: Hầu hết những người trụ lại đều mang chung một tâm lý phục thù. Ngày đêm họ nung nấu ý nghĩ phải tấn công nhà lao bằng mọi cách, dù chỉ để phá vỡ đi một mảng, giải phóng được một số người. Sau những năm tháng đau khổ tột cùng, tâm lý muốn trả hận kẻ đã gây ra cho mình những khổ đau ấy là thường tình. Thường tình nhưng thực chất là cảm tính và manh động. Sự manh động này dẫn đến tự sát và khủng hoảng phong trào không mấy xa. Những cán bộ lãnh đạo chủ chốt thời gian này của huyện như anh Hai Hiến, Năm Nhất, Năm Sĩ, Ba Lon, Tư Tâm, Hai Phi và những người tù từng trải đã kịp thời ngăn chặn.


Đó là những hứng cảm chiến đấu chính đáng. Song cũng có những cảm hứng đời thường không mấy vui; ai không thèm khát cuộc sống thanh đạm yên hàn, nhất là sự thèm khát đó được nảy sinh sau những năm tháng tù đày kinh hoàng. Nhưng cả nước đang có chiến tranh, hòn đảo đang có chiến tranh, làm gì có một thiên đường yên ả cho người tù trú ngụ. Phải chăng vì lẽ đó mà sau khi xin ra làm rẫy lấy vợ, đẻ con, người tù mang dòng máu lính một số không ít đã quay trở lại rừng lãnh một cây súng làm tiếp phận sự “Trai thời loạn” cùng với đồng đội. Số khác còn ngần ngừ, lập tức có kẻ xấu đến rỉ vào tai những điều bậy bạ nọ kia nhằm phân tán lôi kéo họ dạt sang hướng đối diện với trận tuyến của nhân dân.


Nhưng, giữa mệt mỏi cầm an và hành vi phản bội là chuyện khác nhau. Những người tù đó không thể phản bộ lại quá khứ, phản bội lại đồng đội được. Nếu phản bội thì họ đã phản bội từ trong tù ngục rồi. Tuy nhiên cũng có một người lính không tỉnh táo mà sa ngã. Khi nhận ra thì việc đã muộn. Lại phải chọn một mệnh đề thứ hai: Giữa phản trắc và cái chết. Người này tự sát (xin cho miễn được nói tên).


Tù ngục là lò luyện phẩm tiết. Nhưng tù ngục cũng có tác dụng phá vỡ nhân cách nếu anh một lúc nào đánh mất vị trí quân nhân cách mạng của mình. 239 người ra. 237 người nằm trong đội ngũ. Nhưng vẫn có 2 người không chịu đựng được sự kham khổ và ác liệt bên ngoài, sau một đêm không ngủ với giấc ngủ của đồng đội, sáng sớm mai đã trở thành những tên đầu thú vào chi khu. Thật là một hành trình tăm tối: Từ đội ngũ vào tù, tù trở về với đội ngũ, và từ đội ngũ lại trở về với kẻ thù. Cuộc trở về lần ba đó còn khốn khổ hơn trở lại nhà tù. Một nhà tù phẩm cách, đạo lý và lương tâm. Sau này ta đã tìm diệt được một trong hai tên tăm tối đó và tôi cũng xin miễn phải nói tên.


Tại sao thế nhỉ? Con người là một mớ tổng thể những rắc rối lằng nhằng mà chính họ cũng không lý giải được. Ở tù gần kề cái chết thì khát thèm được thở hít khí trời tự do khoáng đạt dù chỉ một giờ rồi có vĩnh viễn xa lìa cõi sống cũng được. Vậy mà ra với tự do rồi lại loay hoay trăm thứ nọ kia. Băn khoăn về đãi ngộ ư? Về cấp chức ư? Về đường lối cách mạng, về tổn thất Mậu Thân ư? Cả một chút công thần về cái sự đã trải qua tù ngục nữa. Kỳ lạ! Hòn đảo cách đất liền 115 cây số nhỏ vô cùng và cũng gian lao vô cùng. Cả đảo chỉ có một đại đội không ngày nào không có người ngã xuống mà lại còn nhìn ngó trước sau ư? Khi ở tù làm gì có cái gọi là tồn tại cá nhân. Khi ra được, cái cá nhân lại nở phồng lên nhiều thế? Vậy là anh đã chậm lại so với tình hình. Thời gian tù đày là thời gian đông lạnh, trong khi cuộc sống ở ngoài vẫn cuộn nhảy ào ào. Nếu không khéo, khi ra được, anh lại vô tình trở thành hòn đá tảng trong dòng chày ấy. Nhưng rất may là cái đó không nhiều, thậm chí là rất ít. Một cán bộ đại đội bất mãn nằm ì, một thiếu úy chán ngán cảnh đánh đấm cò con, tự cho mình đứng ngoài kích thước của một tiểu đội, đã trộm nghe tính vượt biển trốn về đât liền, trốn về với đoàn quân chủ lực thôi nhưng không được. Cái chết do đạn lạc của anh đã làm cả đảo giật mình. Cấp ủy giật mình. Một bản tổng kết kinh nghiệm chỉ đạo tư tưởng với sự có mặt của anh Ba Ca, cán bộ tỉnh ủy ở đất liền ra đã tự đánh giá thấm thía: “Cấp ủy đảo đã không thật nhạy bén với tình hình anh em tù ra nhiều. Đã không đánh giá và phát huy hết năng lực của anh em. Trong cấp ủy vẫn có những đồng chí nóng vội, chấp chới chưa đi sâu tìm hiểu anh em thấu đáo, thậm chí có lúc có nơi còn vội vàng trong đánh giá, trong cách nói năng cư xử… Huyện ủy khẳng định đây là những hạt nhân quý giá nếu biết tận dụng sẽ rất có lợi cho phong trào chung…”.


Thế mới biết, ở đời cái gì cũng có hai mặt của nó cả. Anh em tù ra đã thổi vào đảo một sinh khí mới, song cũng đẻ ra những khó khăn không nhỏ. Chỉ có điều cái sinh khí đó mới là hệ trọng, mới đóng vai trò quyết định.


Tôi xin được nói sâu về cái sinh khí này.


Trong số 50 anh em thiện chiến khỏe mạnh được bổ sung và tình nguyện bổ sung về chiến đấu ây, có 20 anh em về thành lập phân đội đặc công. Bắt đầu là Hai Hội, Tư Phước rồi Hai Hội, Nguyễn Quang và sau nữa là Tư Tâm, Ba Toản rồi chót cùng là còn lại mình Ba Toản chủ trì.


Đọc đến đây chắc các bạn sẽ không trách tôi là sao lại có ý thiên vị viết về Ba Toản lắm thế, lại viết đầu tiên nữa. Một con người làm nên công trạng trong tù đã nên khẳng định, cũng con người ấy lại tiếp tục quên mình đi, tạo nên công trạng trong giai đoạn ra tù nữa thì dù có thiên vị đi nữa, ắt cũng là chuyện thường, huống hồ đây đâu có phải là cái chuyện thiên vị hay địa vị mà là lịch sử, là khách quan.


Sau khi phân đội đặc công của anh Hai Hội, Tư Phước rồi Hai Hội, Nguyễn Quang đánh thắng trận Cửa Cạn, không khí chiến đấu chung có chiều hướng đi lên và binh chủng đặc biệt tinh nhuệ vốn đã được hình thành từ lâu nhưng đang teo tóp dần đi này lại được phục hồi trở lại. Ấy vậy, đến trận Cây Thông và trận Suối Đá, ta lại tổn thất do công tác phối hợp không chặt và kỹ thuật chiến đấu không nghiêm.


Sau hai trận này không khí lại lắng xuống. Một số mất tin nằm yên, số khác lại tiếp tục xin về đất liền. Ngay cả đồng chí phân đội phó cũng rẽ ngang ra dân làm ăn… Trong nội bộ, trong nhân dân đã xuất hiện những tiếng nói nghe thật xót xa: “Coi chừng! Chúng mày cứ theo ba cái ông tù ra là chết hết! – “Chúng mày” đây là những anh em bên đại đội bộ binh của anh Dũng quẹo sang phối hợp.


Ba Toản khi đó cùng với Bảy Minh và Tư Hùng – Những bạn tù cùng chui ra một lượt là ba mũi trưởng, nghe được như vậy ruột gan cứ cụn lên. Tự ái người tù bị đánh thức dậy dữ dội. Ai đó nói đâu phải nỗi tại họ, lỗi là những tay súng được đào tạo chính quy mà đánh có ba cái thằng địch địa phương cũng không xong. Hổ danh binh chủng lắm! Ngày đêm anh nung nấu những phương cách mới. Phương cách tác chiến của chính mình dựa trên đặc điểm cụ thể của kẻ thù trên đảo.


Vừa may Huyện ủy, Huyện đội kịp chỉ đạo củng cố lại đội hình. Tư Phước đã về đất liền, tuổi tác và sức khỏe không cho phép anh Hai Hội ở lại trực tiếp chiến đấu thêm được nữa, anh đề nghị chỉ định Ba Toản, người mũi trưởng có năng lực nhất thay mình. “Bổ sung quân và huấn luyện lại đi Ba Toản ạ! Phải thắng được một trận thật ngon để gỡ lại danh dự NGƯỜI TÙ”. Anh nói vậy và cùng với Nguyễn Quang về tham mưu huyện đội.


Trong trận cuồng phong của chiến cuộc, nhiều khi sức mạnh của người lính phụ thuộc vào tư cách và danh dự chứ có phải cứ mỗi khi xung trận là lại mang những cái cao siêu như lòng căm thù, tinh thần yêu nước, lý tưởng chính trị ra đặt ở đầu súng đâu. Đặt hết vào đó, nặng lắm, bắn thế nào được.


Ba Toản chọn đánh lại mục tiêu “Đồn Cây Thông” là mục tiêu rắn mà thằng địch thường huênh hoang tuyên bố: “Nếu Việt Cộng đánh được, xin tế của kiệu đầu heo nhậu chơi!”. Đồn này lực lượng mạnh: Một trung đội bảo an thiện chiến canh giữ, ba lô cốt, hàng rào 6 lớp dày đặc mìn trái và hai tiểu đội dân vệ chốt ở vòng ngoài.


Rút bài học lần trước, lần này Ba Toản tự mình đi nghiên cứu ba đêm liền. Có phương án rồi nhưng chưa thật yên tâm, anh lại trực tiếp vượt qua 6 hàng rào vào khảo sát lần cuối cùng rồi mới dẫn quân đi… Trận đánh thắng lợi giòn giã. Ta thu toàn bộ vũ khí, bắt sống tù binh và không thương vong một ai.


Thừa thắng, sau mấy tháng chờ cho địch củng cố xong, anh lại xin trên cho đánh “Đồn Cây Thông” một lần nữa. Một lần bại, hai lần thắng mới mong xóa được tiếng dở để đời. Trận này dù địch tăng cường mạnh hơn nhưng cũng chỉ sau nửa giờ đồng hồ đã bị ta san thành bình địa. Truyền thống bắt tù binh, thu vũ khí, băng bó cứu chữa cho kẻ thù của Phú Quốc từ xa xưa lại được tiếp tục ở cấp độ cao hơn trong trận đánh bồi đánh nhồi này.


Thay vì những câu nói nghe đau lòng trước kia, sau trận này, một người dân từ ấp chiến lược mang rượu, đầu heo ra nói: “Trời đất! Mấy chú đặc công ta đánh ngon quá! Lính quốc gia đang kháo nhau ầm cả lên kia kìa. Họ bảo, sau này có thấy mấy người nói tiếng trọ trẹ, tốt nhất là chạy thôi, họ còn đùn đẩy nhau rút thăm khi bị điều lên đồn” Chao ôi! Nghe mát ruột quá! Tự ái người tù nằm trong cái tự ái non sông đã tạo nên một thế trận trên đảo.


Phân đội đặc công đã ăn nên làm ra. Tiếp tục phối hợp cùng với đại đội bộ binh của huyện diệt trọn trạm cảnh sát ác ôn ở gần thị trấn Dương Đông, cái ung nhọt chuyên cấm vận, làm khó làm dễ cho dân, cho phong trào bao vây lâu nay.


Tháng 10 năm 1971. Toàn bộ lực lượng vũ trang của huyện đảo tổ chức đánh thẳng vào dinh thiếu tá quận trưởng ác ôn. – Nơi xuất phát của những cuộc hành quân và tội ác. Phân đội đặc công với nghiệp vụ tinh thông của mình đã kết hợp với nội gián bên trong thực hiện một động tác điều nghiên rất chu đáo.


Đêm 25 tháng 10, trong khi kẻ thù đang họp bàn để tìm cách diệt ta trong mùa khô 1971-1972, lực lượng vũ trang ta trong đó lấy đặc công làm nòng cốt đã bí mật đi từ Bến Tràm về Dương Tơ, cắt ngang lộ số 10, tập kết tại núi Suối Mây rồi dựa theo mép sóng tiếp cận lên Ao Sen sát thị trấn. Đáng lẽ trận đánh thọc sâu này sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu như ta không bị lộ, đành phải tập kích từ xa. Tuy vậy, sau nửa giờ, tên ác ôn thiếu tá cũng phải đền tội cùng với 50 tên khác trong đó có cả tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng thuộc bộ chỉ huy sư đoàn 9 vừa chân ướt chân ráo đặt chân tới đảo để thực hiện một âm mưu bình định mới của kẻ thù. Khu thông tin và nhiều nhà lính bị đánh sập, ta thu và phá hủy một cây 12 ly 7, hai pháo 105, một cối 106,7 ly, bốn cụm rốc két hàng đêm nhả đạn vào rừng. Trận này ta hy sinh hai người trong đó có một người tù vượt ngục ra tên là Tân. Dòng máu của người lính đảo và người lính tù đã cùng đổ xuống cho một bước trưởng thành về chiến thuật, kỹ thuật của đường lối chiến tranh nhân dân đang tồn tại ở nơi đây – Từ chiến thuật phòng ngự chuyển sang chiến thuật tấn công.


Sau trận tập kích rung động này, địch lo sợ vội đưa lực lượng cảnh sát của chúng vào vòng trong để tránh bị tiêu diệt. Nhưng thế trận đã mở ra, chúng trốn đâu cho thoát. Mùa mưa 1973, đội biệt động do Ba Toản chỉ huy đã giả trang luồn vào tận giường nằm của chúng và nổ súng, làm chủ toàn bộ chi khu cảnh sát ba, bốn tiếng liền…


Chiến công nối tiếp chiến công. Càng đánh lực lượng ta càng mạnh. Số anh em tù vẫn tiếp tục ra thay thế cho những anh em tù đã ngã xuống. Lúc ấy, cả tiểu đoàn 207 của tỉnh trong đất liền cũng chỉ được một trăm quân nhưng riêng đại đội chủ công của huyện đã có biên chế nhiều hơn thế rồi.


Chiến công này tạo đà cho chiến công khác. Dương Tơ anh hùng đã trụ vững kìm chân địch suốt trong những năm tháng gian lao. Hôm nay, nếu đi dọc theo con đường ven biển từ An Thới về Dương Đông, khách vãng lai sẽ nhìn thấy những cột mốc chiến thắng dựng ở ven lộ với ngày… tháng… năm… Quân và dân Dương Tơ đã diệt một trung đội… một tiểu đội…


Dường như ẩn sau những trụ xi măng đứng im lìm trong cỏ lác đối diện với biển cả bốn mùa sóng vỗ ấy, người ta thấy được bóng dáng xã đội trưởng Hai Sửu mà chiến công đánh giặc của anh được bà con lưu truyền như huyền thoại với tài nghệ xuất quỷ nhập thần, với sự gan góc đến thành liều lĩnh, với lối đánh gần như giáp lá cà khiến địch không kịp trở tay. Và nhìn thấy bóng dáng của cả những người tù quê ở bốn phương đêm ngày bám dân bám đất, chịu cực khổ cùng với người xã đội trưởng bản xứ của mình như: Nguyễn Đức Hòe, Ngọc, Sinh…


Và Hàm Ninh, và An Thới nữa. Được sự trợ giúp của lực lượng võ trang huyện, những người tù đã kề vai sát cánh cùng các chiến sĩ du kích; các bà má, các chị, các em cơ sở trong ấp không ngừng mở ra những trận diệt ác gây thối động hàng ngũ địch. Hồng, Sơn… Những người tù vượt ngục đã khiến cho đám quân cảnh phải kính nể năm xưa, giờ đây đang hết mình cho một cuộc chiến đấu mới không kém phần ác liệt gay go tại đặc khu An Thới. Với khả năng trinh sát của mình họ đã dẫn đường cho đại đội chủ lực của huyện đánh một trận sát ngay hàng rào nhà lao diệt một trung đội quân cảnh đang áp tải đi vào rừng, giải phóng thêm được hàng chục tù binh.


Bác sĩ Ba Châu, cùng với y sĩ Sơn chuyển về trạm xá ở căn cứ Khu Tượng. Tại đây người thầy thuốc mát tay này đã trở thành niềm tin cậy khôn cùng đối với các tay súng ngày đêm xông pha tại trận tiền. Có anh rồi, người lính không còn thấp thỏm những lo lắng không đâu. Hãy mạnh dạn nhào vô, chẳng may bị thương, ông bác sĩ quê Bắc này sẽ chữa trị cho anh đàng hoàng. “Chỉ cần đưa về được đến phẫu ông Ba là coi như sống rồi!” Họ bảo nhau như thế!


Chính người bác sĩ này, vào những đợt địch càn gắt gao, không kiếm được thuốc, đã phải cầm lòng dùng nước cất tiêm để yên lòng bộ đội. Đã phải sử dụng những phương tiện thô sơ nhất để tiến hành những cuộc giải phẫu công phu thành công mà ngay ở những quân y viện hiện đại nhất cũng nhiều khi phải bó tay. Có một thời, chỉ với một ngọn đèn măng xông, mấy cây đền pin, nồi nước sôi và trái tim tràn ngập yêu thương, những người thầy thuốc trong rừng đầy bom đạn đã làm nên những sự tích khoa học lạ kỳ.


Cuối những năm bảy mươi, kẻ thù bị đánh tan tác ở mọi nơi trên đảo. Chúng đã nghĩ ra cách sử dụng những toán biệt kích gián điệp, luồn vào căn cứ những ống thuốc độc màu trắng, màu cá kho, màu canh chua… Những sắc màu quen thuộc cho mọi bữa ăn ở rừng để hòng tiêu hao lực lượng ta. Những chiến sĩ an ninh của anh Hai Ngáng, Ba Lạc kết hợp với phân đội biệt động đã khám phá ra vụ này. Một mặt ngăn chặn, tìm diệt từ xa; một mặt đưa những chất nước kỳ dị đó lên nhờ bác sĩ Dư phân tích. Bằng cách thử nghiệm thông thường cho chó ăn, người bác sĩ này đã tìm ra những độc tố nằm lẫn trong giếng, suối, cây cỏ, góp phần đáng kể đánh bại thủ đoạn vi sinh học lẩn lút của chúng.


Cuộc chiến đấu của quân và dân Phú Quốc đã làm tan rã ý định “Bình định cấp tốc” của đối phương, đưa tình thế kháng chiến sang một thời kỳ mới hết sức vẻ vang và sôi động. Cũng như trong lịch sử chiến tranh nhân dân, Phú Quốc đã cùng cả nước đập tan chiến lược Chiến tranh đặc biệt, chiến lược Chiến tranh cục bộ và bây giờ là chiến lược Việt Nam hóa Chiến tranh của đế quốc Mỹ. Kẻ thù có thể nảy sinh ra đủ các thứ học thuyết, chủ nghĩa, chiến lược, chiến thuật to tát nọ kia nhưng người Phú Quốc chỉ có một chiến lược duy nhất – Chiến lược quyết không chịu mất đảo, quyết không chịu làm nô lệ – Chiến lược phát ra từ tấm lòng và trái tim của vị lãnh tụ anh minh không còn nữa.


Từ Mậu Thân 1968 đến Hiệp định Pari năm 1973, Phú Quốc đã tiến hành đánh địch hàng trăm trận lớn nhỏ, đã diệt của chúng hàng ngàn tên cùng với phương tiện, vũ khí, kho tàng, cứ điểm hiện đại. Trong thắng lợi rộn ràng đó, đất đai Phú Quốc, lòng dân Phú Quốc không thể không ghi tạc công lao, xương máu của những người tù vượt trại ra.


Lạ kỳ sao! Sau thời xuân “sáu tám”, phong trào cách mạng ở hầu hết mọi nơi đều tạm lắng xuống, có nơi lắng hẳn nhưng nơi đây, như một nghịch lý hào hùng, phong trào đánh địch lại dân cao chưa từng thấy. Cái nghịch lý đó biểu hiện gì? Phải chăng hòn đảo cô đơn nhưng không cô độc này đã biết cách tự đứng vững trong bất cứ hoàn cảnh nào, nó đã luôn luôn hòa vào cái chung nhưng một khi cần thiết, nó lại hoàn toàn biết mang một tính cách riêng, tính cách tự lực tự cường.


Anh em tù vẫn tiếp tục ra. Một số về đất liền, một số chuyển sang chiến đấu, số nữa lại tản về các xã, các ban ngành… Nhà tù cung cấp nhân lực cho đảo. Đảo lại cung cấp nhân lực, tài lực cho đất liền. Chu trình luân chuyển đó diễn ra không thôi, hết ngày này sang ngày khác, hết năm này sang năm kia, như một dòng chảy của bản giao hưởng trung khơi vùng lên trong khói lửa.


Bốn trăm người ra, 239 người đến đích. Gần một nửa nằm xuống dọc đường. Trong số những người nằm xuống đó, bà con Phú Quốc còn kể lại những mẩu chuyện đau lòng.


Một tốp ba người đã lang thang đói khát ở trong rừng nhiều ngày. Đến ngày thứ tám, họ may mắn gặp được một ông già người Tàu ở ngoài rẫy, ông này lôi cơm, lôi nước trong bọc ra cho họ ăn rồi bảo cứ ngồi chờ, ông sẽ về kêu cách mạng ra. Mừng đến chảy nước mắt, ba anh em tìm nơi kín đáo nằm thiu thiu ngủ… Lát sau, trước mặt họ hiện ra không phải những người cách mạng mà là một tiểu đội quân cảnh lăm lăm tay súng. Uất quá một người đã ném mạnh nắm cơm đang ăn dở vào giữa mặt lão già phản trắc đó, nguyền rủa: “Rồi lão sẽ chết thối thây không thấy mặt con cháu, không một nén hương cắm lên mộ…” Ba người tù ấy bị giải trở lại trại không rõ sống chết ra sao, nhưng người ta nói lão già ấy vẫn còn sống. Chỉ có điều con cháu lão đã bỏ lão mà đi hết cả, ngày ngày người ta chỉ thấy lão lủi thủi ra vào một mình, thỉnh thoảng lại ngồi rũ ra bên cạnh con chó già lở tróc.


Một tốp khác chỉ có hai người. Bài học đau đớn về tốp ba người mấy tháng trước đã khiến họ hết sức đề phòng. Ngày thứ năm, họ lại vào một nhà dân. Trong nhà chỉ có một bà má già. Bà má cũng cho họ ăn uống rồi bảo chờ để đi gọi người đàng mình. Bà còn để lại cho hai anh em chiếc đài để nghe đỡ sốt ruột. Khả nghi quá! Hai người quyết định bỏ đi, không mang theo bất cứ một cái gì kể cả cái đài quý giá có thể đổi được không ít gạo, muối trong cuộc hành trình lên Bắc đảo. Oan nghiệt thay, họ không hề biết rằng bà má đó là một cơ sở cách mạng trung kiên của xã Hàm Ninh, khi bà dẫn theo hai du kích trở lại thì căn nhà đã trống không.


Từ đó bà má ấy cũng như mọi người dân Phú Quốc không còn nghe được tin tức gì của hai người tù trẻ tuổi kia. Thời gian trôi qua. Những trận đánh trôi qua… Những vinh quang tủi nhục và đau thương trôi qua. Ba năm sau, bỗng một hôm một người lên rừng đốn củi đã tìm thấy hai bộ xương người nằm còng queo trong một hốc đá trên phần đảo phía Bắc. Bộ xương thứ nhất nằm kín đáo hơn, chân tay duỗi thẳng, đầu kê trên một phiến đá nhỏ. Bộ xương thứ hai nằm ở ngoài hang, chân tay vẹo vọ, xương đầu, xương cổ ngặt sang một bên. Người có khiếu đoán sẽ nhận ra ngay rằng, người thứ nhất đã chết trước, người thứ hai ráng sức dọn dẹp cho bạn một chỗ nằm ngay ngắn rồi mới bò ra cửa hang chết sau. Chết vì đói, vì bệnh tật, vì dã thú hay vì biệt kích mò vào? Điều ấy chưa ai có thể kết luận được nhưng chắc chắn rằng đó là bộ xương của hai người tù năm xưa đã một lần ghé qua nhà bà má ở xã Hàm Ninh. Một trong hai người còn để lại một mẩu thư nhỏ gói ni lông trong túi áo đã nát mủn: “… Mẹ ơi, ngày mai con sẽ ra khỏi nhà tù. Nếu trời phật phù hộ thì ba tháng sau con sẽ có mặt ở bên mẹ. Mẹ hãy chuẩn bị cho con năm đôi gà trống thiến để con lấy vợ…”.


Tình thế cách mạng đã mở ra một hiệp định Hòa bình tại Pari năm 1973. Trước ngày ký kết hiệp định, Trung ương cục miền Nam có lệnh rút tất cả anh em tù binh đang sống và chiến đấu ở Phú Quốc về đất liền để củng cố lực lượng, chuẩn bị bước sang thời kỳ mới. Từ trung úy trở lên rút về R. Từ thiếu úy trở xuống rút về Long Châu Hà. Phú Quốc thời điểm này lại thuộc Long Châu Hà.


Hơn một trăm con người đã quen hơi quen đất, bỗng chốc có lệnh rời đi cả, Phú Quốc nhỏ hẹp không thể không cảm thấy bịn rịn và trống vắng. Sự ra đi này có sức hút của một thỏi nam châm cực lớn. Đất liền bao giờ cũng là mơ ước và khát vọng của những người lính muốn được thỏa sức vẫy vùng. Những người tù ra đi, dù không muốn, mặc nhiên cũng thu hút một trung đội của Phú Quốc đi theo. Lịch sử chiến tranh sẽ châm chước cho sự ra đi chính đáng nhưng lại không thấu tình này.


Cũng như lịch sử chiến tranh Phú Quốc sẽ ghi nhận sự thành tâm của những người tù sau khi Trung ương cục gọi về R một thời gian lại tình nguyện xin trở lại Phú Quốc tiếp tục cầm súng như anh Ba Toản, Hai Hội, Ba Lửa, Tư Thẳng, Bảy Tẻng, Ba Đại ở Cửa Vạn, Vũ Tấn Quát ở Hàm Ninh…


Phân đội đặc công ở huyện đảo vẫn được duy trì. Cùng với toàn đảo, họ lại mở ra những trận đánh ở Đồn Nùng, ở bộ chỉ huy cảnh sát dã chiến làm hệ thống phòng thủ của địch tan rã thêm từng mảng. Năm “bảy ba” đáng ghi nhớ này, anh Tư Tâm đã lên làm huyện đội, Hai Sửu từ Dương Tơ cũng lên huyện đội. Bí thư huyện lúc này là anh Mười Việt ở ngoài tỉnh mới bổ sung về.


Thời cơ giải phóng toàn bộ nhà lao Cây Dừa đã đến. Trên đưa một số cán bộ trong đó có cả một tổ đặc công thủy xuống Phú Quốc nắm tình hình, trinh sát thực địa và chuẩn bị chỗ cho đội hình một sư đoàn mạnh tới đứng chân. Lòng vui như trẩy hội. Ở hòn đảo xa xôi này đã bao giờ có sự hiện diện của một sư đoàn chủ lực? Phen này không còn nghi ngờ gì nữa, ngày toàn thắng dứt khoát đã đến gần, bốn mươi ngàn tù binh nhất định sẽ được giải phóng.


Nhưng công việc chuẩn bị chưa đâu vào đâu thì Hiệp định Hòa bình đã có hiệu lực, hai bên được phép trao trả tù binh. Tại nhà lao Cây Dừa. Số chiêu hồi, ác ôn được chúng bí mật đem đi, số cố thủ đáng gờm cũng được chúng đem đi đâu không biết, số còn lại được chính thức trao trả tại Lộc Ninh và Thạch Hãn.


Thế là sau hai mươi năm tồn tại – Nhà lao giam giữ tù binh lớn nhất Đông Nam Á đã không còn. Sự cáo chung của con quái vật cuồng sát này là tất yếu. Với oan khí ngất trời không trước thì sau, nó cũng không tránh khỏi số phận bị hủy diệt.


Năm 1973, lực lượng địch ở nhà lao sạch bóng nhưng cuộc chiến đấu bên ngoài vẫn tiếp tục diễn ra gian khổ, ác liệt hơn. Tổ đặc công thủy không còn chức năng giải phóng nhà tù, họ chuyển sang mục tiêu đánh tàu, đánh đường ống dẫn dầu của hải đoàn An Thới.


Quân và dân Phú Quốc tiếp tục tựa lưng vào thắng lợi đã đạt được, tựa lưng vào tinh thần hiệp định Pari, hiệp định đã đổi bằng máu và nước mắt của cả dân tộc để lấn địch thêm từng bước, không ngừng diệt ác trừ gian kết hợp với những trận đánh tập trung để mở mảng mở vùng. Vùng giải phóng loang rộng ra, tạo thành thế cài răng lược với kẻ thù ở bất cứ nơi nào, ở ngay trong sào huyệt của chúng nó.


Phú Quốc gần mà xa, xa mà gần… Phú Quốc là chiến hạm nồi canh giữ bờ biển phía Nam của Tổ quốc. Phú Quốc tự lực tự cường, Phú Quốc nhiều khổ đau nhưng cũng chất ngất vinh quang. Hùng khí Phú Quốc đã thổi dạt thế lực đối phương có lúc tăng cường đến một ngàn lần hơn trong thế tương quan nghiệt ngã. Phú Quốc, cái nôi ấm áp của nhà lao Cây Dừa. Số tù binh trong lao có lúc đông hơn số dân mười lần nhưng lòng dân vẫn mở ra che chở bao la.


Thời gian tiếp tục trôi qua trên hòn đảo hình lưỡi mác. Năm “bảy năm” đang chuyển động đến gần. Vẫn không nhiều phương tiện thông tin, điện báo, vẫn vắng thiếu những chỉ thị, những mệnh lệnh tức thì, vẫn bằng radiô và tấm lòng cách mạng vẹn tròn, Phú Quốc đã nổi dậy kịp thời cùng với cả nước mở chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng. Xa đất liền 115 cây số, hòn đảo này đã được giải phóng hoàn toàn chỉ sau Sài Gòn đúng bốn giờ đồng hồ. Thật là một điều kỳ diệu về mệnh lệnh hiệp đồng trong chiến tranh. Thứ mệnh lệnh hợp đồng vang lên từ nhịp đập con tim khát vọng chủ quyền…


Đảng bộ Phú Quốc thở phào! Quân và dân Phú Quốc cũng thở phào nhẹ nhõm! Trường kỳ chiến đấu, một chặng đường vô cùng gian khổ, ác liệt và cô đơn đã vượt qua. Phú Quốc một vùng đảo hình lưỡi mác tiếp tục vươn lên, chồm lên đầu sóng phía tây nam Tổ quốc càng đậm nét và hào hùng hơn.


Chỉ có điều, bóng dáng nhà lao Cây Dừa giam giữ 40 ngàn tù binh sẽ vẫn còn đó, khu nghĩa trang bốn ngàn tử sĩ vẫn còn đó… Mãi mãi tượng trưng cho một thời đau thương oanh liệt mà thế hệ mai sau không thể quên. Không được quên.


Cũng như chị ấy, người bạn của vợ tôi ấy, biết khi nào mới có thể quên đi được người chồng đã mất tích mà chuyến đi này tôi đã bất lực, không làm yên lòng chị được, và còn có bao nhiêu những người vợ, người mẹ không yên lòng như chị nữa? Bao nhiêu?


Cũng như cả nhân loại làm sao quên được rằng chỉ còn hai ngày nữa, chiến tranh tầm cỡ nửa nhân loại rất có thể sẽ nổ ra ở vùng sa mạc xa xôi. Cơn bão sa mạc đó liệu ảnh hưởng gì đến hành tinh này? Đến những con người đang khát thèm cuộc đời yên ả trên thế giới này?


Không thể quên được!


Bà má Kiên Giang đã được chôn bên bãi biển nhìn hướng về đảo xa. Bà mẹ Việt Nam vẫn đêm ngày khôn nguôi nhớ đến những đứa con đã nằm xuống âm thầm trên nghĩa trang đảo hiu hắt ấy.


Tượng đài cho nhà tù 40 ngàn tù binh, cho bốn ngàn hài cốt; cho toàn bộ đất đảo đau thương và anh hùng phải chăng nên bắt đầu từ đây, từ tấm lòng mẹ giằng xé và bao dung này?


 


Xuân 1991


Nguồn: Nhà lao cây dừa. Ký sự của Chu Lai. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »