tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
16.07.2014
Nguyễn Quyết Thắng
Dầu khí và Tôi

Hồi ký “Dầu khí và Tôi” của Nguyễn Quyết Thắng, cựu sinh viên Trường ĐH Dầu khí Rumani, khóa 1966-1972. Tập hồi ký đã phác họa lại chân dung và hoàn cảnh sống thật của một con người, đại diện cho thế hệ những người đã từng đi du học ở Rumani, các nước khác,… trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước, trở về tham gia xây dựng đất nước. Dù cuộc đời nhiều dâu bể, anh Thắng vẫn rất yêu đời, hăng say làm việc và trở thành chuyên gia nhiều kinh nghiệm trong ngành dầu khí, thành nhà thơ của 4 tập thơ Lời biển, Phù sa, Ngàn mâyCúi xuống bầu trời do Nhà xuất bản Văn học ấn hành. Đọc tập hồi ký, chúng ta cũng có thể hình dung ra phần nào quá trình lịch sử phát triển đầy gian khó và hết sức vinh quang của ngành Dầu khí Việt Nam.


1. VÀO NGHỀ


        Tôi đâu có ý định vào cái nghề lạ hoắc này. Hồi đó, trước khi tốt nghiệp cấp 3 (năm 1966), thầy dạy văn và chủ nhiệm tôi suốt ba năm đã nhất nhất bắt tôi ghi vào nguyện vọng 1 vào Khoa Văn, Đại học Tổng Hợp do thành tích đợt thi HSG Văn Toàn Miền Bắc của tôi trước đó. “Nguyện vọng 2 thế nào tùy cậu, nhưng nguyện vọng 1 cứ phải viết thế cho tôi!”, ông buông một câu ngắn gọn và đầy chất tướng lĩnh như vậy. Và vì thế, lẽ đương nhiên, cái ước mơ thời thượng cháy bỏng của tôi hồi đó – Tự động hóa – đành phải dời vị trí xuống hàng đệ nhị. Nhưng rồi con tạo vần xoay, đùng một cái tôi nhận được Giấy Triệu tập đi học nước ngoài (khu vực RM) của Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp. Trường “Phượng Hoàng đỏ” (Trường Cấp 3 Đan Phượng, Hà Tây) của chúng tôi có bốn tên được lệnh trát như thế, gồm: Trịnh Minh Hùng, Nguyễn Đăng Liệu, Nguyễn Vinh Quang và tôi. Quang có bố làm Thứ trưởng một Bộ hoành tráng đã kịp đổi sang học Vật Lý Nguyên Tử, ĐH Minsk. Ba đứa chân chì còn lại chúng tôi phó thác cho số phận,, xình xịch theo chuyến tàu xuyên Bắc Kinh, Mãn Châu Lý, Siberia, Moscow, Kiev và dừng lại ở thủ đô Bucuresti của đât nước Romania sau 13 ngày đầy phấn khích. Không biết do tình cờ hay do sự phân công của tổ chức, ba đứa tôi được phân theo ba ngành: tôi học Địa chất dầu khí, Liệu học Địa Vật lý còn Hùng học Khoan. Cả lũ chưng hửng. Chỉ có Liệu là khoái vì được học ngành Vật Lý Địa Cầu (hồi ấy tra từ điển thấy gọi là như thế). Còn bọn Hùng Béo và Giao Béo và mấy đứa học Khoan mãi về sau vẫn cứ giấu ngành học, nói chệch thành Chi đoàn Cơ Khí cho oai chứ chẳng bao giờ tiết lộ với người nhà, nhất là với lũ con gái ngành học của mình.Sau này tôi mới biết IPGG và Polytechnic là hai trường đại học khó nhất ở Romania. Những người không học nổi ở trường Dầu có thể chuyển sang các trường khác học những nghề hay và nhàn hạ hơn nhiều.


Tuổi trẻ háo hức, đầy trách nhiệm và thời sinh viên tuyệt đẹp cũng qua nhanh.Năm 1972,chúng tôi trở về Tổ quốc trên còn đường sắt liên vận xưa sau 6 năm trời xa cách. Sáu năm trời, đó là thời kỳ Chiến tranh leo thang miền Bắc diễn ra vô cùng ác liệt. Ngay cả khi về tới gần biên giới Việt –Trung, chúng tôi phải dừng lại ở Bằng Tường để chuyển sang xe ô tô tải qua Lạng Sơn về Hà Nội trong đêm lập lòe pháo sáng.Hạnh phúc gặp lại những người thân, hạnh phúc được trở về cống hiến sức mình cho tổ quốc cứ rạo rực, mê say suốt một thời trai trẻ.Tháng bảy trở về. Hai tháng sau cả lũ nhận Quyết định điều động của Tổng Cục Địa Chất (TCĐC) hăm hở đạp xe rời Hà Nội về nhận công tác tại Liên Đoàn 36, Hưng Yên. Khi qua phà Khuyến Lương, Đăng Liệu nhìn cảnh sông nước hữu tình bèn thốt lên: “Sau này dứt khoát tao đặt tên con là Khuyến Lương” (nhưng không ngờ Lương lại là em Khánh,  vợ tương lai của hắn, nên lời nguyền kia chỉ còn phân nửa. Và thế là thằng Măng con hắn có tên chữ là Khuyến Nguồn); rồi qua Từ Hồ, gần quê hương cụ lang Hanh nổi tiếng, Hùng Béo cũng đế tiếp: “Con tao sẽ là Trịnh Từ Hồ”.Tuy nhiên thằng cha này đã bước qua lời nguyền, khi hỏi lại hắn chỉ cười hềnh hệch.Cứ thế, chúng tôi tới Bô Thời, Chợ Gạo mà chẳng hề thấm mệt. Tới ngã ba gần thị xã Hưng Yên, hỏi thăm thì ra đại bản doanh của LĐ 36 nằm bên trái, trên đường đi Hải Dương. Những ngôi nhà toác-xi (tường liếp nan tre trát vôi cát) mái lợp lá mía xếp thành 4 dãy chạy dài theo những bóng cây phi lao thẳng tắp, im lìm. Bên này đường, mấy căn nhà ngói khang trang hơn, khuất sau rặng nhãn, cửa đóng then cài.Sau này tôi mới được biết là Khu Chuyên Gia. Người bảo vệ cho chúng tôi biết Liên đoàn đã sơ tán về Ngọc Trúc. “Các anh cứ đạp xe theo hướng này, tới Phố Rác hỏi thăm đoàn Địa chất là người ta chỉ cho. Nhớ tìm nhà ông Khiết Tổ chức nhé” . Anh ta rít mạnh chiếc điếu cày, hất đầu sang phải dứt khoát rồi phả ra một làn khói hả hê, nhìn chúng tôi đầy kẻ cả. Lại đạp xe tiếp. Chợt nhận thấy một tên gù lưng trên xe cuốc phía trước, liền bắt chuyện, hỏi thăm. Hóa ra hắn cũng có cùng mục đích.“Ông tên gì? Học ở đâu về đấy?” .Hắn bô bô:“ Quyết, Nguyễn Văn Quyết, Bacu. Còn ông?”, ” Thắng, Quyết- Thắng, ngon rồi!”. Đấy là lần đầu tiên tôi gặp Quyết Toác.Thế là cả lũ hò reo và lao tiếp về phố Rác. Trời đã nhá nhem tối, cũng may cửa hàng ăn phố Rác vẫn le lói đèn dầu.Bữa cơm “gạo mậu dịch” với mấy miếng đậu kho đạm bạc, chớp nhoáng của mấy gã trai tơ chưa hề vướng bận sao vui và ngon thế. Rồi hỏi thăm đường vào làng Ngọc Trúc. Qua mấy bờ ao lắt léo, đầy gai tre, cuối cùng chúng tôi cũng gặp được ông trưởng phòng Tổ chức để nộp Quyết định điều động ký bởi Tổng Cục phó Trần Tề. “Ở đây không có chỗ ở, các cậu trở về Chợ Gạo nhận giường ngủ tạm nhé. Uống chén nước chè xanh đã rồi đi cho đỡ mệt”, sau khi kết thúc thủ tục trang nghiêm, ông ân cần nói với lũ ngẩn ngơ chúng tôi như thế.


Chúng tôi trở về Chợ Gạo, một trong những nơi phát tích còn được lưu trong bộ nhớ bao người trong một đêm thu như vậy. Những tên tuổi như Liên đoàn trưởng Vũ Bột , LĐP Phan Minh Bích, Bùi Đức Thiệu , rồi Nguyễn Giao, Hồ Đắc Hoài, Nguyễn Quang Hạp, Tăng Mười v.v. đã có từ thời ấy. Ở Chợ Gạo ít ngày thì nhận được quyết định tiếp theo của Liên Đoàn. Tôi được điều về Đoàn 36K( Khoan), Hùng Béo về Đoàn 36 S ( Khoan sâu) Thái Bình, Liệu về 36F (Fản xạ) Cẩm Giàng, Giao Béo láu cá khai mắt cận thị được điều động về làm “Giáo sư trường Sỹ Quan Tân Cầu”( tên anh em thường đùa gọi Trường CNKT Dầu Khí thuở sơ khai là như thế).Sau này chúng tôi mới được biết có một cánh quân khác trong đó có cả mấy thằng cùng lớp đã nhạy bén thời cuộc, bí mật đầu quân cho Tổng cục Hóa Chất, trở thành những thành viên sáng lập ra Ban Hóa Dầu do anh Nguyễn Đông Hải làm thủ lĩnh. Mãi sau này, tới khi gặp nhau tại Đề án sử dụng khí nông Xuân Thủy, nhìn thấy thằng bạn mặt dài Phạm Ngọc Chấp, cán bộ Ban Hóa Dầu từ Hà nội xuống, cả lũ mới “ồ, ra thế!” . Lớp G-160 của chúng tôi có 5 thằng , hóa ra cuối cùng chỉ có Lanh và tôi là thật thà “phục tùng sự phân công của tổ chức” xuống Thái Bình.


2. XUỐNG THÁI BÌNH


       Thế là “tan đàn sẻ nghé”, mỗi đứa một nơi. Đạp xe về thăm nhà, biếu bà và bố mẹ được cân đường mua theo tiêu chuẩn tem phiếu rồi buộc một ba lô lương thảo, tôi và mấy đứa bạn bè nhằm Thái Bình thẳng tiến. Đi từ sáng theo đường Phủ Lý, Nam Định, song khi qua được Phà Tân Đệ cũng đã 9 giờ tối.Tầm tã dưới trời mưa, sấm chớp nhằng nhịt, vừa đi vừa í ới gọi nhau cho khỏi lạc. Tới thị xã Thái Bình, rẽ phải qua bệnh viện Việt nam- Bulgaria, chúng tôi về tới Đoàn 36K, Chợ Đậu Thái Bình đã quá 10 giờ tối. Đói, mệt, lạnh vì ngấm nước mưa.Chẳng còn nhớ cái dạ dày lép kẹp ấy được an ủi bằng những vật liệu gì, chỉ biết rằng đêm đó tôi ngủ say như chết…


Tôi được điều về Giếng khoan 36, Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình do anh Thuần làm đội trưởng.Tổ Kỹ thuật gồm 6 người: 2 kỹ sư mới tốt nghiệp ĐH Mỏ-Địa chất (Chiến; Cung); 3 trung cấp địa chất (Hạnh, Thu, Sâm) và tôi. Anh Nguyễn Tiến Hạnh làm Tổ trưởng,chịu trách nhiệm mọi mặt từ mô tả, lấy mẫu gửi phân tích đến tổng hợp báo cáo. Tất cả lực lượng còn lại theo ca, bốc và chuyên chở mẫu về kho; đo các thông số.. Hồi ấy khoan cấu tạo có độ sâu hầu hết khoảng 1200m.Lấy mẫu 100% từ mặt đất tới đáy giếng. Mẫu có đường kính to như cái phích đựng nước. Chỉ cần xếp 2 thùng mẫu thôi cũng đủ cho 2 người trẻ tuổi thở tới mang tai khi kéo được xe mẫu về kho chứa. Cứ hết đợt lấy mẫu này lại tiếp đợt lấy mẫu khác. Ống mẫu không hom khi tính toán đã nuốt vào lòng gần hết chiều dài lập tức được ngừng bơm dung dịch để khoan khô. Mười centimet khoan khô này sẽ làm thành cái nút đảm bảo giữ an toàn cột mẫu trên khi kéo cần. Và rồi ống mẫu lửng lơ, hai gã thơ khoan lực lưỡng thi nhau đập, cho tới khi nghe tiếng “òng ọc” thân quen vọng ra trước khi làm sàn khoan tung tóe những bùn. Cảnh tượng không khác gì trâu…ỉa.“Địa chất đâu! Hót ngay!”.Bọn thằng Bá, thằng Lược thợ khoan cười khoái trá.Chúng tôi hì hục rửa, xếp mẫu theo thứ tự và ghi etiket. Việc mô tả “phớt lục phớt hồng, đôi chỗ xen kết hạch sidêrit..” v.v. đã có anh Hạnh lo, chúng tôi không được chạm vào.Cấm kỵ.Việc của đám kỹ sư trẻ chúng tôi là bốc mẫu lõi, lấy mẫu sà-lam (mẫu vụn) và thỉnh thoảng nhìn máng dung dịch, ngó nghiêng vào giếng khoan ghi ghi chép chép đường kính bọt khí xuất hiện. Trong lúc chuẩn bị tiếp cần lại sử dụng “thiết bị” đo mực nước thủy tĩnh ( tự chế bằng lon sữa bò “Mộc Châu”, khoét hẳn một bên nắp, còn phía đáy bên kia đục thủng một lỗ nhỏ xíu, luồn qua một sợi dây lấy từ bao xi măng nối dài tùy ý). Đơn giản vậy song cái thiết bị Made in Vietnam ấy công hiệu vô cùng, vì chỉ cần nghe tiếng “bộp!” vọng từ giếng lên khi ống bơ chạm nước là ta có ngay Mực nước thủy tĩnh rồi!


Đội Carotaj (ĐVLGK) do anh Đoàn Thám làm đội trưởng hồi đó được trang bị trạm đo di động lắp trên xe, oách và cơ động lắm. Có một lần khi nhìn cái thiết bị đo bán tự động kia run run vạch một đường điện trở thẳng tuột qua chiều sâu gần hai mươi mét than vừa lấy mẫu tôi đã không chịu và cự lại  người đứng máy.. Trạm trưởng Phạm ngọc Diến liếc cột địa tầng thực tế, ngượng nghịu nhìn cái “thiết bị phản trắc” kia rồi cầm bút chì vạch một đường cong to, dài đầy tin tưởng. Anh nheo mắt cười: “Thế là xong, tài liệu khớp không chê vào đâu được!”


Thỉnh thoảng được nghỉ bù, tôi lại đạp xe từ Tiền Hải về quê. Gần 150km, chuyện vặt nếu như xe không bị thủng lốp dọc đường. Thường tôi đi lối Triều Dương, qua thị xã Hưng Yên, Bô Thời rẽ qua đò Vườn Chuối sang Thường Tín rồi đạp thẳng về Hoài Đức quê tôi. Có lần tôi suýt chết. Nếu cứ đi theo lối Ngã tư Canh như cũ, chắc chắn tôi đã dính trận bom B52 điên cuồng thả bom xuống làng Thìa Yên Bệ. Hơn 60 người chết.Nhà cửa, cây cối tan hoang. Mấy ngày sau thấy mùi hôi thối còn phát hiện ra những xác người, xác trâu bò bị vùi lấp. Hôm ấy trời xui đất khiến thế nào tôi lại đi theo đường An Khánh. Khi hàng lọat B52 nhào qua đầu, tôi chỉ kịp quẳng xe nhào xuống con mương gần đó. Bom ầm ầm trước mặt, cách nơi tôi chỉ vài km. Nghe nói có cuộc họp của Trung Ương dự kiến ở Yên Bệ hôm đó, may nhờ có tin tình báo nên kịp hoãn. Đó là những ngày cuối năm 1972. Cùng năm ấy Hùng Béo lấy vợ. Đầu năm sau (Quý Sửu ) Đăng Liệu cũng làm cái việc “tầy đình” tương tự. Còn lại một mình tôi sống cảnh trai tân lêu lổng cho mãi tới  gần bảy năm sau.


Ngày lại ngày thoảng trôi, tôi cứ lặp đi lặp lại những công việc đơn điệu vô tận như thế với những lần bốc mẫu, những ca đêm áo bảo hộ dính bùn, chân đi ủng, ngả lưng trên chiếc máy bơm dự phòng, mũ nhựa úp lên mặt che muỗi và ánh điện, mặc kệ cho tiếng máy bơm ầm ầm bên tai, cứ thế “tẩm bổ mắt” cho tới khi ống mẫu được kéo lên.Và “chát!chát!”.Rồi“ọc! ọc!”. Tôi vội chồm lên. Công đoạn “bốc cứt trâu” như ngôn từ của lũ khoan hay nói kia lại bắt đầu. Dưới ánh đèn pha, âm thanh và cảnh nhầy nhụa của khoan trường mới thấy cách ví von kia thật khéo. Nói thế thôi, từng ấy thời gian ở khoan trường, tôi cũng học được nhiều thứ, nhìn thấy nhiều điều; cả điều hay lẫn điều bậy bạ. Gần đó có gã Lạp Điên lực lưỡng, khỏe như trâu, thường trần truồng vượt sông Hồng sang Xuân Thủy giữa mùa đông giá rét rồi lại quay về bờ Tiền Hải, cười hềnh hệch, vô tư. Đám thợ khoan ranh ma tận dung phần cơm độn ngô thừa cho Lạp ăn no rồi sai hắn vác hết đất sét từ xe tải bỏ vào cối dung dịch gần đó. Hắn cười, nhe hàm răng trắng tởn rồi hì hụi làm, không cần người hối thúc.Có lần Thu, Sâm bị bọn khoan lừa gọi ra nhận thư nhà, trông thấy “giống má” ấy thét toáng lên rồi bỏ chạy.Nhà tôi trọ ở liền kề khoan trường. Suốt ngày đêm nghe tiếng ầm ầm của máy, tiếng ông ổng của thợ, tiếng chan chát của kim loại va chạm. Đôi khi trong đêm còn nghe cả tiếng lè nhè, não nuột của mấy gã thợ khoan “đạo” Bài ca đường 9 ”Ai chả biết chồng cô đi bộ đội vào Nam, ai chả biết là cô mua cái xe Phượng Hoàng…”.Nhưng về sau, những âm thanh hỗn độn ấy đã hóa thành một thứ không thể thiếu trước khi tôi bước vào giấc ngủ. Thời gian rảnh, bọn tôi, Chiến và Tào địa hóa từ Chơ Đậu xuống lại chơi Remi hoặc đi chợ Mèn “đập phá” nửa ký cá khoai hoặc vài cân cá đuối rẻ tiền, kiếm thêm ít lá lốt mọc ngòai bụi tre về nấu canh chua thù tạc cùng ông chủ Kim. Một thời sống giữa lòng dân vô tư, say khướt. Ôi, cái xứ cói của những người dân quê gọi mẹ bằng “bầu”, cỗ bàn nhất thiết phải có bí ngô và mọi thứ kể cả lúa ngô, phân bón đều được vận chuyển bằng đầu này, chẳng hiểu sao tới giờ tôi mãi nhớ. Cả những lần về Giao An (Xuân Thủy) , sang Hồng Tiến hoặc Quang Bình ( Kiến Xương), thấy bạn bè xăm xăm mang chậu ra ao múc một chậu nước đục ngầu phù sa, nhặt lên những cánh bèo tấm, bỏ mấy con hến vào trong đó rồi giải thích: “Yên tâm, chỉ nửa tiếng nữa là cỗ máy lọc nước này sẽ làm cho nước trở thành trong vắt, tha hồ nấu cháo, pha trà nhé!” mà cứ thấy bâng khuâng. Tôi nhìn các bạn tôi, những chàng kỹ sư trẻ, học hành tử tế, đào tạo bài bản cả trong nước lẫn nước ngoài, bao năm hì hục đắp nền khoan hoặc làm những công việc đơn giản như chưa bao giờ giản đơn hơn thế mà cứ se lòng.Người ta nói đó là“rèn luyện ý thức lao động, quan điểm lao động”.Nói rất hay. Người ít học hoặc kẻ trí trá, cơ hội đều có thể sang sảng thuyết giáo và thăng tiến. Một lần Hùng Béo khênh xi măng sơ ý đánh rơi liền bị một anh chàng thợ khoan nhiếc mắng“chây lười, thái độ lao động không nghiêm túc”.Thằng cha 90 cân “to nhất Tổng cục” này tức không chịu nổi, chỉ mặt gã nói toẹt:”Im mồm đi! Mày nhớ rằng những thứ mày làm được và khoe khoang, nếu thích tao chỉ vảy tay một cái là xong, còn những thứ trong đầu chúng tao có bây giờ, mày có cố cả đời cũng không bao giờ có nổi đâu!”.Tôi cũng bị một lần như thế.Lần ấy khi sang thăm Hùng Béo, Việt Dova ở GK.32 Hồng Tiến, trong khi anh em mải vui nhậu nhẹt, một anh trung cấp kỹ thuật vô duyên chen vào “thuyết giảng” về ý nghĩa của từng milimet địa tầng và lịch sử hình thành trái đất, sau đó cao hứng, lão phê phán luôn cả lớp kỹ sư trẻ chúng tôi là thiếu kinh nghiệm, tây hóa và không có ý thức cải tạo lao động. Tất nhiên, tôi đã “phản biện” rất tự nhiên và hài hước làm anh ta khá tẽn tò.Không ngờ sau này khi tôi được điều về Đoàn 36B, anh này tố cáo với cấp trên và cấp trên của anh ta đã nâng thành “quan điểm lao động” khiến tôi phải lao đao trả giá. Có điều mãi về sau, tôi gặp lại khi anh ta đưa con lên Hà nội thi Đại học, trông anh thật là tiều tụy. Có thể thời gian khiến anh ấy đã quên đi chuyện cũ, bởi lúc ra về, anh ấy nắm tay tôi lắc mãi, rồi tần ngần thốt lên điều mơ ước: ”Giờ mình già rồi, chỉ ước thuê được mấy sào ao của Hợp tác xã để ngày ngày đi hót cứt trâu về nuôi cá…”


Sau này tôi mới biết hoạt động dầu khí đã bắt đầu khởi động từ 1959  -1961, khi Chuyên gia Kitovani và Nguyễn Giao đã tiến hành khảo sát và hoàn thành báo cáo” Địa chất và triển vọng dầu khí nước VNDCCH”;  Đoàn Thăm dò Dầu lửa 36 được TCĐC thành lập (Quyết định 271/ĐC ngày 27/11/1961) do ông Bùi Đức Thiệu làm Đoàn trưởng rồi phát triển thành Liên đoàn Địa chất 36 trực thuộc TCĐC(Quyết định 203/CP ngày 9/10/1969) thế nhưng hoạt động thăm dò dầu khí cho tới thời điểm chúng tôi về vẫn tập trung vào việc khảo sát địa chất vùng rìa , khảo sát thăm dò điện, từ, trọng lực, thu nổ một số tuyến địa chấn 2D chất lượng thấp và mấy chục giếng cấu tạo nông choèn 1200m phân bổ khắp Vùng trũng Hà Nội, An Châu khoan bằng  bộ ZIF-1200 cổ lỗ có từ thập niên 20 của thế kỷ XX được sơn quét lại và viện trợ. Cái điệp khúc Lấy mẫu, lấy mẫu và lấy mẫu, cứ như những khúc “Nam Ai”buồn xứ Huế. Lấy liên tục để rồi sau này không còn chỗ chứa, chẳng có ai trông vì cái ông bảo vệ mù ấy đã xin nghỉ việc. Một quyết định hủy không tiếc nuối khối tài sản địa chất khổng lồ ấy được ban hành sau khi đã “lựa chọn đầy đủ một bộ mẫu chuẩn” (!). Kết quả các giếng khoan thông số trên 3000m như GK 100, 101, 102,103… cũng chẳng có dấu hiệu khích lệ gì.Bao phóng viên mỏi mắt, ngập nửa mình dưới đầm, rẽ bèo tây để đón góc độ đẹp chụp khi thử vỉa cho những tờ báo lớn.Xe cứu hỏa chạy ngược xuôi Giao Thủy để lo phòng cháy chữa cháy. Song cuối cùng đều vô vọng. Khoan mãi mà chỉ thấy cát kết, thấy bột kết, thấy sét kết, thấy hóa thạch, còn sản phẩm cần tìm thì chẳng thấy. Nghe đồn Liên đoàn trưởng Vũ Bột có lần từng than thở với anh bạn Lê Đình Cát của chúng tôi: ”Suốt ngày lũ địa chất kia chỉ nhắc hết Anh Kết lại Tôi Kết, còn Dầu khí có thấy quái gì đâu!”. Chẳng thế mà sau này, khi tìm thấy đầu ở GK 61, 63 ông Bột và mấy ông to sung sướng, hả hê đến mức lao vào để “tắm” dầu cho thỏa.


Tôi có lần tí nữa bị dao động xin về Hà nội. Có một người bạn mách tôi về Viện các Khoa học Trái Đất do anh Nguyễn Trọng Yêm, con Bộ trưởng Xuân Thủy làm Viện trưởng. Chả là sau khi gặp anh Yêm, vấn đề cơ bản là xong, chỉ còn là thủ tục hồ sơ vặt vãnh. Câu chuyện “Đắc Sở ngày” cũng bắt nguồn từ đó.  Tôi về khai lý lịch và chạy ra Ủy ban xã xin xác nhận. Mãi mới tìm được anh Khóa, Trưởng công an xã đang ngủ say tại nhà ông chú tôi ( ở quê tôi trước đây, nếu không có họ hàng thì chỉ được gọi là “Anh” thôi và sẽ được chuyển vượt cấp thành “Ông” nếu Anh bắt đầu có Cháu, chứ không có giai đoạn chuyển tiếp như Chú, Bác bây giờ đâu). Tôi lay khẽ. “Gì đấy!”, anh nói qua hơi rượu. “Dạ, em xin anh xác nhận lý lịch”. Anh bực mình vì bị quấy rầy nhưng cuối cùng cũng ngồi dậy, đi ra một lát và trở vào. “Đưa xem nào”,  anh bảo tôi sau khi đã rít một hơi sâu rồi phả ra một làn khói thuốc lào vô tận. Tôi vội xếp ngay ngắn 2 bản Lý lịch lên bàn và nhìn anh viết những dòng chữ nguệch ngoạc: “đắc sở ngày… tháng…năm….UBHC xã đắc sở chứng nhận phần khai trước cách mạng, trong kháng chiến, sau hòa bình của anh nguyễn văn thắng ”“Dạ, tên em là Nguyễn Quyết..”, “Làm gì có họ Quyết”, anh lừ mắt nhìn tôi. Thôi đành, tý nữa tẩy rồi chữa vậy. Anh viết tiếp “…khai trên là thực. vậy chứng nhận phần khai trước cách mạng, trong kháng chiến, sau hòa bình của anh nguyễn văn thắng khai trên là thực”. Anh đặt bút xuống dòng và viết tiếp“ đắc sở ngày…tháng…năm….”, “Anh viết ngày tháng năm ở trên rồi ạ”, tôi nói khẽ. Lại một quả lừ mắt nữa, và lần này thì sâu thẳm. Anh đặt bút ký và viết tên mình: vương trí khóa rồi viết tiếp bản thứ 2 mà chẳng cần phân biệt chữ thường hay chữ hoa như bản trước với nội dung, hình thức và 2 lần “Đắc sở ngày…” i xì như thế. May mà tôi có kiến thức về địa chấn và hiểu cái dấu chấm giữa câu kia chính là một Mặt Phản xạ, chứ nếu không thì đã ngất xỉu rồi. Nghĩ thế mà sao vẫn thấy chạnh lòng. Quê tôi, cái làng Giá, cái làng Cổ Sở, có tên trong sử sách từ đời Lê Lý, nổi tiếng ngàn năm bên đất Kinh kỳ, quanh năm rợp mát bóng dừa  ấy nào có xa gì. Nó chỉ cách hồ Hoàn Kiếm chừng 15 cây số đường chim bay và khoảng 20 cây số đường “chim đi bộ”(!). Mọi thứ đã xong, tôi có thể ung dung về Hà nội Nhưng rồi tôi chợt nhớ tới những điều cha tôi thường dạy :“Kiến ngãi bất vi vô dũng dã” ( Thấy việc nghĩa mà không làm, không phải người anh hùng), “ Xã tắc hưng vong thất phu hữu trách”(Tổ quốc hưng thịnh hay suy vong, kẻ thất phu cũng đều có trách nhiệm) mà tôi đã gạt bỏ cái ý nghĩ bồng bột trong những  phút yếu lòng ấy để vững bước lên đường.



 VIII. THẮP SÁNG BIỂN KHƠI


       Cuối năm 2002, tôi được TGĐ Petrovietnam bổ nhiệm làm TGĐ Liên doanh Điều hành Chung Lam Sơn (LSJOC) triển khai Hợp đồng ký kết với Petronas tại lô 01/97 và 02/97, ngoài khơi đông nam Việt Nam. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ đi đâu nữa cả. Mỏi chân rồi. Nhưng hình như số phận chưa cho tôi dừng lại.Thằng bạn Quang Bô cũng chia sẻ tâm tình và khuyên tôi nên thay đổi. Hình như những biến động cuộc đời tôi thường gắn với những con số 2 như thế: Tôi sinh ngày 22-2. Năm 1972 tốt nghiệp ĐH ở Romania về nước và bắt đầu vào Ngành Dầu khí từ đó. Năm 1982, đi Na-Uy. Năm 1992 từ Viện Dầu Khí về lại PetroVietnam và Tháng 12-2002 tôi nhận tờ quyết định điều động ấy. Vũ Ngọc An đã có lần trăn trở về “một con hổ đang ngủ, chưa có ai đánh thức” trong quán nước chè góc phố Ngô Quyền và tôi đã bật cười:” Hổ đang ngủ hay ngoẻo rồi?”.” Tao đã nói trường hợp của mày,  biết nó nói thế nào không? Nó công nhận mày có trình độ, thông minh, ngon lành nhưng mắc hai tội lớn là Biết nhiều và Lưỡi sắc quá!”. Tôi mỉm cười cám ơn thằng bạn đã quan tâm. Tôi hiểu đó là một mệnh đề mở, nó hoặc anh bạn lãnh đạo kia, do tế nhị chưa nói hết phần chốt (để phải tự hiểu?) ở phía cuối:”…nên không thể dùng”. Có điều tôi chẳng thấy thế làm buồn. Trong cuộc đời, chẳng ai được hay mất tất cả. Thường thì được cái này mất cái khác. Quan trường được nhiều thứ, kể cả bổng lộc, vênh vang, nhưng cũng cực. Có một lần ngồi chờ ở sân bay, nghe một thằng bạn chức sắc tâm sự:“Tôi chán lắm ông ạ. Bây giờ họp giao ban, không khí thật nặng nề. Bọn mình lớn tuổi nó còn ngại một tý chứ bọn trẻ bị nó chửi như chửi chó!”. Tôi nghĩ buồn và bỗng thấy thương nó.Từ hồi cha sinh mẹ đẻ tôi đã thích sống phóng khoáng, tự do. Cả đời tôi, chưa có người nào dám xúc phạm tôi, kể cả những người tai to mặt lớn. Tôn trọng nhau thôi, bởi nếu không thì liệu chừng, có thể nhất là bét. Tôi rất ngấm lời cụ thân sinh ra Bác:”Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ”, (Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, nên lại càng nô lệ hơn). Bởi thế cuộc ra đi cũng có thể trong người cảm thấy có điều gì ngột ngạt, cần có một sự thay đổi. “ Change We Need”, nói như kiểu Obama vậy.


        Tôi tham dự buổi liên hoan tất niên cuối cùng với Phòng TDKT như truyền thống hàng năm và cũng là buổi chia tay. Nói là cuối cùng vì PV vừa có quyết định  tách Phòng  ( Department) thành hai Ban ( Division): Ban Tìm kiếm Thăm dò và Ban Khai thác Dầu khí. Tôi nói đùa: “Vui này biết ngỏ cùng ai/ Một Phòng đã hoá thành hai Sư Đoàn” (chữ Division trong tiếng Anh còn có nghĩa là Sư Đoàn).Tôi nâng cốc chúc và chào tất cả anh em, bè bạn và mừng cho anh Đắc tới lúc sắp về hưu mới có được hai niềm vui trọn vẹn (mua được nhà ở Mỹ Đình và con cái đều giỏi, ngoan, xuất ngoại cả). Bạn bè, đồng nghiệp và những người thân yêu lưu luyến nắm tay, chúc tôi ra đi “chân cứng đá mềm”.


          Lam Sơn JOC là Liên doanh đầu tiên và duy nhất phía Việt Nam đảm trách cả hai chức vụ quan trọng nhất, Tổng Giám đốc và Giám đốc Thăm dò ngay tự phút đầu (Thông thường những vị trí quan trọng này đều do người nước ngoài nắm giữ cho tới khi họ tìm ra phát hiện thương mại bởi vì họ là người phải chi tiền và gánh chịu hết rủi ro trong suốt Giai đoạn 1 ).Đó là sự tin cậy từ hai phía, song với tôi, nó cũng đầy trách nhiệm. Tôi đã để ý tới hai gương mặt: Hoàng Ngọc Đang ở BP và Nguyễn Văn Quế ở JVPC. Đang đã bị tôi thuyết phục nhưng hiềm nỗi hắn vừa bảo vệ Tiến sỹ xong, giờ đi ngay hơi ngại. Còn Quế thì chính tôi vừa giới thiệu cho Vũ Ngọc An ( vì đâu nghĩ mình vào), nên thật khó. Nghe đâu An biết tin ấy giận lắm và tôi đã phải tới CLJOC “guarantee” là sẽ không lấy Quế nữa để “bảo vệ tình bạn”. Và hắn cười, bắt tay rõ chặt. Ngày 7/1/2003 Hợp đồng lô 01/97& 02/97 được ký kết. Đó là món quà tặng sinh nhật vợ tôi vào ngày hôm sau. Ăn Tết xong, 12 tháng Giêng tôi lên đường. Tôi mượn tạm hai phòng làm việc của Petronas làm trụ sở tạm thời và bắt đầu “chiêu hiền”. Cũng may, tháng 3/2003, Đang cũng rời được BP để “đứng dưới cờ đại nghĩa” Lam Sơn, nói như kiểu Ngô Xuân Khoa, Admin Manager của LSJOC hồi đó. Các công việc như Nhân sự, soạn thảo Chính sách Quy chế, Trụ sở làm việc và nhất là Chương trình Công tác và Ngân sách (CTCT&NS) hàng năm phải trình gấp MCM phê duyệt. Anh Đỗ Văn Hà, vị chủ tịch UBQL đầu tiên ấy tỏ ra rất trách nhiệm và có uy tín. Ngày 20/6/2003 chúng tôi khai trương Trụ sở làm việc của Lam Sơn JOC tại Sun Wah, 115 đại lộ Nguyễn Huệ, Quận I, Tòa nhà đẹp nhất Tp Hồ Chí Minh lúc bấy giờ. Nhiều người ái ngại cho LSJOC vì đây là một hợp đồng khó, bởi họ thấy một hợp đồng khác “ngon ăn” đã có người đã xí trước rồi. Phía nước ngoài cũng cam kết vẻn vẹn 1 giếng khoan cho Giai đoạn 1 do đánh giá rất hạn chế về tiềm năng dầu khí trong khi các Nhà thầu khác thường có cam kết công việc tích cực hơn nhiều. Nhưng đó là chuyện vặt, với tôi trên đời này chẳng có gì là khó cả nếu anh quyết tâm làm. Tôi không nhìn vùng biển 11.000km2 mà LSJOC quản lý là một rìa bể trầm tích nông choèn mà phía nước ngoài đã từng làm bao năm và hoàn trả. Dưới mắt tôi cái “nương dâu” như mắt thường vẫn thấy, ngày xưa đã từng là “biển cả”. “Trải qua một cuộc bể dâu” mà nó thành như thế. LSJOC đã phải thuyết phục phía Petronas rất lâu để có thêm ngân sách thu nổ thêm địa chấn phần phía Bắc. Để củng cố niềm tin cho phía đối tác, tôi đã phải bao phen ra PV thuyết khách. Cũng may những người tham gia quyết định như Phan Thị Hòa, Đỗ Đình Khải, Nguyễn Ngọc Sự. Đỗ Văn Hà… đều là những người đã biết và tin tưởng tôi. Họ hoàn toàn ủng hộ. Lần đầu tiên và cũng là duy nhất, PV đồng ý đóng góp 2,5 triệu USD chung với Nhà thầu để thu nổ thêm 700 km2 tại khu vực phía bắc lô 01/97 trong Giai đoạn 1. Trong thời gian ở Hà Nội, tôi liên tục giữ liên lạc với LSJOC và cả CLJOC nhằm có được một chiến dịch thu nổ tối ưu nhất. Graem Bone (phụ trách về ĐVL) và Nguyễn Văn Quế ( khi ấy là cố vấn kỹ thuật) của CLJOC rất phấn khởi khi nghe tin tôi báo tin chiến thắng. Như thế có nghĩa là LSJOC và CLJOC sẽ thu nổ chung trên một diện rộng gần 1500km2 tại phía bắc lô 15-1 và 01/97 với những điều khoản hợp đồng thuận lợi, tiết kiệm cho mỗi bên ít nhất là trên 1 triệu USD thời ấy. Graem Bone cám ơn rối rít và hứa sẽ chiêu đãi tôi một bữa thịnh soạn(!). Kết quả của đợt khảo sát địa chấn ấy đã cho hàng loạt cấu tạo tuyệt đẹp như Sư tử Nâu, Hổ Xám South, Hổ Xám v.v. và chứng minh giả thuyết ban đầu là đúng: Chúng tôi đã bắt gặp tầng sinh dày hàng ngàn mét. Một hệ thống dầu khí lý tưởng đã được khẳng định. Giếng khoan đầu tiên được đặt tên là Thăng Long-1X đã kết thúc thắng lợi. Đó là những giây phút tuyệt vời của tất cả chúng tôi. Rồi Đông Đô, Hổ Xám, Hổ Xám South, Hồ Tây cũng cho những cảm giác nghẹt thở và mừng vui tới tột cùng! Chúng tôi đã trực tiếp lấy dầu lên từ thẳm sâu lòng đất dưới đáy đại dương. Xin kính dâng Tổ Quốc mẹ hiền, kính dâng Thăng Long ngàn năm thương nhớ.


LSJOC đã ghi được những kỷ lục về Độ sâu tầng Móng và tầng cát kết chứa dầu nông nhất; lần đầu tiên phát hiện ra tầng chứa dầu Miocene Trung tại bể Cửu Long, tỷ lệ giếng thành công cao nhất (8 /9 giếng), lưu lượng dầu lớn nhất trong tất cả các lô có hoạt động thăm dò của Petronas tại Việt Nam. Nhưng Vinh quang cũng thường đi cùng Cay đắng. Để có được những thành công ấy đòi hỏi con người đứng đầu phải có kiến thức, có trách nhiệm và bản lĩnh. Là người trực tiếp  theo dõi và điều hành, căn cứ vào tình hình thực tế thi công, trong những trường hợp cấp bách anh phải ra quyết định, thậm  chí có khi khác hẳn phương án đã được phê duyệt để có thành công. Đã có lần tôi làm như thế và suýt phải trả gíá bằng cả sinh mạng chính trị của mình cho dù quyết định thay đổi ấy đã mang lại thành công vang dội.


           Đội ngũ Việt Nam của LSJOC cũng ngày một trưởng thành. Có những người đã rời cái nôi xưa trở thành những cán bộ đầu ngành, nắm trọng trách ở PV, ở các JOC hoặc chuyên gia đây đó.Tôi đã giữ lời hứa và tạo điều kiện đề Hoàng Ngọc Đang ra đi sau ba năm anh em ngọt bùi chia sẻ. Đang chắc chuyên môn, hiền lành, tốt tính, có “kinh nghiệm trận mạc” lại trẻ hơn tôi gần chục tuổi, nó còn những cơ hội khác. Đang đã ra Hà Nội làm Phó Ban TKTD, rồi trưởng ban TKTD (PV). Tôi phát hiện ra từ hồi ở Lam Sơn JOC hắn nghe tay bác sỹ liều mạng cắt phăng cái nốt ruồi kiêm mụn cơm ở gần khóe mắt, mọi việc sau đó cái gì cũng may mắn, hanh thông. Trần Mạnh Cường về thay Đang. Cường trước làm cùng Phòng TDKT với tôi, đã có vài năm lăn lộn ở CLJOC với chức danh Senior Geologist.vNhanh nhẹn và nói năng ngon lành nên đã lọt mắt xanh của Trưởng Ban Quản lý Hợp Đồng, PV sau khi về LSJOC ít ngày. Căng quá. Nhưng đó là cơ hội của anh em. Và tôi ủng hộ. Sau mấy tháng miệt mài cùng đám G&G thiết kế và bảo vệ xong 2 giếng khoan, Trần Mạnh  Cường ra Hà Nội làm Phó Ban Quản lý Hợp Đồng, sau chuyển về chỗ cũ làm Phó Ban TKTD (PV). Lê Văn Hùng từ BP về thay Cường. Hùng là một trong những gương mặt địa chất trẻ sáng giá. Hùng đã từng lăn lộn hết các bể trầm tích ở phía Nam qua các nhà thầu UNOCAL


(Thềm Tây Nam), Hoàn Vũ JOC ( Bể Cửu Long) và BP ( Bể Nam Côn Sơn). Hồi gặp nhau lần đầu ở UNOCAL tôi đã biết hướng đi của chàng trai có dáng thư sinh này sẽ theo hướng ấy. LSJOC đã khoan thêm 7 giếng trong 2 năm sau đó, chả bù cho Giai đoạn I, nói “vã bọt mép” mà  phía PCOSB vẫn cứ ì ra đấy. Khoan nhiều nên mọi người đều vất vả nhưng vui. Ngô Xuân Khoa là GĐ hành chính của LSJOC, đứng dưới cờ từ hồi Lam Sơn tụ nghĩa. Hắn là kỹ sư Hóa, tốt nghiệp cùng khóa với tôi ở Rumani, trước làm ở Thái Nguyên sau về Hà Nội, nghe đâu đã từng làm trợ lý cho một tay VIP nào đó ngoài Thành phố và đã từng có vài năm chu du đất Tiệp. Năm 1992, Jamaha (Già-mà-ham, tên Nhật của hắn)  ra một quyết định gây “sốc” cho Thị Hà, vợ hắn: Đi Nam, làm cho bọn dầu khí Hàn Quốc KNOC. Tôi biết hắn qua mấy lần vào họp với lũ ChimDangSun này. Gã luôn gây huyên náo mỗi khi đến Công ty bằng những ngôn từ hơi bị…choáng(!). Tính hắn phổi bò, giỏi thiền và cúng tế. Nhìn hắn vận đồng phục quần trắng- áo the – khăn xếp tiến thoái nhịp nhàng, miệng khấn lầm rầm rồi phủ phục, nện trán bôm bốp xuống sàn đến rớm máu  thì tôi dám cả quyết rằng dù khó tính đến đâu cũng chẳng có thần linh nào nỡ khước từ lòng thành đó cả.Và tôi đã tận dụng triệt để sở trường đó của hắn vào dịp Khai trương Công ty và tất cả những lần “Mở Lỗ”.


             Những trợ thủ như Syed Nasrudin, Adam, Amiruzan, Shaharudin (PhóTGĐ); Zulkifli, Ali, Farimin (GĐ Khoan); Wahab ( GĐ Tài chinh-Kế toán), mỗi người một cá tính, có cả những ý kiến trái chiều và không thống nhất lúc ban đầu nhưng sau một thời gian sống họ đã hòa đồng và làm việc hết mình vì một gia đình LSJOC đoàn kết và thắng lợi. Syed Nas, Adam cho mãi sau này từ trung Đông vẫn gửi thư về, nhớ thời ở Lam Sơn ghê lắm..


Những cán bộ kỹ thuật thuật Hoàng Ngọc Đông, Trần Thanh Long, Trần Hữu Trường Sơn, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Nhị Thủy, Tuy Lê Giang, Mike Wilson, Mike Karson, Mike Allison … nhiệt huyết, cần cù. Nhiều tên tuổi đã trở nên quen thuộc trong làng dầu khí. Những gương mặt rất trẻ hôm nào như Phan Thanh Hải, Marizam,Trang Nhật Minh, Trần Thanh Tùng, Diana lăn lộn qua công việc giớ cũng đã trưởng thành. Những gương mặt Hà Lý, Thu Hương, Hồng Hạnh, Minh Nguyệt, Bảo Phương, Xuân Dung, Thủy Nguyên, Cẩm Trang, Cẩm Vân, Kiều Linh, Thu Quỳnh dịu dàng, duyên dáng với những tà áo dài mang bản sắc Lam Sơn…Và bao gương mặt bạn hữu


Phương Nam. Tất cả đã làm nên một thời để nhớ


PVEP lúc bấy giờ do Chánh kỹ sư VSP Phùng Đình Thực được điều lên làm Giám đốc. Anh là người trưởng thành từ Mỏ Khí Tiền Hải C giữa những năm 70’ tới Giám đốc XN khoan, Chánh kỹ sư XNLD VSP đầy tiềm năng thẳng tiến về Hà Nội nếu như trên đường bay ấy nó không bị những “hạt bụi vũ trụ” vướng vào. Việc quẹo sang PVEP chính là khoảng thời gian chệch quỹ đạo bay ấy. Có một lần trò chuyện ở Thanh Đa, khi nghe tôi nói lại chuyện xưa, Phùng Đình Thực chỉ cười, đưa tay với trên giá tập Giáo trình Khai thác Dầu Khí của anh dùng để giảng dạy tại các trường Đại học và thủ thỉ“Quyền lực chỉ là thứ phù du. Cái này, cũng như thơ của bác mới là những thứ có khả năng lưu lại cho đời”. Đó là một người đàng hoàng và tử tế.


            Năm 2001 khi anh Thoảng rời PV, anh San chuyển sang HĐQT, nhưng cũng chỉ giữ cương vị Ủy viên thường trực.Ít lâu sau, anh. Phạm Do, giám đốc Trung tâm Lọc Hóa Dầu (TTLHD) được bổ nhiệm, điều ra làm UVHĐQT rồi sau đó lên làm Chủ tịch. Đây là thời kỳ sóng gió của ngành dầu khí. “Chỉ trong 1-2 năm đã có hàng chục cán bộ của ngành bị xử lý kỷ luật, thậm chí bị khởi tố, điều tra, trong đó có cả những cán bộ giữ vị trí chủ chốt trong Tổng Công ty” (Tuổi trẻ Online, Thứ Năm, 03/06/2004). Phó Giám đốc TTLHD Đình Trương kể rằng ngay cả khi ở cương vị cao nhất ấy, Tiến sỹ Do vẫn giữ nguyên cái phòng làm việc ở số 4 Nguyễn Thông và “bảo lưu” cái ghế Giám đốc ấy cho tới khi anh rời khỏi PetroVietnam. Chức Giám đốc tấn phong muộn mằn phút chót cho Trương chỉ còn ý nghĩa tượng trưng, giải quyết chế độ nghỉ hưu. Nghe đâu có một thời anh đã từng nhận làm con nuôi của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu. Nhưng đến khi Nhà thơ mất, tôi là người yêu thơ và kính trọng Ông đã tới dự Lễ Tang tại Lê Thánh Tông từ sớm, song đến phút cuối cùng chẳng thấy bóng “nghĩa tử” kia đâu cả. Chắc Nhà thơ cũng thoáng buồn. Hoặc sẽ chẳng bao giờ buồn cả vì chuyện này có thể ông đã biết từ rất lâu rồi. Những việc anh đã làm, vô tình hay hữu ý, chắc anh đều biết hết. Chỉ biết rằng sau khi từ giã chính trường, anh khá ngại ngùng mỗi lần trở về thăm lại các đơn vị cũ.


        Các cụ hay nói “cái răng cái tóc là góc con người”, nhưng tôi thấy “cái Họ cái Tên làm nên sự nghiệp”, nếu so với hai thứ răng, tóc trên kia, nó không phải là “góc” mà chiếm “già một nửa”.Từ lâu tôi đã nghiệm ra rằng ngoài Số phận ra, hầu hết những người mang “Họ Ngũ cốc hay Sản phẩm của ngũ cốc”; có Tên bốn  chữ , nhất là có chữ “IÊ” ở giữa đều thành đạt. Thêm dấu nặng nữa thành chữ “IỆ” thì tột đỉnh vinh quang . Này nhé, Họ Ngũ cốc: Đỗ Quang Toàn, Đỗ chí Hiếu, Đỗ Văn Hà, Đỗ Văn Hậu, Đỗ Văn Đạo , Ngô Thường San, Ngô Văn Sáng ( đấy là chưa nói tới những cái tên nổi tiếng như Ngô Quyền, Đỗ Phủ, Đỗ Mười, Đậu Ngọc Xuân…); Sản phẩm ngũ cốc : Hồ Sỹ Thoảng, Hồ Đắc Hoài, Hồ Tế.. ( chưa kể tới những cái tên như Hồ Chí Minh, Hồ Quý Ly mang tầm đất nước hoặc Hồ Diệu Bang, Hồ Cẩm Đào bên Trung Quốc). Còn tên 4 chữ cái thì Cảnh, Hiệp, Liễn, Liệu, Nhậm, Hùng, Dũng, Kính… ai chẳng biết. Vần “IÊ” ư, nó đã rất nổi tiếng trong ngành từ thuở ban đầu: Nguyễn Văn Biên, Đinh Đức Thiện, Trương Thiên v.v.đấy là chưa nói tới những Lý Thường Kiệt, Võ Văn Kiệt v.v. Anh Hoài hồi ấy nghe Tổng kết quy luật ấy giật mình: “Trời, đúng thật! Tớ phải về nói với anh Thoảng khéo phải đổi tên là Hồ Sỹ Thiểng”(!). Có một lần có một thằng tây hiếu kỳ hỏi tôi:” What does DO VAN mean?”, Đo ván? “KNOCK OUT”, tôi buột miệng. “But DAO, HAU, HA?”, “Religion, Back, River!”, tôi dịch phăng phăng sau mới giật mình: chết cha! Hóa ra nó muốn dịch họ và tên mấy vị quan chức Đỗ Văn Đạo Đỗ Văn Hậu và Đỗ Văn Hà !!.Ở Hà Nội có một thời công ty thăm dò khai thác tất cả những người lãnh đạo tên có dấu “Nặng” đều giữ cấp trưởng như Liệu, Đạo , Hậu, Thập. Không dấu chỉ có thể làm cấp Phó như Giao, Liêm, Trương, Vinh. Dấu “Nặng” mà có thêm Mũ (^) thì tuyệt hảo, nhưng chỉ có Mũ (^) mà thiếu dấu “Nặng” thì cũng không thành như “Lâm” chẳng hạn. Cứ xem chuyện ấy mà suy, mình hoàn toàn nằm ngoài “quy luật” nên vất vả cũng là lẽ thường tình. Giỏi giang như thằng bạn thân của tôi, kiến thức thông tuệ, ngoại ngữ đầy người, miễn chê về tướng tá, bao phen cứ nghe đồn sẽ điều ra PV làm Trưởng Phòng TDKT, Trưởng phòng HTQT, rồi Giám đốc này khác mà cuối cùng khi về cũng chỉ là PGĐ của một công ty, trong khi có những thằng bạn khác chỉ về hưu chậm hơn 2 tháng hoặc lâu hơn chút xíu đã “Ô-tô-mát” trở thành Phó TGĐ (Vice-President in English) của một Tổng Công ty hoành tráng. Có số hết. Tôi nói với thằng bạn:” Sướng khổ tại tâm. Mày nghĩ sướng thì mày sống sướng, nghĩ khổ thì sống khổ. Làm đến bậc công khanh mà trong lòng vẫn tức tưởi vì có kẻ tài cán chẳng hơn gì mà đã lên hàng Thái phó thì cũng chẳng sướng gì. Giàu thì mày  chưa bằng Thạch Sùng, nhưng biệt thự, nhà đất, gia đình như thế cũng làm khối  kẻ  hờn ghen; Sang thì chắc không thể sánh hàng Tứ Trụ , nhưng mỗi lần hết giờ làm việc, bước lên xe con cho tài xế vinh dự đưa về cũng khiến bao người lác mắt. Chẳng có gì đáng để ta buồn!”. Tôi có một thằng bạn thân thuở sinh viên. Hắn tốt bụng và thật thà Nhưng có thể nhà hắn gần Trương Xá nên lắm lúc cũng nóng tựa Trương Phi, đòi “cắt gân đốt nhà” nhiều kẻ. Hắn thường khiêm tốn tự xếp  mình vào hàng “mũi dãi” so với bạn bè. Nhưng tôi biết đó là kiểu “mũi sư tử dãi yến”, Mu-Sư-Da-Y theo cách gọi của Nhật. Một lần nghe hắn trách than thái quá về chuyện con bé thứ hai chậm lấy chồng, tôi phải dùng phương pháp Quát: “Khổ gì mày nói tao nghe. Cứ kêu hai con vịt  giời nhưng thử hỏi có đứa nào được như mày. Đứa đầu có chồng Giám đốc, xe cộ nhong nhong; đứa sau chậm một tý nhưng tao thử hỏi trong cả lũ đi học lứa mình có đứa nào có con tý tuổi đã làm Tiến sỹ ở Mỹ rồi về làm việc ngay ở Headquater của “địch” tại Luân Đôn không?”. Hắn thừ người rồi ngoác miệng :” Ừ, đé..có thằng cặ..nào thật!”. Bây giờ đứa con gái hắn lấy chồng, một thằng Mỹ “made in Vietnam” tử tế và tôi không thấy hắn phàn nàn gì nữa. Sướng rồi.


           Mỗi người đều có số phận. Những nhân vật như Bì Văn Tứ, người cả đời lặn lội hết Tĩnh Gia đến Tuy Hạ với sự nghiệp “chuẩn bị Nhà máy lọc Hóa Dầu”, Vũ Đình Chiến, nguyên giám đốc Công ty Khí, con trai của vị tướng 2 sao, đầy tiềm năng, tưởng chắc mười mươi thành một VIP của Ngành; Nguyễn Quang Thường, nguyên Phó TGĐ PV, Dương Quốc Hà, nguyên Phó TGĐ VSP v.v thì   lâm vòng lao lý trong khi nhiều người khác lại thăng tiến vù vù, không ai hình dung nổi, đến mức có lần tôi phải dặn bọn đàn em để chúng đề phòng một khi  vận may ập đến:” Hễ thấy cảm giác như có ai túm tóc trên đầu kéo lên là lập tức phái nhảy vút theo nghe chưa? Tao thấy có trường hợp như thế, song do phán đoán nhầm nó lại dùng chiêu Xuống tấn  thành ra bung hết cả mảng da đầu! Phải ghi nhớ nghe không?”. Bọn đệ tử hô vang “Yes Sir!” rồi gật đầu lia lịa. Nhưng nói thế thôi, chúng nó thừa biết rằng chẳng có cái gì là không có nguyên nhân cả.


         Tôi là người ít viết về Dầu khí. Chỉ giản đơn bởi cái mảng đề tài ấy đã có quá nhiều người viết. Không hẳn vì vợ dặn “Chỗ nào có đông người chớ chen vào!”, nhưng quả thực tôi cũng “ngài ngại” vì có nhiều người viết quá. Nhưng cũng có lần phải viết. Số là vào dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Tổng Cục dầu Khí, Tiến sĩ Nguyễn Huy Quý, Phó Trưởng ban Khoa học Công nghệ của PetroVietnam vào Sài Gòn đề nghị tôi viết bài cho Hội nghị Khoa học “mang tầm quốc tế” nhân sự kiện quan trọng này. Quý sinh năm Canh Dần, có lá số tử vi sướng từ bé. Hắn vốn tinh ranh, biết chọn mặt gửi vàng, nhưng không may hắn vớ phải một “Lãn Ông” chỉ quen phiêu du, chinh chiến .mà chẳng quan tâm “đúc rút, tổng kết, nâng lên thành lý luận” vì không có thời gian. Có giây phút nào tĩnh lặng hoặc xuất thần tôi đều dành cho Thơ cả. Sau bao lần thoái thác không thành, nể lời Huy Quý, tôi đành viết. Bài báo được in trong Tuyển tập và trình bày bằng cả hai thứ tiếng trong Hội trường chính : “ Petroleum Exploration in Cuu Long Basin, the Keys of Success” (Thăm dò dầu khí Bể Cửu Long , những vấn đề then chốt quyết định thành công) được làng tây, ta đánh giá cao do kết hợp được cả hai yếu tố khoa học và thức tiễn. Nó cũng là bài viết duy nhất của tôi về ngành nghề dầu khí. Tôi yêu văn chương và thích làm thơ từ khi còn rất trẻ nhưng phải tới ngoài 50 tuổi mới xin được “visa” của vợ cho in mấy tập thơ vì e tôi “ in sớm lại tí tởn”, vợ tôi hay đùa vui vậy. Ba tập Lời Biển, Phù Sa, Ngàn Mây đều do NXB Văn học ấn hành và tập Cúi xuống Bầu Trời in tại NXB Hội Nhà Văn. Tôi không có thơ viết về ngành nghề hay thế sự mà thiên viết về Tình yêu. Tình yêu con người, tình yêu đôi lứa, tình yêu một vùng đất, vùng trời. Bởi Tình yêu là muôn thuở. Với tôi thơ là sự đam mê, giải tỏa và sự sẻ chia :“ Một đời phiêu bạt lãng du/ Thả thơ theo từng ngọn gió/ Hòa vào đất bắc trời nam/ Hòa vào đông tây kim cổ” . Đấy là giây phút cái đẹp được phát hiện, thăng hoa, diệu kỳ lấp lánh.


         Một lần PV có mời một đoàn nhà thơ vào thăm một số đơn vị phía Nam, sau đó sẽ ra mỏ Bạch Hổ tham quan để lấy tài liệu viết bài về Dầu Khí. Tôi bất ngờ được PVEP nhờ tiếp giúp “phi vụ” này. Chiều tối hôm đó, tôi gặp các nhà thơ Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Hoàng Sơn…tại Bình Quới 1. Sau một chầu bia rượu, nghe anh Tâm Công Đoàn giới thiệu về tôi, anh Duật vui vẻ: “Người anh em có thể tặng bọn mình một bài thơ về dầu khí được không?”. “ Không. Dầu khí là đề tài có nhiều người viết rồi anh ạ. Đông người ngại lắm!”,”Thì thơ không dầu khí cũng được?”.Thấy thái độ rất thoải mái và chân tình của mấy nhà thơ, tôi nổi hứng đọc vài bài thơ. Tiếng vỗ tay và hò reo. Khi đọc đến bài Trời đày:“Đã thề chỉ nói lời hay/Lại vui nói hết lời say với người/Đã thề trọn kiếp rong chơi/Lại vô tình vướng sự đời giăng câu…”. Anh Duật đứng lên và oang oang: “Hay quá! Bài này ông phải để làm Tựa ở ngay trang đầu. Này, Dầu Khí mời chúng tôi vào để viết bài, tôi nói thật, chúng tôi chẳng giúp các ông phát hiện ra mỏ dầu quái nào đâu, nhưng hôm nay tôi phát hiện được một Mỏ Thơ rồi. Đấy là Mỏ Thơ NQT!”. Nói xong anh nắm tay tôi lắc mạnh. “ Ông chép tặng mình mấy bài thơ ấy đi”. Đấy là lần đầu tiên tôi gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật. Sau đó tôi có tặng anh mấy tập thơ. Ít lâu sau tôi nhận được một bưu phẩm gồm hai cuốn tạp chí Diễn đàn Văn học Nghệ thuật Việt Nam, trong đó có bài giới thiệu thơ tôi kèm gần chục bài thơ do anh tuyển chọn. Cũng vì lần gặp ấy, do “tự ái nghề nghiệp” (Sao cứ phải để người khác viết?), tôi đã viết bài “Người thắp sáng biển khơi” mà bạn tôi, Trần Hồi đã mượn làm tiêu đề cuốn sách “Những người thắp sáng biển khơi” nhân kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Vietsovpetro và nhạc sỹ Trần Ái Nghĩa đã phổ nhạc đầy ngẫu hứng sau này:”Chiều buông một trời ráng đỏ/ Đêm phơi một biển trăng vàng/ Bình minh sắc màu quyến rũ/Mơ về một thuở hồng hoang”. Lần ấy trở về anh Duật có bài:” Mùa Xuân, nhìn từ giàn khoan Bạch Hổ”. Sau này lần nào qua Sài Gòn, anh cũng ghé thăm tôi. Mấy lần anh rủ tôi vào Hội Nhà Văn, “Anh và Mậu hay Bằng Việt sẽ giới thiệu em…”. Tôi cám ơn anh và cố khước từ thật khéo.“Vào cho vui ấy mà “, anh nói xong rồi buông theo một lời bình mà sau này trong một lần nhậu, có một anh bạn Hội viên đã nổi khùng vì sợ mình bị liệt vào con số “70%” đó. Tôi quen anh được hai năm thì con người tài hoa ấy lâm trọng bệnh và ra đi vào ngày 4/12/2007. Bài thơ “Cây thông đứng giữa trời” nói về anh và thế hệ anh được tôi viết  và đọc qua điện thoại cho anh nghe khi anh yếu lắm:Tin nhắn của anh gửi tôi: “Bài thơ này hay và lớn, anh cố khỏe để đọc”. Không ngờ đó là tin nhắn cuối cùng tôi nhận được.


         Nguyễn Duy lại thuộc một típ người khác. Anh Duật nhận xét: “Duy nó khôn lắm, nó được cả đấy”. Tôi hiểu ý anh ấy muốn nói là một người biết mình, biết người và biết nhân tình thế thái. Anh có nhiều thơ thời chiến và có cả những bài thơ gai góc thời bình. Những Cây tre Việt nam, Đánh thức Tiềm Lực, Kim-Mộc-Thủy- Hỏa-Thổ là những bài thơ anh tâm đắc và chúng cũng làm nên tên tuổi một Nguyễn Duy. Anh là một trong số rất ít nhà thơ tôi gần gũi. Từ lâu anh đã không làm thơ. Trong bài ký Đi trên đường cái quan, anh viết: “Không phải tôi bỏ thơ mà thơ đã bỏ tôi, vì thế đôi khi tôi phải hú lên mong gọi thơ về”. Anh tâm sự rằng anh không làm thơ nữa vì biết rắng nếu cố viết anh cũng không vượt được cái đỉnh của chinh mình. Thôi thì để thời gian làm những điều cò ích hơn. Anh làm lịch, vẽ tranh, dịch thơ thiền đời Lý – Trần nhằm quảng bá cho thơ. Tôi nhìn những mẹt, những lịch thơ, những bức ảnh đầy chất nghệ sỹ treo đầy phòng khách tại nhà anh ở 264 Lê Văn Sỹ, trong đó có một bức Nguyễn Du ngả người dưới chân tượng đài bên mộ Các Mác ở Luân đôn, tay cầm một cái điếu cày rất dài mang từ Việt Nam sang, mắt lơ mơ nhìn làn khói thuốc mà cười phá. Anh kể “Bức ảnh này hồi trước mình phóng to lắm, có một thằng đến gạ mua, mình thét giá cao để nó không mua nổi, ai ngờ nó vẫn gật. Thôi thì bán cho nó, mình sẽ in tấm khác. Ít lâu sau đến nhà ông Sáu (Võ Văn Kiệt), thấy ảnh mình treo ở đó. Hóa ra ông Sáu qua nhà mình xem ảnh, sau ngầm bảo nó tới”. Tôi quý mến anh bởi cả sự tài hoa và cá tính. Anh hay mời tôi đến chơi, nhất là mỗi khi có khách Tây, khách Mỹ. Họ là những bạn bè, dịch giả và là những nhà nghiên cứu Việt Nam. Tự tay anh nấu nướng. Tiết canh vịt và ba ba là những món sở trường của “đầu bếp” Nguyễn Duy. Khỏi phải bàn, Nguyễn Duy là một anh chàng bợm nhậu và là nhà ẩm thực nổi tiếng Việt Nam rồi. Nhớ nhất là khi anh đọc thơ. Người thấp lùn nhưng giọng thì sang sảng. Những tiếng “Ai?” gầm lên rồi ”Không Ai!” trùng xuống thì chỉ thấy ở kẻ nhập đồng như anh mới có nổi. Về thơ tôi, chẳng biết khen hay chê mà anh hay nói với người khác rằng “có những bài đọc thấy gai hết cả người”.


          Ở Sài Gòn, mỗi lần xuống Vietsovpetro làm việc với JVPC, PTSC Marine hay với Hoàng Quý, Viện trưởng NIPI tôi đều ghé thăm Trần Hồi và Trần Lê Đông (cả hai anh chàng này lẫn hầu hết các chức sắc khác như Đỗ Khải, Văn Tuyến, Hà Ngọc Khuê thực ra đều là bạn cũ). Đông đi học ở Nga-Xô song mấy bố con có cái tên Đông-Phương-Hồng ghép lại đặc sệt khách Tàu này rất khoái câu thơ: “Huế thì cứ mãi mãi xanh/Chỉ riêng có một mình anh bạc đầu” mà tôi viết nhân một lần tới Huế. Hắn khoái vì hợp với tâm trạng và hợp với cái đầu muối tiêu của hắn. Sinh nhật tôi năm nào hắn cũng gọi điện mừng. Hình như hai đứa đã từng thề“tuy không sinh cùng ngày nhưng nguyện sẽ nghỉ ngơi cùng ngày cùng tháng cùng năm” và lời thề đã ứng nghiệm(!). Riêng Trần Hồi tôi biết hắn từ những năm 70 của thế kỷ trước. Anh chàng Phó TGĐ mà ai cũng quý mến này sống rất tử tế và khoáng đạt. Hắn rất trọng các văn nghệ sỹ. Có thể vì thế, ngoài công việc ra, tôi còn được hắn quý hơn một tý. Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy là những người thân của cả tôi và hắn. Trước kia tôi hay lang thang Yên Tử, Đà Lạt, Huế, Mũi Né…và đều có thơ để lại. Có một lần vào năm 2002, tôi vào công tác Vũng Tàu thì bị Trần Hồi trách: “Anh toàn làm thơ ở đẩu đâu, chẳng thấy có bài thơ nào về Vũng Tàu”. Tối về Nhà khách Hoàng Diệu ngẫm thấy hắn trách mình đúng quá. Tôi vùng ra khỏi nhà và lang thang Bãi Trước. Có hai bài thơ về Vũng Tàu cùng nội dung được vết cho hai thể loại ( lục bát và không lục bát) vào đêm đó. Bài thơ nói về sự ân hận về một tình yêu không thành. Câu chuyện được hư cấu vào 25 năm trước đó khi lần đầu tiên người con trai đặt chân tới Vũng tàu và rồi họ phải xa nhau từng ấy tháng năm, để đế khi gặp lại cả hai mái đầu đã bạc:” Thời gian đã đổi thay màu/ Vẫn trinh nguyên một Vũng Tàu ngày xưa/ Núi bồng bềnh, biển đung đưa/ Xin cho làm mái chèo khua thở nào”. Hôm sau tôi tặng Hồi cả hai bài. Hồi ưng lắm. Bài thơ này được ghi dấu ở Vũng Tàu và anh Tạ Đình Vinh đã gửi đăng trên báo Nhân Dân sau đó.


Tiệc mừng Sinh nhật tôi được  tổ chức tại Khách sạn Caravel Sài Gòn diễn ra rất vui và đầm ấm.Trên nền phông Giàn khoan và Biển xanh vẻn vẹn vài dòng chữ: Lamson Joint Operating Company- Appreciation Dinner for Mr. NQT, General Manager. Happy Birthday to You!. Chỉ có một số bậc đàn anh và bạn bè thân thiết ở xung quanh T.p Hồ Chí Minh là khách mời. Anh Hồ Sỹ Thoảng, anh Ngô Thường San và vợ chồng anh Nguyễn Xuân Nhậm đều tới dự. Nguyễn Quang Bô, Trần Hồi, Nguyễn Duy, Hoàng Ngọc Đang, tất cả bạn bè cùng CBNV Lam Sơn JOC và vợ con tôi đều có mặt đông đủ cả. Ai cũng đẹp đẽ và thắm tình. Tôi chợt nhớ lại lời tâm sự giữa hai cha con khi tôi còn thơ ấu:


         “… - Lớn lên con làm gì?


-       Con muốn làm người hữu ích


Tôi trả lời thầy tôi


Con tôi đã trả lời tôi


Tổ tiên xưa cũng đã sống thế rồi


Lẽ sống thật là đơn giản!


Song nếu sống hết mình, điều vốn tưởng giản đơn kia sẽ vô cùng lãng mạn


Sẽ nâng cánh ta bay kiêu hãnh suốt cuộc đời


Sướng là khi ngoái lại sau lưng ta có thể mỉm cười…”


Ngày 28/2/2010 tôi ung dung rời nhiệm sở. Tạm biệt Sài Gòn trở về Thăng Long thân yêu sau 6 năm trời xa cách.


         IX. THAY LỜI KẾT


          Người ta thường nhắc tới cái mốc 26/6/1986, ngày khai thác tấn dầu thô thương mại đầu tiên tại mỏ Bạch Hổ đưa Việt Nam vào danh sách các nước xuất khẩu dầu khí trên thế giới, rồi tiếp theo là những mốc 50, 100 hay 150 triệu tấn dầu khai thác được mà ít khi nhắc về quá khứ. Mọi người đang gặt hái thành quả. Những mỏ Bạch Hổ, Rạng Đông, Ruby, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Lan Tây…đã mang lại nguồn thu chính và gánh một tỷ phần rất lớn trong Ngân sách Quốc gia. Ngành dầu khí những năm sau này đã mở mày mở mặt và là mơ ước của bao người. Dầu Khí đã thực sự là cứu cánh và ai cũng cần có nó. Vì mục tiêu Ngân sách, các con hổ, sư tử kia nhiều lúc bị “ép sản”, phải “gồng mình”, “dopping” để hoàn thành vượt mức chỉ tiêu sản lượng, và đã có con liêu xiêu, đột quỵ.  Tôi giật mình và chợt nhớ câu chuyện cách đây gần 30 năm, khi tôi hỏi một vị giáo sư Na Uy trong lúc ông trình bày về Lập Quy hoạch và Chiến lược :” Thưa Giáo sư, liệu khi lập Chiến lược dài hạn, Na-Uy  có dựa chủ yếu vào dầu khí không?”, “ Không. Mặc dù sản lượng khai thác dầu khí ở Biển Bắc của chúng tôi là 60 triệu tấn/năm, nhưng khi lập Chiến lược dài hạn chúng tôi phải dựa vào tất cả. Dầu khí, Thủy Điện, Đóng tàu-Vận tải Biển, Đánh Cá, Khai khoáng, Nông Lâm nghiệp và nhất là Tài nguyên Con người( HR).Hiện giờ giá dầu thế giới là 32 USD/thùng. Để khai thác được 1 thùng dầu, chúng tôi phải tiêu tốn 15 USD trong khi ở Trung Đông chỉ cần 0,5 tới 2 USD/thùng. Nếu chỉ dựa vào dầu khí, giả sử có một biến cố nào đó, chiến tranh hay một phát minh ra một thứ nhiên liệu mới làm giá dầu giảm dưới 15 USD/thùng chẳng hạn, trữ lượng hàng nhiều tỷ thùng ở Biển Bắc của chúng tôi phỏng có ích gì?”.Tháng 8/1990, Iraq tấn công Kuwait, lời tiên đoán đó đã trở thành hiện thực. Giá dầu từ 32USD/ thùng tụt  mạnh, có lúc xuống chỉ còn 8-9USD/thùng! Cả thế giới, trong đó có Việt Nam đã lao đao vì giá dầu như thế. Người ta hay ví von Dầu khí là mũi nhọn. Tôi cũng cảm thấy tự hào vì mình cũng  được đóng góp phần nào vào thành công chung đó. Nhưng ước chi nó đừng độc nhất như cái sừng tê giác mà như quả Dứa, quả Mít, chỉ là một trong nhiều mũi nhọn của một trái thơm, như thế có phải là điều đáng mừng cho đất nước?


          Ngày 29/08/2006,Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 199/2006/QĐ-TTg thành lập Công ty Mẹ-Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (Vietnam Oil and Gas Group, gọi tắt là PVN). Các đơn vị “Công ty Con” ở dưới phát triển thành các Tổng Công ty (Corporation): PVEP, PV-Oil, PV-Gas, PV-Power, PTSC, PV- Drilling…có tổng nhân lực tới 35 ngàn người. Nhân sự cũng thay đổi chóng mặt, đến mức người ta sợ chào “nhầm chức danh” phải anh nào hay để ý vặt có khi phiền toái lắm. Danh bạ Điện thoại hầu như thay đỗi không kịp so với tốc độ phát triển ấy. Những bậc tiền bối trước tôi một đời hy sinh vất vả, có những người đã khuất. Những người thế hệ tôi đã sống hết mình, có người danh vọng tột đỉnh nhưng hiện giờ cũng đều đã nghỉ. Những anh em bạn bè xưa quen biết  như Phùng Đình Thực, Đỗ Văn Hậu, Nguyễn Quốc Thập v.v đã là những lãnh đạo sắc sảo đầu Ngành; Nguyễn Văn Toàn, Hoàng Ngọc Đang, Đinh Văn Sơn, Nguyễn Văn Quế.. đã thành những trưởng ban chững chạc của PV. Phan Ngọc Trung, Nguyễn Du Hưng, Phạm Như Khánh..  giờ đã là Viện trưởng, Giám đốc ngon lành. Những gương mặt trẻ hôm nào như Trịnh Xuân Cường, Cù Minh Hoàng, Nguyễn Văn Khương, Lê Ngọc Sơn.. giờ cũng đã trưởng thành và là những cán bộ quản ý có uy tín của khối E&P. Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam đã chính thức rời 22 Ngô Quyền, về 18 Láng Hạ, Hà Nội.Thời kỳ vá víu, cơi nới nhếch nhác đã qua rồi. Lần đầu tiên PETROVIETNAM có một trụ sở mới khang trang. Tôi chợt nhớ về cái cái Nhà máy Điện Cơ xưa được gia cố, nâng tầng thành Trụ sở  PetroVietnam 22 Ngô Quyền  với những cây cột đạt kỷ lục to nhất Việt Nam một thời để rồi sau đó lại biến đi không còn dấu tích; về sự hoành tráng của Tháp Đôi Petronas dưới thời Dato Hassan Marican; về cái mô hình Tòa nhà Dầu Khí do Kts Ngô Viết Thụ thiết kế theo ý đồ của Tướng Thiện  từ hơn 30 năm trước rồi cứ ngẩn ngơ tự hỏi liệu căn nguyên của sự nhếch nhác bao năm có phải chỉ vì lý do khách quan hay còn bởi tại con người. Người ta viết sách về “Danh nhân dầu khí”. Có cả những thủ lĩnh bán xăng dầu, khí-gas v.v cũng trở thành “những người đi tìm lửa(!), còn những người đi tìm lửa thực sự thì vẫn lặng lẽ như xưa với niềm vui được góp sức mình dựng xây Tổ quốc. Bây giờ nhiều người đang viết Sử. Viết về Ngành Dầu Khí. Chẳng cần tới một Lê Văn Hưu hay một Tư Mã Thiên để làm gì. Không cần có lời bình, nhưng quả tình tự xa xưa, chưa thấy khi nào và ở đâu, các cựu vương và lão thần lại đua chen viết về Lịch sử của các triều đại mình như thế.


         Có người nói: “Cuộc đời như môt màn kịch, trong đó mỗi một người đều là những vai diễn”. Nhưng nếu thế thì thật là buồn. Sao người ta không thể là chính mình được nhỉ? May thay suốt cả chặng đường dài, dù đi khắp muôn nơi, tôi luôn tránh được những cám dỗ, ác tà để giữ cái tâm mình sáng, làm một khán giả thảnh thơi ngồi xem những màn trình diễn ấy. Và bây giờ xin tạm khép. Có thể đây mới chỉ là những nét chấm phá ban đầu vì còn bao nhiêu điều để nhớ và để viết…                                                                                             


Hà Nội, tháng 5/2010


NQT.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »