tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
08.03.2014
John "Jack" Silas Reed
Mười ngày rung chuyển thế giới (10)

CHƯƠNG X: MATXCƠVA


Ủy ban quân sự cách mạng tiếp tục phát huy thắng lợi với một ý chí kiên cường


Ngày 14 tháng 11


Gửi tất cả các ủy ban các đạo quân,


quân đoàn, sư đoàn và trung đoàn. Gửi tất cả


các Xô Viết đại biểu công nông binh.


Theo sự thỏa thuận giữa Côdắc, học sinh sĩ quan, binh lính, thủy thủ và công nhân, nay quyết định đưa Alêchxăngdrơ Pheodorovich Kêrenxki ra xử tội. Bởi vậy, đề nghị các bạn trao Kêrenxki cho các tòa án nhân dân. Hãy bắt Kêrenxki lại và nhân danh các tổ chức nói trên, đòi hắn phải đến ngay Petrograd trình diện để đưa ra xử trước tòa án.


Ký tên: Lính Côdắc sư đoàn thứ nhất kỵ binh


Utxuri Côdắc sông Đông: ủy ban học sinh


sĩ quan phân đội du kích khu Petrograd:


đại biểu đạo quân thứ năm.


Ủy viên nhân dân: Đibenco


 


Ủy ban Cứu quốc và Cứu cách mạng, Viện Đuma, ủy ban trung ương đảng xã hội cách mạng từ trước vẫn thường huênh hoang rằng Kêrenxki là người của các tổ chức đó, liền kịch liệt phản đối, cho rằng Kêrenxki chỉ chịu trách nhiệm trước hội nghị lập hiến.


Tối ngày 16 tháng 11, tôi trông thấy hai ngàn xích vệ diều qua đại lộ Dagorotni, đi đầu là đoàn quân nhạc cử bài Macxaye cùng với những lá cờ đỏ như máu phấp phới trên những hàng quân công nhân, điệu nhạc nổi lên rất đúng lúc để chào mừng những chiến sĩ vừa bảo vệ Thành Petrograd Đỏ trở về. Trong đêm tối lạnh lẽo, nam và nữ, lưỡi lê nhấp nhô đầu súng, bước đều trên trên những đường phố bùn lầy trơn như đổ mỡ, dưới ánh đèn tù mù, giữa một đám tư sản lặng lẽ, vẻ mặt khinh miệt nhưng sợ sệt…


Tất cả đều chống lại họ: những nhà kinh doanh, bọn đầu cơ, những kẻ sống bằng lãi quốc trái, địa chủ, sĩ quan, chính trị gia, nhà báo, sinh viên, những người làm nghề tự do, tiểu thương, viên chức. Các đảng xã hội khác căm thù không đội trời chung với những người Bônsevich. Đi với các Xô Viết có công nhân, lính thủy, những người lính còn vững tinh thần, những người nông dân không có ruộng đất và một số ít – rất ít – trí thức… Từ những miền xa xôi nhất của nước Nga vĩ đại, trên đó những cuộc chiến đấu ngoài đường phố đang sôi sục, tin Kê-ren-xki thất bại bay về như tiếng vọng dữ dội của cuộc thắng lợi vô sản: từ Ca-dăng, Xa-ra-tốp, Nốp-gô-rốt, Vi-nít-xa, máu chảy đẫm các đường phố, từ Mátxcơva, ở đó những người bôn-sê-vích đã chĩa nòng pháo vào điện Crem-li, pháo đài cuối cùng của giai cấp tư sản.


“Chúng bắn phá điện Crem-li” Tại Pê-tơ-rô-gơ-rát tin tức truyền từ người này sang người khác, gây ra một tình trạng khủng khiếp. Những hành khách từ Mátxcơva tới - Mátxcơva, bà mẹ hiền Mátxcơva, thành phố trắng tinh với những mái khum tròn mạ vàng sáng loáng - thuật lại những chuyện hãi hùng. Hàng ngàn người bị giết; phố Tơ-véc-xcai-a và phố cầu Cút-nét-xki lửa cháy đỏ rực; nhà thờ Va-xi-li Bơ-la-dê-ni chỉ còn là một đống tro tàn; nhà thờ Út-pen-xki đã sụp đổ. Cổng Đấng Cứu Thế ở Crem-li lung lay muốn đổ; Viện Đu-ma bị thiêu trụi.


Từ trước tới nay, chưa bao giờ những người bôn-sê-vích lại làm một điều bất kính ghê gớm như vậy ngay giữa trung tâm nước Nga thiêng liêng. Bên tai những con chiên hình như văng vẳng tiếng đại bác đang khạc đạn vào Giáo hội chính thống, biến thành tro bụi thánh đường của dân tộc Nga...


Ngày 15 tháng 11, tại phiên họp Hội đồng ủy viên nhân dân, Lu-nát-sác-ski, ủy viên Giáo dục, bỗng khóc nức lên và chạy ra khỏi phòng họp, kêu to:


- Thật là quá sức chịu đựng của tôi, tôi không thể chịu được việc người ta tàn phá một cách ghê gớm những kho tàng nghệ thuật...


Chiều hôm đó, đơn xin từ chức của Lu-nát-sác-xki được đăng trên báo chí.


Những người từ Mátxcơva tới vừa cho tôi hay những sự việc xảy ra tại đó. Nhà thờ Va-xi-li và nhà thờ Út-pen-xki đang bị tàn phá. Điện Crem-li, nơi tập trung những kho tàng nghệ thuật quý giá nhất của Pê-tơ-rô-gơ-rát và Mátxcơva cũng đang bị bắn phá. Có hàng ngàn nạn nhân.


Cuộc chiến đấu diễn ra đến tột độ của sự dã man.


Rồi sẽ đi đến đâu? Còn xảy ra những gì nữa?


Tôi không thể chịu đựng được những sự việc đó nữa. Đến thế này là hết mức và tôi bất lực không ngăn cản nổi những việc khủng khiếp đó.


Những ý nghĩ đó ám ảnh tôi làm cho tôi phát điên, tôi không thể làm việc được nữa.


Bởi vậy tôi rút lui khỏi Hội đồng ủy viên nhân dân.


Tôi nhận thức rõ tất cả sự nghiêm trọng của quyết định này, nhưng tôi không thể chịu đựng được nữa...


Cũng ngày hôm đó, bạch vệ và học sinh sĩ quan trong điện Crem-li ra hàng và được phép tự do rút lui. Một bản hòa ước được ký kết như sau:


1- Ủy ban an ninh công cộng không còn tồn tại nữa.


2- Bạch vệ nộp vũ khí và tự giải tán. Các sĩ quan vẫn được giữ kiếm. Các trường chỉ giữ những vũ khí thật cần thiết cho việc huấn luyện; tất cả những vũ khí khác do học sinh sĩ quan giữ sẽ phải nộp. Ủy ban quân sự cách mạng bảo đảm tự do và quyền bất khả xâm phạm cho mọi người.


3- Việc tước vũ khí quy định trong đoạn 2, sẽ do một ủy ban giải quyết, gồm các đại biểu Ủy ban quân sự cách mạng, các sĩ quan và các tổ chức đã tham gia vào những cuộc đàm phán.


4- Ngay sau khi ký kết bản hòa ước này, hai bên sẽ lập tức ra lệnh ngừng đánh nhau và áp dụng những biện pháp cần thiết để triệt để thực hiện lệnh này.


5- Ký kết xong, tất cả các tù nhân sẽ được thả ngay tức khắc.


Những người bôn-sê-vích đã làm chủ thành phố được hai hôm rồi. Dân chúng sợ hãi bò ra khỏi các hầm nhà để đi tìm thi hài người nhà; các chướng ngại vật được phá bỏ. Nhưng đáng lẽ những tin đồn đại rằng Mátxcơva bị phá phách phải bớt đi thì trái lại, những tin đó lại ngày càng phát triển... Và cũng chính vì thế thấy những chuyện khủng khiếp đó mà chúng tôi đã quyết định đi Mátxcơva.


Dù sao chăng nữa, Pê-tơ-rô-gơ-rát cũng là một thành phố giả tạo mặc dù chính phủ đã đóng đô tại đó từ hai thế kỷ nay. Mátxcơva mới thực sự tiêu biểu cho nước Nga, nước Nga quá khứ và nước Nga tương lai; đến Mátxcơva, chúng tôi sẽ biết rõ cảm tưởng thực của nhân dân Nga đối với cách mạng, Tại đó, cuộc sống mãnh liệt hơn.


Trong tuần lễ trước, Ủy ban quân sự cách mạng Pê-tơ-rô-grát được công nhân đường sắt giúp đỡ, đã chiếm được đường Ni-cô-lai và đã phái về mạn Tây - Nam hết chuyến tàu này đến chuyến tàu khác chở đầy xích vệ và thủy thủ... Chúng tôi được Xmon-ni cấp cho giấy thông hành; không có giấy thông hành thì không ai được ra khỏi thủ đô... Khi tàu tới ga, binh lính quần áo nhếch nhác mang theo những túi lương thực to tướng, ào ào nhảy lên cửa toa, đập vỡ cả cửa kính, tràn vào trong các toa và các lối đi, leo cả lên nóc. Ba người trong bọn chúng tôi cố len vào được một ngăn toa xe, nhưng ngay sau đó thì có chừng hai chục người lính ùa vào. Mỗi ngăn như vậy chỉ có bốn chỗ ngồi. Chúng tôi không chịu và phản đối; viên xa trưởng cũng muốn bênh chúng tôi, nhưng những người lính phá lên cười. Có đâu lại phải bận tâm tới sự tiện nghi của một vài tên “tư sản”. Chúng tôi bèn giơ giấy thông hành của Xmon-ni cấp cho; lập tức những người lính đổi thái độ. Một người hô lớn;


- Thôi đi các đồng chí ơi! Đây là các đồng chí Mỹ. Họ đã vượt qua ba vạn cây số sang đây để tìm hiểu cuộc cách mạng của chúng ta. Tất nhiên là họ mỏi mệt...


Họ xin lỗi chúng tôi một cách lễ phép và thân ái, rồi rút lui. Một lát sau, chúng tôi nghe thấy tiếng họ phá cửa vào một ngăn toa xe khác trong đó có hai người Nga to béo, ăn mặc sang trọng; hai người này đã đút tiền cho viên xa trưởng và khóa trái ngăn họ ngồi lại. Vào lúc bảy giờ tối, tàu rời ga. Đoàn tàu dài lê thê do một chiếc đầu máy nhỏ bé đốt bằng củi kéo, chạy ì à ì ạch và cứ đỗ luôn. Binh lính ở trên nóc toa vừa lấy chân gõ nhịp vừa hát những bài ca nông thôn nghe rền rĩ; và trong các lối đi chật không có chỗ len chân, suốt đêm nghe thấy họ tranh luận sôi nổi về chính trị. Theo thường lệ, thỉnh thoảng viên xa trưởng lại đi qua để soát vé. Trừ chúng tôi ra, còn rất ít người có vé; viên xa trưởng loay hoay mất nửa tiếng đồng hồ chẳng ăn thua gì, và cuối cùng đành giơ tay lên trời một cách thất vọng rồi rút lui. Không khí nghẹt thở, mù khói thuốc và nồng nặc; may mà các cửa kính đã bị đập vỡ, không thì trong đêm đó, thể nào chúng tôi cũng chết ngạt.


Tàu chậm mất mấy giờ: đến sáng, nhìn ra ngoài chỉ thấy cảnh tuyết phủ bát ngát. Trời rét căm căm. Mãi trưa mới có một bà nông dân mang tới bán một thúng bánh mì và một bình nước giả cà-phê âm ấm. Ngoài ra, tới chiều cũng chẳng thấy có gì thêm; vẫn cảnh tàu chật như nêm, lúc chạy, lúc đỗ; khi tới mỗi ga đoàn người xô vào quán ăn lèo tèo, chỉ trong nháy mắt là mua hết nhẵn... Tại một ga, tôi gặp Nô-ghin và Ri-cốp, hai ủy viên bất mãn; họ về Mátxcơva để bày tỏ mối bất bình với Xô-viết của họ; tại một ga khác lại gặp bu-kha-rin, dáng người thâm thấp, râu hung đỏ, có đôi mắt đầy vẻ cuồng tín; người ta đồn rằng y còn “tả hơn cả Lê-nin”...


Mỗi khi nghe thấy ba tiếng chuông là chúng tôi ùa lên tàu, len lỏi qua những lối đi chật ních và ồn ào, thật là một đám người dễ tính, vui vẻ: họ chịu đựng những vất vả dọc đường một cách tươi tỉnh, nhẫn nại, luôn mồm bàn đủ mọi vấn đề, từ tình hình ở Pê-tơ-rô-gơ-rát tới chế độ công đoàn ở Anh, và tranh luận kịch liệt với mấy tên tư sản ở trên xe. Trước khi tàu đến Mátxcơva, tại mỗi toa tàu đã tổ chức được một ủy ban bảo đảm việc phân phối thực phẩm: các ủy ban đó trở thành những nhóm chính trị riêng rẽ và đấu tranh với nhau về những nguyên tắc cơ bản.


Ga Mátxcơva vắng tanh. Chúng tôi tới thẳng phòng giấy của ủy viên nhà ga để giải quyết vấn đề vé về. Đó là một thanh niên vẻ mặt cau có, đeo lon trung úy. Khi chúng tôi xuất trình giấy tờ do Xmon-ni cấp cho, y nổi nóng nói rằng y không phải là bôn-sê-vích mà là đại diện cho Ủy ban an ninh công cộng... Thật là đặc biệt: sau khi đánh chiếm thành phố, giữa cảnh rối loạn chung, những người chiến thắng đã quên phắt mất nhà ga chính!


Chẳng có cái xe nào cả. Đi một quãng khỏi nhà ga thấy có một cái xe trượt tuyết, người lái xe, quần áo sù cả người, ngồi ngủ trên xe. Chúng tôi đánh thức anh ta dậy:


- Từ đây vào trung tâm thành phố bao nhiêu tiền?


Anh ta gãi đầu nói:


- Các vị không thể nào tìm nổi một phòng nghỉ ở khách sạn đâu. Nhưng nếu các vị trả tôi một trăm rúp thì tôi sẽ dẫn các vị đi...


Trước cách mạng, một “cuốc” xe như vậy mất có hai rúp! Chúng tôi kêu đắt quá; anh ta chỉ nhún vai rồi nói:


- Thời buổi này, phải can trường lắm mới dám chạy xe.


Không sao làm cho anh ta hạ giá tiền xuống dưới năm mươi rúp... Trong lúc xe chúng tôi chạy qua các phố xá lặng lẽ và tù mù, anh ta thuật lại cho nghe những sự việc mắt thấy tai nghe trong sáu ngày chiến đấu:


- Tôi đang chở khách hoặc đang đỗ xe chờ khách ở góc đường, bỗng nghe đánh đoàng một cái, một quả đại bác nổ chỗ này, lại đánh đoàng một cái, một quả đại bác nổ chỗ kia, rồi thì tiếng súng máy tặc... tặc... Tôi phóng xe, lũ quỷ sứ bắn lung thiên. Cuối cùng tôi đánh xe vào được một phố nhỏ yên tĩnh và định chợp mắt một tí... Lại đoàng, tặc... tặc.. Lũ quái, lũ quỷ!


Tại trung tâm Mátxcơva, phố xá đầy tuyết như đang nghỉ ngơi tĩnh dưỡng sau một trận ốm. Chỉ có một vài ngọn đèn điện còn sáng, một vài khách bộ hành tất tưởi đi trên hè phố. Một cơn gió lạnh từ phía đồng bằng thổi về, buốt thấu xương. Chúng tôi vào khách sạn đầu tiên, trên quầy hàng thắp hai ngọn nến. Người chủ khách sạn trả lời:


- Có, chúng tôi có vài phòng rất đầy đủ tiện nghi, chỉ hiềm tất cả các cửa kính đều bị đạn bắn vỡ. Nếu các ngài không ngại gió mát...


Dọc đường Tơ-véc-xcai-a, tủ kính các cửa hàng vỡ tan tành; đạn pháo binh đào thành những hố và cày từng mảng đường lên. Khách sạn nào cũng hết chỗ, hoặc giả chủ khách sạn hãy còn sợ quá, chỉ nói được mỗi một câu: “Không, không, không có buồng! không có buồng!” Tại các đường phố chính, có những nhà băng và những hiệu buôn lớn, pháo binh bôn-sê-vích đã nã vào tứ tung. Một nhân viên làm việc trong xô-viết nói lại với tôi “Khi chúng tôi không biết rõ bọn học sinh sĩ quan và bạch vệ ở đâu thì chúng tôi bắn vào ví tiền của chúng”.


Tới Khách sạn Quốc gia, người ta xếp phòng cho chúng tôi vì chúng tôi là người ngoại quốc, mà Ủy ban quân sự cách mạng đấh bảo vệ nơi ăn chốn ở của người ngoại quốc. Viên chủ khách sạn chỉ cho chúng tôi xem những cửa sổ ở tầng thượng bị đạn bắn phá tan tành. Ông ta giơ quả đấm nói, tưởng như có những người bôn-sê-vích trước mặt: “Đồ súc vật! Rồi sẽ biết! Sẽ có ngày! Chỉ trong vài ngày nữa, cái chính phủ lố bịch của chúng sẽ sụp đổ, và rồi chúng tôi sẽ làm cho chúng điêu đứng”.


Chúng tôi ăn cơm chiều tại một khách sạn làm món ăn chay, có một tấm biển đề: “Tôi không ăn thịt ai cả!”, và trên tường treo một bức chân dung Tôn-xtôi. Ăn xong, chúng tôi bắt đầu đi tìm hiểu tình hình.


Đại bản doanh của Xô-viết Mátxcơva đặt tại phủ Thống đốc cũ; đó là một tòa nhà đồ sộ màu trắng trông thẳng ra quảng trường Xcô-bê-li-ép. Xích vệ đứng gác ngoài cổng. Lên gác bằng một chiếc cầu thang rộng rãi và trang trọng, tường xung quanh dán đầy những bản thông báo họp mít-tinh và những bản tuyên ngôn của các đảng phái chính trị. Lên tới nơi, chúng tôi đi qua một dãy phòng đợi, trần bị thủng, có treo những bức tranh khung thếp vàng phủ vải đỏ; cuối cùng, chúng tôi tới một phòng khách tráng lệ có những chiếc đèn treo bằng pha lê và những cột trên đỉnh thếp vàng. Trong phòng tiếng trò chuyện râm ran và có hai chục chiếc máy khâu đang chạy rào rào. Những súc vải lớn màu đỏ và đen trải trên sàn và trên các bàn; chừng năm chục phụ nữ đang ngồi cắt và khâu những lá cờ dùng vào tang lễ những người đã hy sinh cho cách mạng. Đau khổ đã làm đanh nét mặt của họ lại; họ ngồi làm việc, chẳng nói chẳng rằng, có nhiều chị mắt đỏ hoe... Hồng quân đã bị thiệt hại nặng trong cuộc chiến đấu vừa qua.


Rô-gốp, vẻ mặt thông minh, rậm râu, mang kính trắng mặc một chiếc áo choàng công nhân màu đen, ngồi trước bàn giấy ở một góc phòng. Ông ta mời chúng tôi sáng hôm sau cùng đi đưa đám với Ủy ban chấp hành trung ương... Ông ta cất cao giọng:


- Không thể giáo dục bất cứ một điều gì cho bọn xã hội cách mạng và men-se-vích được! Thỏa hiệp trở thành một thói quen ăn sâu vào đầu óc chúng rồi. Chúng đề nghị tổ chức tang lễ chung với bọn học sinh sĩ quan!


Một người đi ngang phòng. Anh ta mặc một chiếc áo lính rách rới và đội một chiếc sáp-ca, mặt nom quen quen. Tôi nhận ra đó là Men-sơ mà tôi đã quen trước đây ởe Bay-on (Niu Giớc-di) trong cuộc đình công ở hãng dầu Sten-đớt Oi. Anh cho biết bây giờ làm thư ký Công đoàn công nhân kim khí Mátxcơva, và trong thời gian chiến đấu vừa qua anh là một ủy viên Ủy ban quân sự cách mạng...


Anh ta vừa chỉ vào bộ quần áo xác xơ vừa nói:


- Trông tôi đây này. Tôi đang cùng với anh em ở Crem-li thì bọn học sinh sĩ quan tới đánh chiếm được lần thứ nhất. Chúng giam tôi vào hầm rồi lột áo khoác, tiền, đồng hồ và cả cái nhẫn đang đeo ở tay, đến nỗi tôi chỉ còn thế này để che thân.


Anh cho biết nhiều chi tiết về cuộc chiến đấu đẫm máu diễn ra trong sáu ngày đã chia Mátxcơva thành hai phe. Khác ở Pê-tơ-rô-grát, tại Mátxcơva, Viện Đu-ma thành phố đã đứng ra lãnh đạo học sinh sĩ quan và bạch vệ. Chính Rút-nép và tên thị trưởng Mi-no, chủ tịch Viện Đu-ma, đã chỉ huy các hoạt động của Ủy ban an ninh công cộng và của quân đội. Ri-áp-xép, chỉ huy quân sự, một người có xu hướng dân chủ, có ý không muốn chống lại Ủy ban quân sự cách mạng nhưng bị Viện Đu-ma ép buộc phải thi hành... Chính tên thị trưởng đã nhấn mạnh vào việc đánh chiếm điện Crem-li. Y nói: “Một khi các anh đến đó, chúng sẽ không dám bắn vào đâu”.


Có một trung đoàn quân thường trú, tinh thần rất kém sút vì đã lâu quân lính chẳng làm gì cả. Cả hai phe đều tìm cách tranh thủ. Trung đoàn đó bèn họp mít-tinh để định hướng hành động, cuối cùng quyết định đứng trung lập và tiếp tục hoạt động mới của họ là bán rao ở ngoài phố những ủng bằng cao su và hạt hướng dương!


Men-ni-san-xki nói tiếp:


- Điều gay go nhất là chúng tôi phải vừa chiến đấu vừa tổ chức. Bên phe địch đã có tổ chức hẳn hoi; bên này thì binh lính có Xô-viết của binh lính, công nhân có Xô-viết của công nhân... Một cuộc đấu tranh dữ dội đã diễn ra để xem ai nắm quyền chỉ huy. Có một vài trung đoàn thảo luận hàng mấy ngày liền trước khi quyết định hành động, và đến lúc đột nhiên bị bọn sĩ quan bỏ rơi thì chúng tôi không có ban tham mưu để chỉ huy tác chiến nữa...


Anh ta phác họa ra trước mắt chúng tôi những bức tranh nhỏ rất sinh động. Một hôm, trời rét và u ám, anh ta đứng ở góc đường Ni-kít-xcai-a, đạn liên thanh quét ngang phố đó. Một lũ trẻ con, sống vất vơ vất vưởng, thường đi bán báo rong, tụ tập ở đấy. Vui thích như tìm ra một trò chơi mới, chúng reo lên, và chờ cho tiếng súng thưa dần, chúng tìm cách chạy tạt ngang qua đường. Có nhiều em bị đạn chết, nhưng lũ trẻ vẫn cứ chạy qua chạy lại, cười nô thách thức nhau...


Buổi chiều, tôi đến câu lạc bộ Quý tộc; những người bôn-sê-vích ở Mátxcơva họp tại đó để nghe Nô-ghin, Bi-cốp và các ủy viên khác đã rút khỏi Hội đồng ủy viên nhân dân phát biểu. Cuộc họp tổ chức tại phòng diễn kịch, nơi các nghệ sĩ nghiệp dư dưới chế độ cũ biểu diễn những vở kịch mới nhất của thành phố Pa-ri cho các sĩ quan và các bà vàng ngọc đầy người xem. Khoảng đầu buổi họp, trí thức đến đông vì họ ở gần ngay trung tâm thành phố. Nô-ghin phát biểu và được hầu hết thính giả tán thưởng. Mãi lâu, công nhân mới tới - khu lao dôdngj ở tận ngoại ô mà tàu điện lại không chạy. Nửa đêm, nghe thấy tiếng chân họ thình thịch bước lên cầu thang, từng tốp mười người, hai mươi người. Họ là những người cục mịch, quần áo xoàng xĩnh, vừa chiến đấu ác liệt trong một tuần lễ qua và mắt đã trông thấy những đồng chí của mình ngã xuống xung quanh.


Khi cuộc họp vừa chính thức khai mạc, những lời chế giễu và những tiếng thét giận dữ nổi lên như bão táp phản đối Nô-ghin. Y ra sức thanh minh nhưng không ai chịu nghe. Y đã rời bỏ Hội đồng ủy viên nhân dân; y đã đào ngũ trong lúc cuộc chiến đấu đang gay go dữ dội. Còn về phần báo chí tư sản thì ở Mátxcơva không còn nữa; ngay cả Viện Đu-ma thành phố cũng bị giải tán rồi. Bu-kha-rin đứng dậy, dáng điệu dữ tợn, nói năng mạch lạc khúc triết, mỗi lời nói như một nhát búa giáng xuống... Bu-kha-rin nói thì họ nghe, mắt sang lên. Tuyệt đại đa số thông qua nghị quyết ủng hộ hành động của Hội đồng ủy viên nhân viên. Đó là tiếng nói của Mátxcơva...


Đêm khuya, chúng tôi đi qua những phố vắng tanh, luồn qua cổng I-bê-ri sang tới Quảng trường đỏ trước mặt Crem-li. Trong đêm tối, nhà thờ Va-xi-li vẫn đứng sừng sững với những mái tròn khum lợp hình vẩy cá sáng loáng không hề bị thương tổn gì cả... Dọc theo quảng trường lù lù những tháp và tường điện Crem-li. Trên tường thành cao chót vót lập lòe ánh lửa; đứng bên này quảng trường rộng mênh mông nghe thấy tiếng người nói lao xao vẳng sang và tiếng cuốc xẻng. Chúng tôi vượt qua quảng trường.


Đất và đá chất dưới chân tường như núi. Chúng tôi leo lên, nhìn xuống phía bên kia thấy có hai cái hố to sâu tới bốn, năm thước, dài năm mươi thước; hàng trăm binh lính và công nhân đang hì hục đào dưới ánh sáng những đống lửa to.


Một sinh viên trẻ nói với chúng tôi bằng tiếng Đức:


- Đây là hố chôn công cộng. Ngày mai chúng tôi sẽ chôn ở đây năm trăm chiến sĩ vô sản đã hy sinh cho cách mạng.


Anh ta dẫn chúng tôi xuống hố. Cuốc xẻng vung lên tới tấp, và những núi đất cứ cao dần. Không ai nói năng gì cả. Vòm trời trên đầu chúng tôi đầy sao và tường điện Crem-li cổ kính của vua chúa sừng sững đồ sộ.


Anh sinh viên nói:


- Tại chốn thiêng liêng này, nơi thiêng liêng nhất của nước Nga, chúng tôi sẽ chôn những cái gì thiêng liêng nhất của chúng tôi. Tại đây, nơi chôn các Nga hoàng cũ, Nga hoàng của chúng tôi là Nhân dân sẽ an nghỉ...


Anh ta bị đạn ở tay trong cuộc chiến đấu vừa qua và phải đeo băng quàng. Nhìn vào cánh tay bị thương, anh nói:


- Người ngoại quốc các anh khinh chúng tôi vì chúng tôi đã chịu sống dưới chế độ quân chủ thời trung cổ quá lâu. Nhưng chúng tôi thấy rằng trên thế giới này, không phải chỉ có Nga hoàng mới chuyên chế; chế độ tư bản còn tệ hại hơn, và trong tất cả các nước trên thế giới, chế độ tư bản thống trị như một tên hoàng đế. Sách lược của cách mạng Nga đã mở ra con đường đúng nhất...


Lúc chúng tôi đi, anh em công nhân ở dưới hố leo lên một cách khó nhọc, người nào người nấy mệt phờ, mồ hôi đầm đìa mặc dầu trời rét! Một toán khác từ bên kia quảng trường chạy sang và chẳng nói chẳng rằng, họ nhảy xuống hố cầm lấy cuốc xẻng tiếp tục đào... Cứ như vậy, suốt đêm có những người tình nguyện thay phiên nhau đào không nghỉ, và khi ánh mặt trời lạnh lẽo chiếu xuống quảng trường tuyết phủ đầy, cái hố công cộng rộng hoác và đen ngòm cũng vừa đào xong.


Chúng tôi thức dậy trước rạng đông và đi đến quảng trường Xcô-bê-li-ép. Phố xá tối om. Trong cái thành phố lớn này, không thấy một bóng người nào, nhưng thoáng nghe có tiếng lao xao, lúc gần lúc xa, tựa tiếng gió nổi lên. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, một tốp đàn ông và đàn bà đứng trước trụ sở Xô-viết mang những lá cờ đỏ chữ vàng: đó là Ủy ban chấp hành trung ương Xô-viết Mátxcơva. Trời sáng rõ. Tiếng lao xao lúc nãy to dần, trầm trầm, mạnh mẽ. Thành phố thức dậy. Chúng tôi đi xuôi đường Tơ-véc-xcai-a cờ bay phấp phới. Trên đường đi, có nhiều nhà thờ nhỏ đóng kín cửa tối om. Trong số đó có nhà thờ Đức bà Đồng trinh I-bê-ri, nơi các Nga hoàng trước kia thường tới thăm trước khi đến Crem-li làm lễ lên ngôi; suốt ngày đêm mở cửa và đông nghịt, nhà thờ lúc nào cũng sáng ánh nến của con chiên chiếu dọi vào các tượng thánh óng ánh vàng bạc và đá quý. Dân chúng cho hay rằng lần đầu tiên từ thời Na-pô-lê-ông tới nay, những cây nến đó mới bị tắt.


Giáo hội chính thống tẩy chay Mátxcơva, cái ổ rắn bất kính đã bắn phá điện Crem-li. Các nhà thờ tối om, lặng lẽ và lạnh lẽo; các cố đạo đã biến đâu mất cả. Không có cố đạo dự tang lễ đỏ, không làm phép thánh cho những người chết, và cũng không cầu kinh trên mồ những kẻ báng bổ thánh thần. Ti-khôn, tổng giám mục Mát-xcơ-vơ, nay mai sẽ rút phép thông công của những người Xô-viết.


Các hiệu buôn cũng đóng cửa, và các giai cấp hữu sản không ló mặt ra khỏi nhà, nhưng vì những lý do khác. Đó là ngày của nhân dân; và nhân dân đi đến đâu thì ầm ầm như sóng trào dâng...


Một dòng người cuồn cuộn kéo qua cổng I-bê-ri, và trên Quảng trường Đỏ rộng lớn đã thấy hàng ngàn chấm đen lố nhố. Trước kia mỗi khi đi ngang qua nhà thờ I-bê-ri, mọi người đều làm dấu phép. Bây giờ tôi thấy hình như không ai thèm để ý đến nó nữa...


Chúng tôi len lỏi qua khối người đông đặc tụ tập gần dãy tường Crem-li và leo lên một đống đất. Có một số người đã đứng ở đấy rồi, trong đó có Mu-ra-nốp, người lính được bầu làm chỉ huy Mátxcơva, một người to lớn và rậm râu, vẻ mặt hiền từ và dáng điệu giản dị.


Từ khắp các ngả đường có hàng ngàn hàng vạn người đổ về Quảng trường Đỏ, trông ai cũng rõ là người lao động nghèo khổ. Một đoàn quân nhạc tới cử bài Quốc tế ca. Thế là tiếng hát nổi lên, lan dần như những làn sóng, hùng tráng và trang nghiêm.


Từ trên đỉnh tường điện Crem-li rủ xuống những lá cờ khổng lồ với dòng chữ vàng và trắng: “Kính viếng hương hồn những liệt sĩ đầu tiên của cách mạng xã hội chủ nghĩa toàn thế giới” và “Tình huynh đệ giữa công nhân thế giới muôn năm”.


Một cơn gió rét tràn qua quảng trường làm những lá cờ tung bay. Từ những khu xa nhất, công nhân các xưởng máy đã kéo đến, khiêng theo thi hài của đồng chí họ. Họ đi qua cổng I-bê-ri với những lá cờ đỏ chói và những chiếc quan tài đỏ thẫm màu máu. Quan tài làm thô sơ bằng gỗ không bào và sơn đỏ, đặt trên vai những công nhân cục mịch, chân bước đi, mặt chan hòa nước mắt, theo sau có những phụ nữ, người thì thổn thức rên rỉ, người thì đờ đẫn, mặt mày nhợt nhạt. Một vài chiếc quan tài để mở, nắp quan tài khiêng theo sau; một vài chiếc khác bọc dạ thêu chỉ vàng hay bạc, hoặc trên nóc có gắn một cái mũ lính. Có nhiều vòng hoa giả dáng dấp xấu xí...


Đám tang cứ từ từ tiến về phía chúng tôi, đi đến đâu đám đông giãn ra đến đấy rồi lại khép lại ngay. Lúc này, thấy diễu qua Cổng I-bê-ri một dòng cuồn cuộn bất tận những cờ, màu đỏ từ nhạt đến sẫm, với những chữ bạc và vàng, và những băng tang thắt nút treo trên ngọn cờ; có cả một vài lá cờ của nhóm vô chính phủ, nền đen, chữ trắng. Đoàn quân nhạc cử bài Tang lễ hành khúc cách mạng, và trong tiếng hát của khối quần chúng đông đảo để đầu trần, nghe thấy tiếng khàn khàn và nghẹn ngào của những người khiêng quan tài.


Đi xen vào đoàn công nhân có những đại đội binh lính, cũng mang quan tài, rồi đến các đội kỵ binh đi nhịp bước diễu hành, các đội pháo binh với những cỗ súng phủ vải đỏ và đen, đi mãi như không bao giờ hết. Trên những cờ của họ thấy có hững dòng chữ: “Đệ tam Quốc tế muôn năm!” hoặc là “Chúng tôi muốn một nền hòa bình chân chính, toàn diện, dân chủ!”.


Khi đi tới gần hố, những người khiêng leo lên các đống đất rồi khiêng quan tài xuống hố. Trong bọn họ có nhiều phụ nữ, những người phụ nữ vô sản mập mạp thấp lùn và khỏe mạnh. Đi theo sát quan tài là những phụ nữ khác, những thiếu phụ còn trẻ, người lả đi, những bà già răn reo kêu gào như những con vật bị thương; họ muốn đi theo chồng hoặc con xuống mộ; họ giãy giụa chống lại những bàn tay thương xót ngăn giữ họ. Đó là lối yêu thương của những người nghèo.


Đám tang diễu qua quảng trường suốt cả ngày, đi từ cổng I-bê-ri tới, qua quảng trường, đi vào đường Ni-côn-xcai-a, cuồn cuộn như một dòng sông cờ đỏ mang theo những lời hy vọng và hữu nghị anh em và những lời tiên tri táo bạo, qua mặt năm vạn người đứng tại quảng trường - trước mắt công nhân toàn thế giới và trước hậu thế...


Năm trăm chiếc quan tài dần dần được đặt xuống hố. Hoàng hôn xuống. Những lá cờ vẫn tiếp tục phấp phới trước gió, nhạc vẫn cử bài Tang lễ hành khúc, và khối quần chúng vĩ đại vẫn cất tiếng hát. Trên những cành cây trụi lá treo những vòng hoa trông như những bông hoa muôn màu kỳ lạ. Hai trăm người bắt đầu xúc đất. Tiếng đất buồn bã nặng nề đổ trên những chiếc quan tài hòa cùng tiếng hát...


Đèn sáng. Những lá cờ cuối cùng diễu qua, và những người phụ nữ cuối cùng đi qua, nghẹ ngào thổn thức; đi khỏi, họ còn ngoái cổ nhìn lại một lần cuối với con mắt vô cùng thương tiếc. Dòng người vô sản từ từ rút ra khỏi quảng trường rộng lớn...


Tôi chợt hiểu rằng những con chiên nước Nga không cần tới các cố đạo để cầu kinh cho họ lên thiên đường. Họ đang xây dựng trên trái đất một đất nước còn tráng lệ hơn thiên đường nào hết, và được chết cho đất nước đó thật là vinh quang...


 


Chương mười một. Giành chính quyền


TUYÊN NGÔN VỀ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC NƯỚC NGA


Tháng 6 năm nay, Đại hội Xô - viết lần thứ nhất đã tuyên bố quyền tự quyết của các dân tộc nước Nga.


Tháng 11, Đại hội Xô - viết lần thứ hai đã hoàn toàn xác nhận và định rõ quyền không thể mất được đó của các dân tộc nước Nga.


Tuân theo ý muốn của các Đại hội nói trên, Hội đồng uỷ viên nhân dân đã quyết định lấy kỳ những nguyên tắc sau đây làm cơ sở cho hành động của mình trong vấn đề dân tộc:


1 - Các dân tộc nước Nga có quyền bình đẳng và chur quyền


2 – Các dân tộc nước Nga có quyền tự quyết, kể cả quyền được tách ra hoàn toàn và thành lập Quốc gia độc lập.


3 – Mọi đặc quyền và mọi hạn chế có tính chất dân tộc hoặc tôn giáo đều bãi bỏ.


4 – Các dân tộc thiểu số và các nhóm dân tộc sống trên đất Nga được tự do phát triển.


Các sắc lệnh chấp hành sẽ được thảo ngay sau khi thành lập Uỷ ban dân tộc.


 


Thay mặt nước Cộng hoà Nga:


Uỷ viên dân tộc


I-ô-xíp GIU–GÁT–SƠ-VI–LI XTA–LIN


Chủ tịch Hội đồng uỷ viên nhân dân


V.U-LI-A-NỐP (LÊ – NIN)


14 tháng 11 năm 1917


 


Lập tức Viện Ra -đa trung ương ở Ki-ép tuyên bố U-Cơ-ren thành nước cộng hoà độc lập, và chính phủ Phần - lan thông qua Thượng nghị viện ở Hen- xinh - pho, cũng tuyên bố độc lập. Các “chính phủ” độc lập mọc lên ở Xi- bê- ri và ở Cô-ca-dơ. ở Ba-lan, Uỷ ban chiến tranh tối cao vội vàng gọi tất cả quân đội và thiết lập một kỷ luật sắt.


 


Tất cả các “chính phủ” và các “phong trào” đó có hai điểm giống nhau là đều do các giai cấp hữu sản lãnh đạo và đều sợ và thù ghét chủ nghĩa Bôn-xê- vích.


 


Trong tình trạng rối ren lộn xộn đó, Hội đồng uỷ viên nhân dân kiên quyết xây dựng trật tự xã hội chủ nghĩa và lần lượt ban bố các sắc lệnh về bảo hiểm xã hội và quyền kiểm sát của công nhân, về các Uỷ ban ruộng đất hàng tổng. Về việc xóa bỏ các chức tước, về việc thủ tiêu các toà án cũ và thành lập các toà án nhân dân.


 


Các đoàn đại biểu lục quân và hải quan liên tiếp kéo đến mang theo những “ lời chúc tụng nồng nhiệt tới chính phủ mới của nhân dân”.


 


Một hôm, tôi trông thấy ở trước Viện Xmon- ni một trung đoàn quần áo rách rưới tả tơi ở ngoài mặt trận về. Binh lính, gầy gò và xanh xao, đứng dàn ở trước cổng lớn; họ nhìn cả về phía Viện, tưởng chừng như có Thượng đế hiện hình ở trong đó. Một vài người vừa cười vừa chỉ lên hình những con đại bàng tượng trưng cho chế độ Nga hoàng ở trên cửa chính. Các xích vệ tới đổi phiên gác. Tất cả toán lính quay lại nhìn họ một cách tò mò như khi người ta quay lại nhìn một cái gì đó mà người ta đã nghe nói tới, nhưng chưa trông thấy bao giờ. Rồi họ cười một cách đầy thiện cảm và ra khỏi hàng, đến vỗ vai xích vệ và nói với họ những lời nửa đùa, nửa khâm phục….


 


Chính phủ lâm thời không còn nữa. Ngày 15 tháng 11, trong khắp các nhà thờ ở Pê-tơ-rô-gơ-rát, số đạo không cầu kính cho Chính phủ lâm thời nữa. Nhưng như Lênin đã nói tại Uỷ ban trung ương Xô-viết toàn Nga, đây mới chỉ là “bắt đầu giành chính quyền”. Phe đối phương vẫn còn thống trị đời sống kinh tế trong nước; bị mất vũ khí, chúng bèn tổ chức phá hoại, và chúng mang hết tài năng sức lực ra – cái biệt tài sẵn có của người Nga trong việc tổ chức hànhđộng chung - để gây khó khăn trở ngaị nhằm làm cho các Xô-viết bị tê liệt và mất tín nhiệm.


 


Cuộc bãi công của công chức, sắp đặt rất chu đáo. được các nhà băng và các hãng buôn trợ cấp tiền. Mọi hành động của những người Bôn-sê-vích để chiếm lấy bộ máy chính phủ đều vấp phải một sức kháng cự mạnh mẽ.


 


Tơ-rốt-xki đến bộ Ngoại giao. Nhân viên tại đó không công nhận ông và đóng cửa phòng giấy lại, đến khi phá được cửa vào thì họ xin từ chức. Tơ-rốt-xki hỏi chìa khoá phòng lưu trữ công văn, nhưng chỉ khi đưa công nhân tới để bẻ ổ khoá họ mới chịu nộp chìa. Người ta khám phá ra rằng Nê-ra-tốp, nguyên thứ trưởng, đã chuồn từ bao giờ, mang theo những hiệp ước mật.


 


Sơ-li-áp-ni-cốp đến nhậm chức tại bộ Lao động. Trời rất rét mà chẳng có ai để đốt lửa. Trong số mấy trăm viên chức có mặt tại đó, không một ai chỉ cho ông phòng lamf việc của bộ trưởng ở đâu…


 


Bà A-lếch-xăng-đơ-ra Cô-lông-tai được cử làm uỷ viên Cứu tế xã hội ngày 13 tháng 11, khi tới chỗ làm việc đã bị toàn thể viên chức, trừ có bốn mươi người, đón tiếp bằng một cuộc bãi công. Những người nghèo ở các nhà tế bần, ở trong một tình trạng thiếu thốn khủng khiếp. Các phái đoàn những người tàn tật sắp chết đói, các đoàn trẻ mồ côi mặt mày xanh xao gầy go. đến bao vây trụ sở bộ. Bà Cô-lông-tai mắt đẫm lệ, ra lệnh giam các người bãi công cho tới khi họ trao lại chìa khoá các phòng giấy và các két bạc. Khi có chìa khoá rồi, bà mới hay rằng bộ trưởng cũ, nữ bá tước Pa-ni-na, đã mang tiền quỹ đi và từ chối không chịu hoàn lại nếu không có lệnh của Hội nghị lập hiến.


 


Tại các bộ Nông nghiệp, Tiếp tế và Tài chính cũng xảy ra những việc tương tự. Người ta ra lệnh cho các viên chức phải tiếp tục đi làm không sẽ mất việc và mất quyền hưởng hưu trí, nhưng hoặc là họ không đếnlàm việc, hoặc là họ đến để tiến hành phá hoại. Hầu hết các giới trí thức chống đối chủ nghĩa bôn-sê-vích, và Chính phủ Xô-viết không sao mộ được nhân viên mới…


 


Các nhà băng tự đóng chặt cửa, chỉ có bọn đầu cơ là vào được bằng cổng hậu. Khi các uỷ viên bôn-sê-vích tới, nhân viên dấu hết sổ sách rồi chuồn mất mang theo tiền quỹ. Tất cả nhân viên Ngân hàng Quốc gia bãi công trừ những người phụ trách kho bạc và in giấy bạc ; những người này không chịu trao tiền cho Xmôn-ni, nhưng lại dấm dúi trả những số tiền kếch xù cho Uỷ ban Cứu quốc và Viện Đu-ma thành phố.


 


Hai lần, một uỷ viên tới với một đại độ xích vệ để đòi những số tiền lớn cần thiết cho việc chi tiêu của chính phủ. Lần thứ nhất tới thì gặp một số rất đông uỷ viên Viện Đu-ma thành phố và lãnh tụ các đảng Men-sê-vích và xã hội cách mạng; chúng đưa ra những lời doạ dẫm về hậu quả của hành động uỷ viên, đến nỗi viên này phải chùm. Lần thứ hai, uỷ viên đó lại tới với một công lệnh. Ông ta đọc lệnh đó với tất cả các nghi thức, nhưng có người nhận xét là lệnh này không đề ngày tháng và không đóng dấu, và cái truyền thống tôn trọng các "văn bản chính thức" của dân Nga lại khiến ông ta phải rút lui…


 


Nhân viên nhà Ngân hàng tín dụng huỷ các sổ sách khiến mọi tài liệu về những quan hệ tài chính giữa nước Nga với các nước ngoài đều bị mất.


 


Các uỷ ban tiếp tế, nhân viên các công sở thành phố có tính chất lợi ích công cộng, hoặc không làm việc nữa, hoặc phá hoại. và khi những người Bôn-sê-vích, trước nhu cầu cấp thiết của nhân dân thành phố, muốn giúp đơc hoặc lãnh đạo các công sở đó thì tất cả các nhân viên lập tức bãI công và Viện Đu-ma tung ra tràn ngập nước Nga những điện văn tố cáo những người Bôn-sê-vích "vi phạm nền tự trị thành phố".


 


Tại các ban tham mưu, trong các phòng giấy các bộ Chiến tranh và Hải quân tại đấy có những công chức già ở lại làm việc, các uỷ ban quân đội và bộ tổng chỉ huy tìm mọi cách gây khó khăn cho công viêc của các Xô-viết, dù cho có thể phương hạ cả đến tình hình quân đội ở ngoài mặt trận. Công đoàn đường sắt chống đối và không chịu chuyên chở quan lính Xô-viết; mỗi lần lấy tàu để chở quân đội lại phải dùng tới vũ lực và bắt giam một số viên chức đường sắt, và mỗi lần như vậy, Công đoàn đường sắt lại doạ tổng bãi công để đòi thả những người bị bắt…


 


Xmon-ni rõ ràng bất lực. Báo chí nói rằng trong ba tuần nữa, tất cả các nhà máy ở Pê-tơ-rô-gơ-rat sẽ phải đóng cửa vì thiếu nhiên liệu. Công đoàn đường sắt báo là đến ngày 01 tháng 12, tàu sẽ ngừng chạy. Pê-tơ-rô-gơ-rat chỉ còn đủ lương ăn trong 3 ngày mà không còn có lương thực trở đến nữa. Ngoài mặt trận, quân lính đói dài... Uỷ ban cứu quốc và các Uỷ ban Trung ương khác gửi đi khắp nước những lời kêu gọi nhân dân đừng tuân theo những sắc lệnh của Chính phủ. Các đại xứ quán các nước đồng minh tỏ thái độ hoặc thờ ơ lạnh nhạt, hoặc thù nghịch ra mặt...


 


Báo chí đối lập, cứ cấm hôm trước thì hôm sau lại xuất hiện dưới một tên khác, không ngớt đả kích Chế độ mới bằng những lời châm biếm cay chua. Ngay cả đến tờ Đời mới cũng định nghĩa chế độ mới là “một sự kết hợp giữa chính sách mị dân và sự bất lực”. Tờ báo viết:


 


Mỗi ngày, chính phủ của các ủy viên nhân dân lại thêm lúng túng trước những nhu cầu quái ác hàng ngày. Những người bôn-sê-vích đã cướp được chính quyền một cách dễ dàng, nhưng họ không thể sử dụng được nó.


 


Bất lực không nắm được tổ chức chính quyền sẵn có, họ cũng lại không thể lập ra được bộ máy mới: bộ máy này, nếu hoạt động được trơn tru dễ dàng thì sẽ có thể thỏa mãn những yêu cầu của những thí nghiệm xã hội chủ nghĩa của họ.


 


Thực vậy, ngay mới chỉ làm công tác đảng của họ, những người bôn-sê-vích cũng đã thiếu người mà đây mứoi chỉ là công việc múa lưỡi và múa bút: vậy thì họ đào đâu ra được nhân viên cần thiết để làm những công tác chuyên môn và phức tạp của Nhà nước?.


 


Chính phủ mới cựa quậy và làm rùm beng, tung ra tràn ngập nước nga những sắc lệnh, cái nào cũng “cấp tiến” và “xã hội” hơn cái nào khác.


 


Nhưng trong cái chủ nghĩa xã hội trên giấy tờ đó – nó sẽ chỉ làm cho con cháu chúng ta ngạc nhiên – người ta không thấy có ý muốn hoặc khả năng giải quyết những vấn đề hiện tại.


 


Trong khi đó, Hội nghị thành lập chính phủ mới do Công đoàn đường sắt triệu tập, tiếp tục họp ngày họp đêm. Trước kia, hai bên đã nhất trí trên nguyên tắc về nền tảng của chính phủ mới sau này. Vấn đề thành phần của Hội đồng nhân dân đang được thảo luận và người ta đã đồng ý với nhau là bước đầu hãy thử lập một chính phủ với Tréc-nốp làm thủ tướng. Một thiểu số bôn-sê-vích quan trọng được chấp nhận vào chính phủ đó, nhưng Lênin và Tơ-rốt-xki thì bị gạt ra ngoài. Các ủy ban trung ương các đản men-sê-vích và xã hội cách mạng cũng như ủy ban chấp hành các Xô-viết nông dân, tuy rằng chống đối đến cùng “chính sách tội lỗi” của những người bôn-sê-vích, đã quyết định không ngăn cản việc họ gia nhập Hội đồng nhân dân “để chấm dứt cuộc huynh đệ tương tàn”.


Nhưng việc Kê-ren-xki đi trốn và việc các Xô-viết thu được những kết quả rực rỡ làm tình thế thay đổi. Ngày 16, trong một phiên họp của Uỷ ban trung ương Xô-viết toàn Nga, các đảng viên xã hội cách mạng cánh tả nhất định đòi những người bôn-sê-vích đứng ra thành lập một chính phủ liên hiệp gồm các đảng xã hội khác; nếu không được như vậy, họ sẽ rút khỏi Uỷ ban quân sự cách mạng và Uỷ ban trung ương Xô-viết toàn Nga. Man-kin nói:


 


- Những tin tức ở Mátxcơva, nơi mà các đồng chí của chúng tôi chết ở cả hai bên chiến lũy, bắt buộc chúng tôi một lần nữa phải đặt vấn đề tổ chức chính quyền; và không những chúng tôi có quyền mà còn có bổn phận phải hành động như vậy… Chúng tôi đã giành được quyền ngồi tại đây cùng với những người bôn-sê-vích trong Viện Xmon-ni và quyền phát biển trên diễn đàn này. Sau cuộc đấu tranh đảng phái bên trong Xmon-ni, chúng tôi sẽ bắt buộc phải chuyển sang đấu tranh công khai bên ngoài Xmon-ni nếu các anh không muốn có hòa giải… Chúng tôi phải đề nghị với nền dân chủ một thỏa hiệp có thể chấp thuận được.


 


Sau khi ngừng họp một lát để nghiên cứu tối hậu thư đó, những người bôn-sê-vích trở về chỗ với nghị quyết sau dây do Ca-mê-ni-ép đọc.


 


Uỷ ban chấp hành trung ương nghĩ rằng nên có sự tham gia vào chính phủ của đại diện mọi đảng phái xã hội họp thành các Xô-viết đại biểu công nông binh một khi họ công nhận những thành quả của Cách mạng ngày 7 tháng 11, nghĩa là chính quyền Xô-viết, các sắc lệnh về ruộng đất, hòa bình, quyền kiểm sát của công nhân và việc võ trang quần chúng công nhân.


 


Bởi vậy, Uỷ ban chấp hành trung ương quyết định tiếp tục theo đuổi những cuộc thương lượng với tất cả các đảng xã hội về vấn đề thành lập chính quyền, và nhấn mạnh rằng những điều kiện sau đây phải được dùng làm cơ sở:


 


Chính phủ chịu trách nhiệm trước Uỷ ban trung ương Xô-viết toàn Nga; Uỷ ban này sẽ được mở rộng và con số thành viên sẽ lên 150 người. Cộng với số 150 đại biểu của các Xô-viết đại biểu công nhân và binh lính, sẽ có thêm 75 đại biểu các Xô-viết nông dân hàng tỉnh, 80 đại biểu lục quân và hải quân, 40 đại biểu các công đoàn (25 đại biểu của các tổ chức liên hiệp công đoàn toàn Nga tính theo tỷ lệ đoàn viên của các tổ chức đó, 10 đại biểu của Công đoàn đường sắt và 5 của Công đoàn bưu điện), cuối cùng là 50 đại biểu các nhóm xã hội của Viện Đu-ma thành phố Pê-tơ-rô-gơ-rát. Trong chính phủ, tối thiểu một nửa số ghế bộ trưởng sẽ dành cho đảng bôn-sê-vích. Các ghế bộ trưởng bộ Ngoại giao, Nội vụ và Lao động bắt buộc phải thuộc về nhóm bôn-sê-vích. Việc chỉ huy quân đội các khu của Pê-tơ-rô-gơ-rát và Mátxcơva sẽ do các đại biểu của các Xô-viết đại biểu công nhân và binh lính Pê-tơ-rô-gơ-rát và Mátxcơva phụ trách. Chính phủ sẽ tổ chức một cách hệ thống việc võ trang quần chúng công nhân ở Ngan. Sự tham gia của Lênin và Tơ-rốt-xki xét thấy là rất cần thiết.


 


Rồi Ca-mê-ni-ép giải thích:


- Cái gọi là ”Hội đồng nhân dân” do Hội nghị đề ra sẽ gồm chừng 420 ủy viên: khoảng 150 ủy viên bôn-sê-vích, một số đại biểu của ủy ban trung ương Xô-viết toàn Nga cũ phản cách mạng, 100 ủy viên do các Viện Đu-ma thành phố bầu ra, tất cả đều là bè lũ Coóc-ni-lốp, 100 đại biểu các Xô-viết nông dân do Áp-xen-ti-ép lựa chọn và 80 đại biểu của các ủy ban quân đội cũ đã không còn đại diện gì nữa cho quần chúng binh lính. Chúng tôi từ chối không chấp nhận ủy ban trung ương Xô-viết toàn Nga cũ và các đại diện của Viện Đu-ma thành phố. Các đại biểu Xô-viết nông dân phải do Đại hội nông dân bầu ra; Đại hội này do chúng tôi triệu tập và sẽ bầu một Uỷ ban chấp hành mới. Đề nghị gạt bỏ Lênin và Tơ-rốt-xki nhằm chặt đầu đảng của chúng tôi, chúng tôi không thể chấp nhận được. Cuối cùng, chúng tôi tuyệt đối không thấy cái Hội đồng nhân dân đó là một sự cần thiết; các Xô-viết mở rộng cửa cho các đảng xã hội, và ủy ban trung ương Xô-viết toàn Nga sẽ đại diện cho các đảng đó tùy theo sự quan trọng thực sự của các đảng trong quần chúng.


 


Thay mặt nhóm xã hội cách mạng cánh tả, Ca-rê-lin tuyên bố là đảng của ông sẽ bỏ phiếu cho quyết nghị bôn-sê-vích, nhưng vẫn từ dành quyền sửa đổi một vài chi tiết, tỉ dụ quyền đại diện của nông dân, và có yêu cầu trao ghế bộ trưởng bộ Nông nghiệp cho nhóm xã hội cách mạng cánh tả. Các điều kiện đó được chấp nhận.


 


Sau đó, trong một phiên họp của Xô-viết Pê-tơ-rô-gơ-rát, trả lời câu hỏi về thành lập chính phủ mới, Tơ-rốt-xki đã phát biểu như sau:


 


- Tôi không biết một tí gì về việc này. Tôi không tham gia những cuộc thương lượng. Nhưng tôi không nghĩ rằng những cuộc thương lượng đó có thể có một tầm quan trọng lớn...


 


Đêm hôm đó một bầu không khí ngột ngạt bao trùm Hội nghị. Các đại biểu Viện Đu-ma thành phố rút lui...


 


Ngay tại Xmon-ni, trong hàng ngũ đảng bôn-sê-vích, một nhóm quan trọng chống đối chính sách của Lênin đang phát triển. Tối 17 tháng 11, phòng họp lớn chật ních và trong một bầu không khínặng trĩu phiên họp của ủy ban trung ương Xô-viết toàn Nga khai mạc. Đảng viên bôn-sê-vích La-rin tuyên bố là ngày bầu cử Hội nghị lập hiến đã tới gần và đã đến lúc phải chấm dứt chính sách khủng bố chính trị.


 


- Những biện pháp chống lại tự do báo chí phải được sửa đổi. Trong lúc đấu tranh thì những biện pháp đó có lý do của nó. Bây giờ không còn một cái gì biện hộ cho những biện pháp đó được nữa. Báo chí phải được tự do, trừ những trường hợp xúi giục phá rối trật tự và khởi loạn.


 


Giữa những tiếng huýt còi la ó nổi lên như vũ bảo Ngay từ trong đảng mình, La-rin đưa ra dự thảo nghị quyết sau đây:


 


Sắc lệnh về báo chí của Hội đồng ủy viên nhân dân bị bãi bỏ. Những biện pháp đàn áp chính trị sẽ chỉ có thể được áp dụng do quyết định của một toà án đặc biệt do ủy ban trung ương Xô-viết toàn Nga bầu ra (theo tỷ lệ sự quan trọng của các đảng có đại diện ở trong ủy ban đó). Tòa án này có quyền xét lại tất cả những biện pháp đàn áp trước.


 


Nhóm xã hội cách mạng cánh tả và kể cả một phần những người bôn-sê-vích, hoan hô như sấm dậy.


 


Thay mặt nhóm của Lê-nin, A-va-nét-xốp đề nghị hoãn vấn đề báo chí cho tới khi có một sự thỏa hiệp giữa các đảng xã hội. Tuyệt đại đa số bác ý kiến đó. A-va-nét-xốp nói tiếp:


 


- Cuộc cách mạng đang diễn ra dã không ngần ngại tấn công vào quyền tư hữu; vấn đề báo chí chính ra phải được coi như một vấn đề quyền tư hữu...


 


Rồi ông đọc nghị quyết chính thức của nhóm bôn-sê-vích:


 


Việc cấm báo chí tư sản không phải chỉ là một phương pháp đấu tranh trong thời kỳ khởi nghĩa và tiêu diệt những âm mưu phản cách mạng mà còn là một biện pháp quá độ cần thiết để thiết lập một chế độ báo chí mới; dưới chế độ đó, bọn tư bản, làm chủ những nhà in và giấy in, sẽ không thể còn là những kẻ có quyền thế vô hạn tạo ra dư luận được nữa.


 


Bây giờ, chúng ta phải tiếp tục sự nghiệp của chúng ta bằng cách tiến hành việc tịch thu các nhà in tư và các kho giấy và trao cho chính quyền Xô-viết ở thủ đô cũng như ở các tỉnh, để cho các đảng và các nhóm có trong tay những phương tiện kỹ thuật phù hợp với tầm quan trọng thực tế của những tư tưởng mà họ đại diện, nghĩa là phù hợp với số người của các đảng và các nhóm.


 


Việc khôi phục cái gọi là “tự do báo chí”, nghĩa là trao trả không điều kiện các nhà in và giấy in cho bọn tư bản, những kẻ đầu độc ý thức quần chúng, sẽ là một sự đầu hàng không thể chấp nhận được trước ý muốn của tư bản, sẽ là một sự rời bỏ một trong những vị trí quan trọng nhất của cách mạng công nông, tóm lại, là một biện pháp phản cách mạng không thể chối cãi được.


 


Bởi vậy, ban chấp hành trung ương Đảng đề nghị với nhóm bôn-sê-vích ở trong ủy ban trung ương Xô-viết toàn Nga dứt khoát bác bỏ mọi đề nghị nhằm phục hồi chế độ báo chí cũ và hoàn toàn ủng hộ Hội đồng ủy viên nhân dân chống lại những yêu sách tạo nên do những thiên kiến tiểu tư sản hoặc do sự khuất phục hèn hạ nhất trước những lợi ích của giai cấp tư sản phản cách mạng.


 


Trong khi đọc bản nghị quyết, A-va-nép-xốp luôn bị ngắt đoạn bởi những tiếng hò hét chế giễu của nhóm xã hội cách mạng cánh tả và những lời phản đối bất bình của các đảng viên bôn-sê-vích bất đồng. Ca-rê-lin chồm lên:


 


- Cách đây ba tuần lễ, nhóm bôn-sê-vích là nhóm bênh vực quyền tự do báo chí hăng nhất… Những lý lễ trong bản nghị quyết này giống hệt quan điểm của bọn Trăm Đen và những tên kiểm duyệt dưới chế độ Nga hoàng; chúng cũng đã từng nói tới những kẻ đầu độc ý thức quần chúng.


 


Tơ-rốt-xki bênh vực trong hồi lâu bản nghị quyết. Ông phân biệt báo chí trong thời kỳ nội chiến và báo chí trong thời kỳ sau thắng lợi.


 


- Trong thời kỳ nội chiến, quyền sử dụng bạo lực là của những người bị áp bức... (Tiếng la ó: Thế ai là kẻ bị áp bức bây giờ?) Chúng ta chưa hoàn toàn đánh bại những kẻ địch của chúng ta, và báo chí đối với chúng ta là một vũ khí. Trong những điều kiện đó, việc cấm báo chí là một biện pháp tự vệ chính đáng...


 


Rồi ông chuyển sang nói về vấn đề báo chí thời kỳ sau thắng lợi.


 


- Lập trường của những người xã hội trong vấn đề tự do báo chí phải phản ánh một cách đúng đắn lập trường của họ trong vấn đề tự do kinh doanh... Chính quyền dân chủ được tổ chức hiện nay ở Nga đòi hỏi phải thủ tiêu hoàn toàn sự thống trị của quyền tư hữu về báo chí, cũng như về công nghiệp... Chính quyền Xô-viết phải tịch thu các nhà in (Tiếng la ó: Hãy tịch thu nhà in báo Sự thật!).


 


“Độc quyền báo chí của giai cấp tư sản phải bị thủ tiêu, nếu không thì việc nắm chính quyền không có ý nghĩa nữa. Mỗi một nhóm công dân phải có thể nắm được các nhà in và giấy in. Hiện nay, quyền sở hữu nhà in và giấy trước tiên phải thuộc về tay công nhân và nông dân, sau đó mới thuộc về tay giai cấp tư sản, vì nó là thiểu số... Việc chính quyền chuyển qua tay các Xô-viết sẽ đưa đến một sự thay đổi triệt để về tất cả những điều kiện sinh hoạt và sự thay đổi đó tất nhiên cũng phải biểu hiện trong vấn đề báo chí... Nếu chúng ta quốc hữu hóa các nhà băng thì chúng ta có thể để cho những tờ báo của bọn tài phiệt tồn tại được không? Phải thủ tiêu báo chí của chế độ cũ. Vấn đề này phải được hiểu thật rõ một lần cho xong”. (tiếng hoan hô cùng với tiếng la ó giận dữ).


 


Ca-rê-lin bác ý kiến đó nói rằng Uỷ ban trung ương Xô-Viết toàn Nga không có quyền quyết định vấn đề quan trọng đó mà không đưa ra cho một ủy ban đặc biệt nghiên cứu, và một lần nữa y lại nằng nặc đòi quyền tự do báo chí.


Lúc này Lênin lên phát biểu, bình tĩnh, sắc mặt không thay đổi, trán nhăn lại. Ông nói chậm, chọn từng chữ, mỗi lời nói như một nhát búa giáng xuống:


 


- Cuộc nội chiến chưa kết thúc. Kẻ thù vẫn còn ở trước mặt chúng ta; bởi vậy, không thể bãi bỏ những biện pháp trấn áp nhằm vào báo chí. Những người bôn-sê-vích chúng ta vẫn luôn luôn nói rằng khi nào chúng ta đã nắm được chính quyền thì chúng ta sẽ thủ tiêu báo chí tư sản. Để cho báo chí tư sản tồn tại tức là không còn là người xã hội chủ nghĩa nữa. Làm cách mạng không thể chần chừ được, phải luôn luôn tiến lên phía trước, nếu không sẽ lùi về phía sau. Kẻ nào nói tới tự do báo chí là lùi về phía sau và cản chúng ta tiến bước tới chủ nghĩa xã hội.


 


“Chúng ta đã vứt bỏ ách tư bản cũng như trước kia cuộc cách mạng lần thứ nhất đã vứt bỏ ách Nga hoàng. Nếu cuộc cách mạng lần thứ nhất cấm báo chí bảo hoàng là đúng, thì chúng ta cấm báo chí tư sản là đúng. Không thể tách vấn đề tự do báo chí khỏi những vấn đề khác của cuộc đấu tranh giai cấp. Chúng ta đã hứa thủ tiêu các tờ báo đó và chúng ta đã làm như vậy. Tuyệt đại đa số nhân dân tán thành chúng ta.


 


“Giờ đây, cuộc khởi nghĩa đã kết thúc, và chúng ta không hề có ý muốn thủ tiêu báo chí của các đảng xã hội khác, trừ trường hợp những tờ báo đó xúi giục khởi loạn vũ trang hoặc bất phục tùng chính quyền Xô-viết.


 


“Tuy nhiên, chúng ta sẽ không cho phép các báo đó viện cớ tự do báo chí xã hội chủ nghĩa, để giành cho mình độc quyền nhà in, mực in, giấy in với sự giúp đỡ trá hình của giai cấp tư sản. Các công cụ này đã trở thành tài sản của chính quyền Xô-viết và phải được phân phối trước tiên giữa các đảng xã hội, theo tỷ lệ số đảng viên của các đảng đó”.


 


Sang phần biểu quyết. Nghị quyết của La-rin và của nhóm xã hội cách mạng cánh tả bị bác với 22 phiếu thuận và 31 phiếu chống.


 


Nghị án của Lênin được thông qua với 34 phiếu thuận và 24 phiếu chống. Trong phe thiểu số có các đảng viên bôn-sê-vic Ri-a-da-nốp và Lô-dốp-xki; họ tuyên bố là không thể bỏ phiếu ưng thuận bất cứ một hạn chế nào đối với quyền tự do báo chí.


 


Sau cuộc biểu quyết này, nhóm xã hội cách mạng cánh tả tuyên bố là họ không còn chịu trách nhiệm về những việc đang tiến hành nữa; họ rút khỏi Uỷ ban quân sự cách mạng và từ bỏ tất cả những chức vụ quan trọng khác mà họ đang đảm nhiệm.


 


Năm ủy viên Hội đồng ủy viên nhân dân là Nô-ghin, Ri-cốp, Mi-li-u-tin, Tê-ô-đô-rô-vich và Sơ-li-áp-ni-cốp từ chức và ra bản tuyên bố sau đây:


 


Chúng tôi tán thành một chính phủ xã hội gồm mọi đảng phái xã hội. Chúng tôi cho rằng chỉ có một chính phủ như vậy mới có thể củng cố được những thành quả do giai cấp công nhân và quân đội cách mạng đã đạt được trong những ngày anh dũng tháng 11. Ngoài giải pháp đó ra, chúng tôi chỉ nhìn thấy có một khả năng là duy trì một chính phủ hoàn toàn bôn-sê-vích bằng chính sách khủng bố chính trị. Hội đồng ủy viên nhân dân đã đi vào con đường đó. Chúng tôi không thể và cũng không muốn đi theo họ. Chúng tôi nghĩ rằng con đường đó sẽ đẫn tới sự loại trừ ra khỏi đời sống chính trị những tổ chức vô sản lớn, thiết lập một chế độ vô trách nhiệm và đưa cách mạng và nước nhà tới chỗ tiêu diệt. Không thể chịu trách nhiệm về một chính sách như vậy, chúng tôi xin từ chức ủy viên nhân dân trước ủy ban trung ương Xô-viết toàn Nga.


 


Một số ủy viên khác, tuy không từ chức, cũng ký vào bản tuyên bố trên; đó là: Ri-a-da-nốp; Đéc-bi-sép, ủy viên báo chí; Ác-bu-dốp, ủy viên Nhà in Quốc gia; I-u-rê-ni-ép, ủy viên đội Xích vệ; Phê-ô-đô-rốp trong bộ Lao động; và La-rin trưởng ban công tác lập pháp.


 


Đồng thời, Ca-mê-ni-ép, Ri-cốp, Mi-li-u-tin, Di-nô-vi-ép và Nô-ghin rút lui khỏi Ban chấp hành trung ương Đảng bôn-sê-vích và công bố những lý do sau đây:


 


Chúng tôi nghĩ rằng thành lập một chính phủ như vậy (gồm tất cả các đảng xã hội) là cần thiết để tránh một cuộc đổ máu mới, tránh nạn đói đe dọa, ngăn ko cho Ca-lê-đin tiêu diệt cách mạng, và đảm bảo cho Hội nghị lập hiến họp đúng thời gian đã định, đồng thời đảm bảo việc thi hành chương trình hòa bình đã được Đại hội Xô-viết toàn Nga lần thứ hai của các đại biểu công nhân và binh lính chấp nhận.


 


Chúng tôi không thể nào chấp thuận chính sách tai hại của Ban chấp hành trung ương, chính sách chống lại ý nguyện của đại đa số giai cấp vô sản và binh lính là những người mong muốn hòa bình giữa các nhóm khác nhau của nền dân chủ, và không muốn có đổ máu nữa. Bởi vậy, chúng tôi từ bỏ chức ủy viên trung ương để được quyền nói ý kiến của chúng tôi với quần chúng công nhân và binh lính.


 


Chúng tôi rời Ban chấp hành trung ương giữa lúc thắng lợi, giữa lúc đảng của chúng tôi lên nắm chính quyền. Bởi vì chúng tôi không thể chịu đựng được lâu hơn nữa và đứng nhìn chính sách của những người lãnh đạo trong Ban chấp hành trung ương dẫn chúng tôi đến chỗ mất những thành quả của thắng lợi và đến chỗ tiêu diệt giai cấp vô sản.


 


Quần chúng công nhân và binh lính thường trú băn khoăn lo ngại và cử các đoàn đại biểu tới Xmon-ni và tới Hội nghị thành lập chính phủ mới; sự chia rẽ trong hàng ngũ những người bôn-sê-vích đã làm cho Hội nghị này mát dạ hả lòng vô cùng.


 


Nhưng nhóm của Lênin trả lời tức khắc và quyết liệt. Sơ-li-áp-ni-cốp và Tê-ô-đô-rô-vich tuân theo kỷ luật của Đảng và trở lại chức vụ cũ. Ca-mê-ni-ép bị cách chức chủ tịch Uỷ ban trung ương Xô-viết toàn Nga và Xvéc-lốp được cử lên thay thế. Di-nô-vi-ép bị cất chức chủ tịch Xô-viết Pê-tơ-rô-gơ-rát. Sáng ngày 20, tờ Sự thật đăng một bản tuyên bố nghiêm khắc gửi nhân dân Nga do Lênin thảo ra; bản này được in ra hàng chục vạn tờ, dán khắp các tường và phân phát khắp nước Nga:


 


[b]Đại hội Xô-viết toàn Nga lần thứ hai đã dành đa số cho Đảng bôn-sê-vích cho nên chỉ có một chính phủ do đảng đó lập ra mới có thể là một chính phủ Xô-viết. Mọi người đều biết rằng một vài giờ trước khi lập chính phủ mới và trước khi đưa danh sách các thành viên chính phủ này trước Đại hội Xô-viết toàn Nga lần thứ hai, Ban chấp hành trung ương Đảng bôn-sê-vích đã mời ba người trong số những đảng viên quan trọng nhất của nhóm xã hội cách mạng cánh tả là các đồng chí Cam-cốp, Xpi-rô và Ca-rê-lin và đã đề nghị họ tham gia chính phủ mới. Chúng tôi vô cùng tiếc rằng các đồng chí xã hội cách mạng đó đã từ chối, chúng tôi cho rằng những người cách mạng và những người bênh vực quyền lợi giai cấp công nhân mà hành động như vậy thì không thể chấp nhận được; chúng tôi luôn luôn sẵn sàng chấp nhận nhóm xã hội cách mạng cánh tả vào trong chính phủ nhưng chúng tôi tuyên bố rằng với tư cách là một đảng của đa số trong Đại hội Xô-viết toàn Ngan lần thứ hai, chúng tôi có quyền và có nhiệm vụ đối với nhân dân đứng ra lập chính phủ.


 


Các đồng chí! Hôm qua, ngày 17 tháng 11, một vài ủy viên trung ương trong đảng chúng tôi và trong Hội đồng ủy viên nhân dân là Ca-mê-ni-ép, Di-nô-vi-ép, Nô-ghin, Ri-cốp, Mi-li-u-tin, và một vài người khác đã rút khỏi Ban chấp hành trung ương và ba người có tên cuối cùng trên đây đã rút khỏi Hội đồng ủy viên nhân dân.


 


Các đồng chí rời bỏ chúng tôi đã hành động như những kẻ đào ngũ bởi vì không những họ đã bỏ nhiệm vụ giao pớo cho họ mà còn vi phạm những chỉ thị của Ban chấp hành trung ương đảng chúng tôi. Theo những chỉ thị đó thì trước khi rút lui, họ phải chờ quyết định của các tổ chức đảng ở Pê-tơ-rô-gơ-rát và Mátxcơva.


 


Chúng tôi tuyệt đối lên án việc đào ngũ đó. Chúng tôi tin tưởng một cách sâu sắc rằng tất cả những người công nhân, binh linh và nông dân giác ngộ ở trong Đảng hoặc có cảm tình với Đảng, cũng lên án hành vi của những kẻ đào ngũ.


 


Các đồng chí hãy nhớ lại rằng Ngay trước cuộc khởi nghĩa của Pê-tơ-rô-gơ-rát, hai kẻ trong bọn đào ngũ này là Ca-mê-ni-ép và Di-nô-vi-ép đã hành động như những tên đào ngũ và những tên phá hoại các cuộc đình công, bởi vì không những họ đã biểu quyết chống khởi nghĩa tại phiên họp quyết định của Ban chấp hành trung ương ngày 23 tháng 10 mà ngay cả sau khi Ban chấp hành trung ương đã quyết định rồi, họ vẫn tiếp tục vận động chống khởi nghĩa trong công nhân. Sự phấn khởi mãnh liệt của quần chúng, sự anh dũng cao cả của hàng triệu công nhân, binh lính và nông dân ở Pê-tơ-rô-gơ-rát và Mátxcơva, ở mặt trận, ở các chiến hào và làng xã, lúc đó đã quét sạch bọn đào ngũ như một đoàn tàu quét sạch rác rưởi trên đường đi.


 


Những kẻ kém tin tưởng, những kẻ do dự, hoài nghi, những kẻ run sợ trước giai cấp tư sản hoặc những kẻ đầu hàng trước những tiếng hò la của bọn đồng lõa trực tiếp hay gián tiếp của giai cấp đó, chúng ta hãy bỏ mặc chúng với sự sỉ nhục. Quần chúng công nhân và binh lính ở Pê-tơ-rô-gơ-rát, Mátxcơva và ở các nơi khác không hề do dự.


 


Chúng ta sẽ không chịu khuất phục trước những tối hậu thư của những nhóm trí thức: đứng sau bọn này không phải là quần chúng là chỉ là bọn Coóc-ni-lốp, bọn Xa-vin-cốp, bọn học sinh sĩ quan và đồng bọn…


(còn tiếp)


Nguồn: Mười ngày rung chuyển thế giới (Ten Days that Shook the World). Ký của John Reed (John "Jack" Silas Reed). Đặng Thế Bình và Trương Đắc Vỵ dịch. NXB Văn hóa, 1960. NXB Văn học, 10-1977.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »