tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Ký
21.04.2016
Lê Văn Thảo
Ở R - Chuyện kể sau năm mươi năm (2)


3 – Đi với Sư đoàn 9


Tháng 9 năm 1965, Sư đoàn 9 quân chủ lực miền Đông được thành lập, sư đoàn đầu tiên của miền Nam, tăng cường sức mạnh lực lượng vũ trang, mở ra những mặt trận mới. Các cơ quan dân chánh tinh giản biên chế, đưa thanh niên bổ sung cho quân đội. Các phóng viên báo đài theo sát Sư đoàn viết bài đưa tin.


Tôi được biệt phái sang Sư đoàn 9. Đã có những cơn mưa đầu mùa. Tôi trang bị đủ cả: ruột tượng gạo, lương khô, đèn dầu, thuốc rắn, cây xỏ dép, võng dù, ni lông che tăng, ni lông choàng đi mưa. Tôi cũng đem theo một tập ghi chép và một cuốn tiểu thuyết dịch của nước ngoài. Tôi có thói quen giữ tới tận bây giờ, lúc nào cũng đọc một cuốn sách có nội dung không dính gì tới cuộc sống tôi đang sống (thay bằng hiện tại). Cuốn truyện tôi đem theo là chuyện đi biển từ thời xưa tận bên trời Tây.


Tôi đã quen chuyện đi đường. Những năm đó chỉ cần tờ giấy giới thiệu của cơ quan có thể đi tới bất cứ đâu, không có chuyện xét nét, rà coi giấy thật giả, nhiều tờ giấy lem luốc không đọc được vẫn được chấp nhận. Ở trong rừng mọi người tin nhau hơn tờ giấy. Từ căn cứ ở Tây Ninh tôi đi qua Bình Long, Phước Long, địa bàn chính của vùng chiến sự. Sư đoàn bộ đóng ở đó, cứ tìm là thấy. Tôi đi bốn ngày tới nơi, một khu rừng như mọi khu rừng khác, không biết chỗ đó ở đâu, tên gì trong bản đồ. Giao liên không nói, tôi cũng không hỏi. Tôi biết từ rày về sau phải biết giữ “bí mật quân sự”. Không khí Sư đoàn bộ rộn ràng cho một chiến dịch lớn, phóng viên báo đài tập trung rất đông, nhiều anh quen biết với Ban chỉ huy chuyện trò rôm rả, riêng tôi không quen biết ai. Các anh đến rồi đi, tôi là người ở lại lâu nhứt, xuống tận đại đội, trung đội, ở đó đến hết chiến dịch.


Sư đoàn được thành lập ngày 2 tháng 9 năm 1965 tại căn cứ Suối Nhung, tỉnh Phước Thành, miền Đông Nam Bộ (chiến khu Đ), trên cơ sở hai trung đoàn Q761 và Q762, thường gọi là Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2. Sau thêm một trung đoàn từ dưới miền Tây lên, gọi là Trung đoàn 3. Đây là đơn vị cấp sư đoàn đầu tiên của quân giải phóng miền Nam, mật danh là “Công trường 9”. Sư trưởng là đại tá Hoàng Cầm, tên gọi riêng là Năm Thạch.


Tôi về Trung đoàn 3, tiểu đoàn 7, đại đội 3. Tôi ở đó hai năm, 1965 – 1966, về cơ quan vài tháng nộp bài viết rồi lại trở xuống. Sư đoàn 9 là cơ quan thứ hai của tôi. Tôi thích sống với anh em trẻ tuổi, gốc dân quê tính tình tự nhiên bộc trực, sinh hoạt vui vẻ. Tôi cũng thích cuộc sống lưu động, luôn trên đường đi, mỗi ngày ở một cụm rừng, dừng chân xây cứ, làm nhà bếp, bàn ghế bằng tre nứa thật đẹp, dù chỉ để ở vài ngày. Một cuộc sống dù nhiều cực khổ hiểm nguy nhưng tâm hồn rộng mở. Ở bộ đội cũng họp nhưng nhanh gọn thiết thực, không ai có thì giờ nói dông dài, việc hành quân đi đứng ăn ở, kế hoạch tác chiến, mọi chuyện rõ ràng, không “tâm tư”, “hoa lá màu mè” như ở nhà.


Tôi có ông anh bậc lão làng trong “trường văn trận bút”, nói: “Tao không ngại gì bằng “phê, tự phê”. Tao có “bí kíp” để đối phó. Những lần bị “phê” tao nhận hết, “phê” bảy tao nhận mười, để không ai còn “góp ý” gì nữa”.


Việc tôi về trung đoàn miền Tây là tình cờ, nhưng là điều may mắn. Tôi cũng người miền Tây, quê ngoại ở Long Xuyên, tuổi thơ tôi lớn lên ở đồng Tháp Mười và ở đó. Những dịp nghỉ quân chúng tôi “nằm bên nhau”, tôi nghe được vô số chuyện miền Tây và tôi cũng có chuyện góp vào. Trong đó có chuyện bác Ba Phi. Những năm đó, tôi nghe nhiều chuyện bác Ba Phi, hơn hẳn những chuyện sau này tôi đọc được trong các sách in. Có người trong đại đội tôi nói đã từng ở nhà bác Ba Phi ở Khánh Bình Tây. Bác chỉ là nông dân bình thường, vui tính, quan hệ tốt với mọi người, nhà khá giả nên anh em thường ghé ở.


Tôi không muốn dùng từ “lạc quan cách mạng” để chỉ cuộc sống của anh em chiến sĩ. Tôi không hiểu từ đó. Tôi chỉ hiểu đơn giản anh em là những người nông dân lao động cần cù trên đồng ruộng của mình, giờ đi cầm súng, cùng chịu đựng gian khổ hiểm nguy, từ đồng hương trở thành đồng đội, cùng yêu thương đùm bọc nhau. Có thể tôi đã không đi sâu vào tâm tư từng người, nhưng những gì tôi nhìn thấy không hẳn là bên ngoài. Anh em cực kỳ tháo vát, khéo tay trong mọi chuyện, có thể làm bất cứ chuyện gì. Đang đi bỗng có lịnh truyền xuống: sẽ thiếu gạo ăn trong ba ngày. Lần đầu tiên quân đội tập trung cấp sư đoàn, chuyện hậu cần không đơn giản. Thường gạo ăn không khi nào thiếu, nhưng cũng có lúc bị đứt đoạn. Vậy là hạ trại, mọi người túa ra rừng, tốp đào củ hái lá, tốp xuống suối bắt cá, làm bẫy bắt thú rừng. Vậy rồi tới bữa vẫn có cái để nấu, mọi người cười đùa, nhắc lại một trận đói nào đó hồi ở dưới quê. Xứ lúa gạo vẫn bị đói, đó là đói nghèo, không phải thiếu đói.


Ở trong rừng có loại cây giống như cây môn, lá vằn vện, nhiều người gọi tên là mặc nưa, rất ngứa, chưa ai từng ăn. Một lần bị đói, một người có sáng kiến thử nấu rất lâu, củi ở rừng thiếu gì, xả nước nhiều lần có thể ăn được. Và rồi chúng tôi có được món ăn rất ngon, tuy có hơi liều lĩnh. Nhưng liều lĩnh chúng tôi có thừa.


Nghỉ quân lâu lâu một chút, tôi xuống sinh hoạt ở trung đội, hai người đào chung một hầm núp, tiểu đội chung một bếp ăn. Không có bếp trưởng, ai muốn nấu thì nấu, thường chỉ có củi và gạo, thức ăn chẳng có gì. Một người tên Quyết Thắng, chắc là tên đặt lại, hầu hết đều như vậy. Tên Dũng và Chiến nhiều nhứt. Người Bến Tre đồng khởi có tên cực kỳ “ác liệt”, toàn những Xông Pha với Lập Trường. Có một người cũng ở Bến Tre nhưng tên Bảo Vệ, nghe ỉu xìu. Chắc có sự lầm lẫn sao đó. Anh chàng Quyết Thắng cực kỳ giỏi trong chuyện “cải hoạt”, đến chỗ đóng quân đặt ba lô xuống, mọi người chưa làm xong chỗ ngủ đã thấy anh ta ngoài rừng về tay cầm nắm lá két, nói để chút nữa nấu canh chua. Lá két trong rừng có nhiều, nhưng anh ta tìm được lá bép mọi người đều khen. Anh ta cũng có tài đánh hơi nước tìm suối, tìm những rẫy cũ, hiếm khi anh đi rừng không mang về thứ gì. Nhưng chỉ được như vậy, anh ta đánh giặc chậm rề rề, toàn chạy lẹt đẹt phía sau, không trận nào vắng mặt nhưng không trận nào được giấy khen, bằng khen.


Ngủ chung với tôi trong hầm là một anh chàng cao to bắn đại liên, tên Rắc, tôi tin là tên thật. Nhưng anh lại nói đó là tên Tây, ba anh hồi xưa đi lính Tây sính chữ Tây. Anh ăn gấp đôi mọi người, cũng chỉ là cơm và rau, thức ăn chỉ có khô mắm mặn chát, thay muối. Anh kể chưa khi nào học quá lớp một. Những năm vào du kích, lên bộ đội huyện rồi bộ đội tỉnh, các nơi đều có lớp học văn hóa, anh học lớp một rồi thừa cơ thay đổi đơn vị thầy dạy, anh lẻn lên học lớp hai. Sau đợt kiểm tra anh bị đưa về lớp một, cứ lên xuống giữa hai lớp đó. Anh có sức khỏe, lấy cớ tiếp người này người nọ, đốn cây bửa củi, việc trốn học là thường xuyên. Cho đến lúc về sư đoàn, chiến dịch liên miên không còn lớp học văn hóa, lớp một là mức học cuối cùng của anh. Từ ngày lên rừng anh thường bị bịnh sốt rét, đôi ba tháng lên một cơn, y tá cho uống thuốc liều mạnh vẫn không dứt được. Trong một trận đánh vào cuối năm, anh lên cơn sốt đúng lúc đơn vị xuất kích. Vì không ai đủ sức vác khẩu đại liên, anh giấu chuyện bị bịnh, ôm súng chạy đi. Trận đó tôi có việc phải về trung đoàn, không dự, chỉ nghe kể lại. Lúc xung phong lên, tuy cao lớn nhưng cơn sốt làm cho anh kiệt sức, anh kê khẩu súng lên một chạc cây cứ thế đứng xổng lưng nổ súng và chết trong tư thế đứng thẳng như thế.


Chuyện đó về sau tôi có viết thành truyện ngắn, chuyển từ khu rừng cây tạp sang khu rừng cây mù u, đúng ra là cây cồng, cũng thuộc họ đó, để gợi nhớ không khí quê hương.


Một người nữa ở trung đội tôi không thể không nhắc tới. Hiệp là trung đội phó, người duy nhứt ở trung đội học đến trung học. Anh rất hâm mộ tôi, nghĩ tôi ở Hội văn nghệ, thậm chí là Ban tuyên huấn, nơi của chữ nghĩa, là những người giỏi giang. Anh thường tìm cách gặp tôi chuyện trò, nhỏ hơn tôi mấy tuổi nhận tôi làm anh nuôi, chuyện trò thường đi vào “nội tâm”. Đôi khi anh kể chuyện riêng tư cho tôi nghe. Anh có cô người yêu ở quê, định cưới nhưng rồi phải ra đi. Đúng ra đó là cô gái gia đình nhờ người mai mối, Hiệp gặp một lần thấy “cũng được”. Hiệp muốn có vợ, có đứa con. Giờ đây lên tận trên rừng sâu, chuyện vợ con càng thêm nung nấu. Hiệp chỉ muốn được nghỉ phép một tháng, về nhà cưới vợ, có đứa con rồi ra đi. Sống nay chết mai, Hiệp không sợ chết, nhưng không có con thật là điều khủng khiếp. Hiệp nói với tôi điều đó, dặn đừng nói với ai. Anh cũng thổ lộ muốn được viết như tôi, hồi học ở trường anh viết luận văn khá lắm. Làm sao viết được một bài báo? Anh chỉ muốn vậy thôi, không hơn. Tôi nói tôi cũng chưa viết được bài báo nào, nhưng tôi khuyên anh nên sắm cuốn sổ ghi chép, viết ra những điều tai nghe mắt thấy, cả những điều suy nghĩ trong lòng, như chuyện vợ con anh đang suy tính. Tôi khuyên anh điều tôi không bao giờ làm, như chuyện cuốn sổ ghi chép. Tôi ở với trung đội hai năm, sau đó có nhiều dịp ghé qua. Trung đội nhiều người hy sinh. Một lần gặp lại Hiệp tôi không hỏi chuyện vợ con, cũng như chuyện viết lách, biết cả hai đều khó thực hiện. Chuyện “tâm tư” mỗi người đành giữ trong lòng.


Lính ở tiểu đoàn chỉ toàn nam, trung đoàn cũng vậy. Nghe nói trước kia sư đoàn có vài cô gái đánh máy, nhưng bất tiện nhiều mặt, đã chuyển các cô về các cơ quan dân chánh.


Có một chuyện vui. Một buổi sáng trung đội thức dậy thấy có tốp người ghé ngủ, còn đang trùm kín võng. Chuyện thông thường, một tổ trinh sát giữa khuya ghé ngang qua, hoặc một tốp đi tải gạo lỡ đường. Một chiến sĩ đến một võng đang trùm kín, nói: “Thằng nào còn nằm nướng đây! Dậy đi, không tao đái trên đầu bây giờ”. Rồi tiếng nước chảy ở đầu võng, người nằm trong võng càng trùm kín hơn. Hóa ra đó là tốp người của đoàn văn công, chiếc võng là của một cô diễn viên. Đoàn văn công đến giữa đêm mệt giăng võng ngủ, đến chiều biểu diễn. Cô văn công mắc cỡ nằm im, đến giữa trưa còn không dám xuống bếp ăn cơm.


Vì không có nữ, cũng không có làng xóm chung quanh, chuyện “sinh hoạt mặn” của anh em là thả cửa, chỉ cốt cho vui, các anh lớn tuổi cán bộ đại đội tiểu đoàn có nghe cũng mỉm cười “cho qua”, như không nghe thấy. Miền Tây Nam Bộ là vùng đất của những chuyện tiếu lâm, ai cũng có một số chuyện “lận lưng”, thêm mắm muối tranh nhau nói, “hư cấu” thêm, gán cho ông Ba Phi nhiều chuyện tôi biết là không hề có. Tôi cũng tham gia. Anh em tối ngủ kề nhau, hoàn cảnh sống nay chết mai, những cuộc tình chóng vánh bên bờ ruộng, trong bụi cây trâm bầu mặc sức kể tràn cung mây. Các anh vừa kể vừa cười, rồi lại khóc, nói cuộc tình chóng vánh nhưng sâu đậm lắm, “em” rất chân tình, chỉ vì anh phải ra đi nên không thể cưới. Nhiều chuyện có tên người địa chỉ hẳn hoi, anh chiến sĩ quả quyết để lại đứa con ở đó, anh gởi thư nhưng không thấy hồi âm.


Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 là anh Sáu Thanh, sĩ quan tập kết về Nam, quê Cà Mau, cuộc đời anh là cả một thiên tiểu thuyết, nhưng tôi đã không ghi một chữ nào. Tiểu đoàn phó là anh Chín Kiên, cũng quê Cà Mau, người tôi thường gần gũi chuyện trò. Cấp trưởng lo việc chiến đấu, cấp phó lo chuyện an sinh, nội bộ. Hằng ngày anh Chín Kiên phải cập nhựt quân số, có người bịnh, người đi tải gạo, đưa thư, công tác đột xuất. Tôi thấy anh ngồi gò lưng cộng trừ, lầm bầm bực tức, khi thấy dư một người, khi thấy thiếu một người. Tôi biết học vấn anh có hạn, nói khéo để tôi cộng dùm cho, anh ngồi hút thuốc kể chuyện cho tôi nghe. Anh kể vô số chuyện, trong đó có chuyện anh trong trung đội trước năm 60 đã cõng đưa đồng chí Lê Duẩn ra miền Bắc. Anh là trung đội trưởng. Đồng chí Lê Duẩn những năm đó rất yếu, đóng giả là một ông già râu tóc để dài, che mặt, đưa từ miền Tây lên vùng đồng Tháp Mười, sang Campuchia, từ đó đi đường “hợp pháp” ra miền Bắc. Anh Chín Kiên được phổ biến đây là một cán bộ, không cho biết gì thêm. Nhưng anh cũng đoán biết cán bộ cao cấp lắm mới che mặt như thế. Năm đó anh còn trẻ, háo thắng, nghĩ bụng đã có công lặn lội phải coi mặt cho biết. Một lần tới phiên anh cõng, anh giả bộ trượt chân, hất tấm vải che mặt qua một bên. Chỉ vậy thôi. Lát sau đi tiếp, anh nghe tiếng thủ thỉ bên tai: “Tôi không giấu chi với đồng chí. Đó là do tổ chức qui định, đồng chí làm vậy là không tốt”. Về Hà Nội đồng chí Lê Duẩn có kể chuyện: ở Campuchia ở nhà một Việt kiều cơ sở, cũng giữ bí mật như vậy. Nhưng về Hà Nội rồi đồng chí thử hỏi vào trong Campuchia, coi nhà Việt kiều đó có biết đồng chí là Lê Duẩn không? Tổ chức trong Campuchia trả lời: Có! Họ có biết. Đồng chí Lê Duẩn nói: “Không có gì giấu được nhân dân”.


Trong những năm ở rừng, tôi biết nhiều người lỳ lợm gan góc đáng nể phục, trong đó có anh Chín Kiên. “Coi cái chết tợ lông hồng”, câu đó hoàn toàn đúng với anh. Tôi có cùng dự với anh một trận đánh. Trận đánh tao ngộ, một toán quân địch tình cờ đi cắt ngang, đôi bên đều bị bất ngờ, cùng nổ súng. Tôi thấy anh Chín Kiên nhào lên súng ngắn lăm lăm trong tay, mất hút trong rừng cây, tiếng thét của anh vang dội trở lại: “Xung phong lên! Xung phong lên!”.


Tôi nghe tin anh hy sinh sau đó không lâu. Tôi vẫn ở Sư 9 nhưng theo một tiểu đoàn khác về vùng Tam Giác Sắt. Tính ra những người cùng ở chung đơn vị tôi những năm đó đã không còn ai.


Đại đội chúng tôi có một chuyện, không biết vui hay buồn. Chiến sĩ Nguyễn Văn Ba trong một trận đánh lập được công với khẩu đại liên Cô-li-nốp, được đề nghị tặng thưởng Huân chương Chiến công, nhờ tôi viết dùm bản báo công. Anh không viết được, nói cũng không được, tôi phải hỏi chuyện người trong tiểu đội để viết về anh. Anh nhận được huân chương. Trận đánh sau đó anh bị lạc, bị giặc bắt. Thông thường với những người “lính trơn”, giặc không tra khảo đánh đập gì, chỉ giam một thời gian rồi đưa đi huấn luyện, cầm súng lại cho chúng. Ở trại huấn luyện anh trốn thoát, trở về nhà. Đó là vùng giải phóng, anh lại vô du kích, lên bộ đội huyện, bộ đội tỉnh. Cuối cùng lên bộ đội chủ lực, về đúng Sư đoàn 9, anh tìm về ngay đại đội của mình. Anh em được dịp cười ha hả. Đó là màn một.


Màn hai. Chỉ ít hôm anh được lịnh rút về trên, không nói lý do. Chúng tôi chỉ thấy mất anh. Sau đó rất lâu, sau năm 70 tôi về cơ quan, nương náu trên đất Campuchia. Một hôm anh đến tìm tôi, Nguyễn Văn Ba bằng xương bằng thịt, quần áo lầm bụi, trông buồn bã hốc hác. Tôi hỏi anh đang ở đâu? Dạo đó tôi biết anh được rút về trên, nhưng cụ thể ở đơn vị nào? Anh nói không đơn vị nào cả. Đúng ra anh ngồi không, trên đã không tin anh. Anh nghĩ phải tìm tôi, nhờ tôi viết tờ giấy chứng nhận. Chính tôi làm bảng báo công anh được huân chương. Tôi cũng đã ở chung với anh một thời gian, hiểu biết anh. Tôi viết, nhưng biết không ích gì, chỉ để anh vui lòng vậy thôi. Người bị giặc bắt bị thiệt thòi đủ điều, bị tù đày tra khảo, thoát ra được bị người mình nghi ngờ. Sau đó tôi không biết anh còn đi lang thang đâu nữa, chắc cũng không hay ho sáng sủa.


*


Thường hành quân xuất phát đi đánh trận, không bao giờ được báo trước hơn vài tiếng, vừa đủ chuẩn bị đồ đạc quân trang, nấu cơm vắt, sắp xếp đội hình. Đi đêm để tránh máy bay, phòng trường hợp qua trảng, lõm rừng chồi, quân đông kỷ luật càng phải nghiêm ngặt. Hành quân cấp trung đoàn, hai tiểu đoàn đi trước, một tiểu đoàn khóa đuôi, trung đoàn bộ chính giữa. Từng tiểu đoàn cũng vậy. Từ chiều trời đã mưa, ngày nào cũng vậy, mưa rừng dai dẳng, rả rích suốt đêm. Mọi người đứng chờ sẵn, tấm ni lông choàng kín ba lô, súng đạn, ruột tượng gạo, nước mưa chỉ ướt nón vải, đi suốt đêm vẫn giữ khô người và đồ đạc. Chiến dịch thường vào mùa mưa, bất lợi cho địch hơn cho ta. Thường mỗi người mang ba bốn chục ký, xạ thủ đại liên, cối, cao xạ nặng hơn nhiều, nòng khẩu 12,8mm nặng cả 80 ký. Đi trong mưa không thể nghỉ, trừ tường hợp dồn đội hình, hoặc có trở ngại gì đó. Người đi sau chỉ biết người đi trước, không đốt đèn, gắn miếng nấm sáng trên lưng người đi trước, theo đó mà đi. Một người ngồi nghỉ ngủ quên, đội hình sẽ bị đứt đoạn từ đó về sau. Đang đi bỗng nghe lịnh truyền xuống: “Coi chừng rắn hổ”. Sao lại có rắn hổ ở đây? Rắn hổ mà coi chừng cái gì? Nhưng lịnh đã truyền phải chấp hành, cứ thế tiếp tục truyền đi. Hôm sau hỏi lại mới biết lịnh truyền là: “Coi chừng cái lỗ”. Thông tin đôi khi bị sai lệch buồn cười như thế.


Đã đi hai ngày đêm, cả trăm cây số đường rừng, trong đêm tối. Bỗng dưng một người thì thào: “Mình đang trở lại đường cũ! Tao nhớ cây ngã ngang này”. Cả trăm cây số, rồi thêm trăm cây số nữa, chỉ để đánh lạc hướng địch!


Sau này tôi có dịp về trung đoàn, hỏi chuyện người cán bộ tham mưu, anh nói đúng như thế, không phải một lần mà nhiều lần chúng ta đi qua lại cùng một con đường. Bảo mật là vấn đề vô cùng quan trọng, chúng ta đánh với thằng địch không phải không có đầu óc. Đang hành quân bỗng nghe tiếng la trong máy bộ đàm: “Thằng công trường 9 đã qua lộ 13 rồi”. Không thể giấu kín cả một sư đoàn. Chỉ riêng dò tìm trên bản đồ đường đi các mối thu mua gạo, chúng cũng đủ biết. Tự dưng gạo hàng tấn đổ xô vào điểm đó, không Sư đoàn 9 thì là ai?


Năm 1967, tướng Trần Độ kể cho chúng tôi nghe một chuyện thú vị về chuyện bảo mật nghiêm ngặt của Bác Hồ. Hồi chiến dịch Điện Biên, đồng chí Trần Độ tổ chức in cuốn “Những mẩu chuyện Điện Biên”, có xin với Bác Hồ cho nói rõ phiên hiệu các đơn vị của ta, với lý do thằng địch cũng biết hết rồi. Bác Hồ đáp: “Đúng, thằng địch đã biết hết. Nhưng chú viết ra giấy trắng mực đen, là chứng thực cho điều chúng biết là đúng”. Đúng là tầm nhìn của một con người từng trải!


Hành quân là gian khổ, hành quân đến trận địa nổ súng càng gian khổ gấp nhiều lần. Đang đi bỗng dừng lại, không rõ lý do. Trời đổ mưa. Mọi người đứng dưới mưa cả tiếng đồng hồ. Sau đó có lịnh tạm nghỉ, nấu cơm ăn, vắt cơm đem theo. Trời đang mưa tầm tã, rừng tối đen, đang trong rừng cao su trống trơn, củi cao su mục nát có thể vắt ra nước, nấu cơm làm sao? Chuyện gần như vô vọng. Nhưng lịnh là lịnh, phải chấp hành. Mọi người gom cành cây cao su khô chất thành gò, căng tấm ni lông bốn người bốn góc che mưa, cũng để hứng nước mưa, lấy quai dép cao su dự trữ đốt riết, đánh vật với lửa với mưa, cuối cùng lửa cũng cháy, cơm cũng chín, cơm ăn tại chỗ cơm vắt đem theo, có cả nước sôi đổ vô bi đông. Chuyện không thể tưởng tượng con người có thể làm được.


Nhiều năm ở trong rừng, trừ những lúc bị bom vùi, hoặc trên đường xung phong ra mặt trận, chúng tôi đều uống nước nấu chín, một kỷ luật bắt buộc. Hơn hẳn bây giờ uống nước đóng chai, chưa chắc bảo đảm khử trùng như hồi xưa.


Cho tới năm đó, trước khi về với Sư đoàn 9, tôi thật sự chưa biết một trận đánh diễn ra như thế nào, chỉ hiểu lơ mơ qua đài phát thanh, hình dung qua các phim tôi xem hồi ở Sài Gòn, trong chiến tranh thế giới thứ hai, quay theo tiểu thuyết của Remarque, đôi bên dàn quân máy bay xe tăng đại bác ào ào.


Hôm đó, lần đầu tiên tôi dự một trận đánh. Hành quân trong vườn cao su. Buổi trưa, trời nắng sáng. Cây cao su trồng giao ngọn, tán lá che kín giúp bộ đội tránh máy bay, có thể hành quân xuất kích đánh ban ngày. Đang đi bỗng nghe uỳnh uỵch phía sau. Xung kích chạy vượt lên, cùng với đại liên, cao xạ, súng cối. Lính “sừng bò” chạy tiếp theo, tên gọi chỉ chiến sĩ thông tin vác những cuộn dây điện khung gỗ cong cong như sừng bò. Vừa chạy vừa thả dây, nối liền đường điện thoại từ đại đội lên tiểu đoàn, trung đoàn, phương tiện thông tin không thể thiếu của quân chủ lực hiện đại. Tất cả trong lặng lẽ, không một tiếng nói, chỉ nghe tiếng vũ khí va chạm lách cách. Tôi biết đã gần tới trận địa sắp nổ súng, một chi khu đang ở phía trước, hoặc một toán quân địch đang đi cắt ngang. Tôi chỉ biết vậy thôi, không biết gì hơn. Thường ở cấp đại đội, hoặc nhỏ hơn, khó biết được kế hoạch tác chiến từ Ban chỉ huy.


Tôi không biết đang dự một trận đánh có tính chất then chốt trong chiến tranh chống Mỹ.Tôi không biết vừa đêm hôm Trung đoàn 2 và một tiểu đoàn của chúng tôi đã đánh một trận tập kích lớn nhứt cho tới lúc đó, phá tan hoang căn cứ Đồng Xoài, một cứ điểm quan trọng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, tuyến phòng thủ sông Bé bảo vệ Tây Bắc Sài Gòn. Và đúng với phương châm “đánh điểm, diệt viện”, chúng tôi đang trên đường đón đánh một đơn vị chúng đang đổ xuống tiếp cứu đám ở cứ điểm. Đó là một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 7 dù thiện chiến, lực lượng tổng trù bị quân đội Sài Gòn. Một trận đánh chấm dứt chiến tranh đặc biệt, chuyển sang chiến tranh cục bộ, Mỹ trực tiếp tham chiến. Mấy tháng sau Lữ đoàn dù 173 của Mỹ đổ vào Đà Nẵng.


Súng nổ rền phía trước, cách không hơn trăm thước, không phân biệt bên nào với bên nào. Tôi bám vào một gốc cây cao su không che hết thân mình, nhìn lên đường đạn đan dày đặc trên đầu. Đó là giây phút tôi nhớ mãi, không thể nào quên, sau đó đã miêu tả trong một truyện ngắn, “tưởng như thò tay hốt một cái cũng được năm bảy viên”. Đó chỉ là cảm giác, anh Đoàn Giỏi đọc được khen hay, miêu tả chiến tranh chết chóc nhưng không ghê rợn. Không hẳn lúc đó tôi không sợ, đúng ra không có thời gian để sợ. Đó là trận đánh vận động, tôi cũng đã biết, đôi bên đánh xáp vào nhau, con đường chỉ có đi tới, mọi người phải bám theo xung kích, tụt hậu lại sau sẽ  làm mồi cho bom pháo. Súng tiếp tục nổ, dai dẳng, đạn bay trên đầu, ghim chúi xuống đất, xung kích nhảy chuyền từ gốc cây này sang gốc cây khác, những bộ quần áo vàng của đối phương loáng thoáng trước mặt. Đầu óc tôi điếc đặc, tôi chỉ cố bám theo anh đại đội trưởng, anh chính trị viên chạy theo kế đó. Có lúc im tiếng súng, tôi tưởng trận đánh đã xong, nhưng rồi súng lại nổ rộ lên, càng dữ dội hơn trước. Nhiều người ngã chết trước mắt tôi. Tôi luôn nghĩ tới chuyện một viên đạn sẽ ghim vô mình, tôi ngã xuống và không còn gì nữa. Nhưng tôi vẫn chạy tới với một niềm tin vô biên, xung kích phía trước sẽ đẩy lùi được địch, trận đánh sẽ toàn thắng. Niềm tin của tôi có một sự trùng hợp kỳ lạ, không thể giải thích được, đó là lần đầu tiên các anh sử dụng những mũi nhọn đánh thẳng vào giữa đội hình địch, đánh chẻ chúng ra, đội hình chúng thiếu gắn kết, sẽ vỡ vụn.


Đó lần đầu tiên tôi ở ngay trong một trận đánh, sát bên như vậy. Tôi không hiểu sao tôi lại xông vào một trận đánh như vậy, cơ quan không yêu cầu, tôi chỉ cần tìm hỏi chuyện viết phóng sự. Nhưng từ sư đoàn tôi xuống trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội rồi trung đội. Tôi thấy cần phải ở gần những người chiến sĩ trực tiếp chiến đấu. Và khi xung kích chạy lên tôi cũng chạy theo. Trận đánh đã cuốn hút tôi.


Sau đó tôi còn dự nhiều trận “đánh gần” như vậy, không lần nào nghĩ mình có thể thoát, nhưng rồi vẫn tai qua nạn khỏi. Thiếu niềm tin không ai có thể sống được, huống chi trong cuộc chiến tranh khắc nghiệt này. Mỗi lần nhớ lại tôi lấy làm tự hào, thấy mình đã được rèn luyện.


Năm sau, 1966 chúng tôi tiến về Lộc Ninh, sau này là thủ phủ Chánh phủ Cách mạng Lâm thời, tôi dự một trận còn “ngặt nghèo” hơn nhiều. Trước đó chúng tôi ghé Lộc Tấn, cách đó độ 7 cây số. Cánh văn nghệ đi theo tiểu đoàn có tôi, nhạc sĩ Vũ Thành, nhà viết kịch Huyền Thương. Người ta chỉ chúng tôi đến một nhà thờ cũ, đã không còn sử dụng. Chúng tôi đến mở cửa nhà thờ, không tin vào mắt mình, hiểu tại sao người ta chỉ chúng tôi đến đây. Một cảnh hỗn độn diễn ra, như cảnh trong địa ngục, nếu tôi hình dung thế nào là địa ngục: trong ánh đỏ lập lòe của những đống lửa, những người dân tộc thiểu số gầy yếu xanh xao đóng khố hoặc trần truồng nằm, ngồi la liệt. Đó là những người thợ cạo mủ cao su, ban ngày đi làm, tối về bị chủ nhốt trong đó, lao động khổ sai như thời trung cổ. Chúng tôi nói chuyện với một ông già, như là một già làng, rằng chúng tôi là bộ đội giải phóng, vùng này đã được giải phóng, họ có thể tự do trở về buôn làng. Nhưng ông già làng nói: “Không, chúng tôi là người mọi, người mọi…”. Ông chỉ nói được như thế, có thể do không sõi tiếng Kinh, không đủ trình độ biểu đạt. Nhưng cũng có thể muốn nói ông là thân phận nô lệ, phải cam chịu khổ sai, không được bỏ trốn. Chúng tôi mở rộng cửa nhưng họ vẫn ngồi yên trố mắt nhìn, bên ngoài tự do của họ không có ý nghĩa gì.


Chúng tôi đi rảo quanh, người ta cũng chỉ cho chúng tôi trại nuôi bò của nông tính cuộc, tức cơ quan của chính quyền quốc gia, chúng tôi có quyền thu giữ. Đàn bò hơn ba mươi con, người chăn giữ vui vẻ giao cho chúng tôi, chỉ con bò già cổ treo lục lạc, là con bò đầu đàn, dẫn nó đi đàn bò sẽ đi theo. Ba chàng nghệ sĩ chúng tôi thành ba chàng “cao bồi” dong đàn bò ra rừng giao cho trung đoàn, mỗi ngày giết thịt một con, nấu từng nồi lớn cùng với măng le, ăn vài ngày ngán thịt ai nấy đều lựa ăn măng.


Vài ngày sau hai anh Vũ Thành, Huyền Thương trở về Cục chính trị, tôi theo một đại đội tiến về đánh Lộc Ninh, lâm vào một trận ngàn phần chết không có một phần sống.


Địch quân trong thị trấn Lộc Ninh chỉ có một đại đội lính bảo an nhưng căn cứ hầm hố kiên cố, chúng tôi đánh suốt đêm không vào được, không biết tiến thoái như thế nào. Anh đại đội trưởng xin họp chi ủy. Đó là điều bất cập trong quân đội: đại đội trưởng là người chỉ huy, nhưng cấp trên là người chính trị viên, bí thư chi bộ. Tốt nhứt nên lấy ý kiến tập thể. Tôi cũng được mời dự họp, cũng là người cấp trên, tuy tôi chưa phải đảng viên. Chúng tôi ngồi dưới một đường hào sát bên bờ tường đồn lính bảo an, có thể nghe tiếng chúng nói chuyện bên trong. Chi ủy có thêm mấy người trung đội trưởng, cuối cùng quyết định rút ra ngoài vườn cao su nằm chờ, tính phương án khác.


Chúng tôi rút ra ngoài độ hơn cây số, nằm lại trong một vườn cao su. Một tiểu đoàn Mỹ với 800 quân nằm kế đó không ai hay biết, nghe tiếng súng nổ vẫn án binh bất động. Sáng ra chúng kéo đến, đôi bên nổ súng, chúng tôi bị bao vây, điện thoạt bị cắt, không ai biết để ứng cứu. Một thế trận không cân sức, trong tư thế hoàn toàn bị bất ngờ, bất lợi về mọi mặt, bị tiêu diệt là điều chắc chắn. Tôi nằm dưới đường rãnh thoát nước, sâu độ năm tấc, phải cúi gập người mới có thể tránh được làn đạn dày đặc bên trên. Bỗng có hai người quay phim nhào xuống đường hào với tôi, không biết đến từ đâu, hoặc ghé ngang qua. Như người ta thường nói, trong mắt bão thường lặng gió. Chúng tôi rất bình tĩnh. Hai người quay phim bàn nhau lấy dao găm đào ngách trong đường hào chôn máy quay phim. Các anh đã quay được một ít trong trận trước, nay mai có ai tìm được, những thước phim quí giá sẽ được lưu giữ. Chúng tôi trăm phần trăm là không thể thoát. Có mấy cô gái thanh niên xung phong không biết từ đâu nhào xuống rãnh với chúng tôi, tránh đạn một lúc rồi chạy lên cáng thương binh, tử sĩ đưa ra sau. Một người y tá đại đội cũng chạy lên xuống, vừa chăm sóc thương binh vừa nổ súng chiến đấu. Tiếng súng nổ khi xa khi gần, có lúc sát bên, nghe rõ tiếng AK, M16. Một trái M79 nổ ngay trước mặt, loại đạn có tầm sát thương độc địa, một trái rớt trúng đường hào có thể giết hết chúng tôi.


Một cô thanh niên xung phong bị trúng đạn, cô bạn dìu đến chỗ chúng tôi, anh y tá theo sau chăm sóc. Vết thương ở lưng trổ ra ngực, ai đó đã băng bó lỏng lẻo, bọt máu trào ra theo nhịp thở. Cần phải nhanh chóng băng lại cho cô. Cô bạn vén áo cô gái, nhờ tôi cắt lần băng đã khô cứng. Cô gái vẫn còn tỉnh táo, nhắc tôi cẩn thận kẻo làm đứt quai áo lót của cô. Anh y tá quấn băng, tay run lập cập, mặt tái xanh. Tôi nhớ anh là người bạo dạn, đêm hôm chính anh đã bò vào tận bờ tường lô cốt quăng mấy trái lựu đạn. Chỉ có thể hiểu lần đầu tiên anh nhìn thấy bộ ngực cô gái. Thường vết thương ở phổi không nguy hiểm, chỉ cần băng thật kỹ. Tháng sau tôi gặp cô trên đường, vết thương đã lành cô đang trở về đơn vị.


Chúng tôi đã có được kết thúc có hậu. Một đơn vị đi tải gạo tình cờ đi ngang, nghe tiếng súng nổ, biết chúng tôi đang gặp nguy, xông vào đánh giải vây. Cũng có phần quân Mỹ không nắm chắc quân số chúng tôi, thấy cánh tải gạo đánh hung hãn quá, co vòi rút lui. Chúng tôi thoát chết, nhưng thiệt hại khá nặng.


Không thể kể hết những hiểm nguy tôi đã trải qua. Tôi không muốn kể chút nào những lần bị dội bom, trận chiến không có đối kháng. Nhưng chịu đựng cũng là chiến đấu. Thường trước mỗi trận đánh chúng tôi đều bị những trận bom pháo thật dữ dội, gọi là “dọn bãi”, sau này có thêm bom bi, B52, phải nói là khủng khiếp. Một đường bom B52 thành một vệt dài hằng ba, bốn cây số, cây cối thành bình địa. Riêng cơ quan tôi, Hội văn nghệ Giải phóng cũng đã mấy lần bị trúng bom B52, trận đầu hy sinh vị chủ tịch đáng kính, nghệ sĩ sân khấu tên tuổi Trần Hữu Trang. Trận kế hy sinh bốn tên tuổi sân khấu khác: Bảy Lương, Phong Anh, Phong Trần, Bảy Thinh. Trận thứ ba, đau đớn hơn, làm chết mấy em nhỏ. Đến giờ sau năm mươi năm thỉnh thoảng đêm nằm trong mơ tôi vẫn nghe tiếng bom rú, gần trăm trái bom xé gió lao xuống, tỉnh giấc vẫn còn bàng hoàng. Tôi nhớ tất cả, những gian khổ chết chóc không việc gì phải quên.


Đơn vị hành quân sợ nhứt là bom bi, tầm sát thương của chúng thật rộng. Một trung đoàn đang hành quân bị trúng bom bi, một người bị thương phải mất tám người khiêng, coi như trung đoàn bị tê liệt.


Trong chiến tranh mọi người đều dày dạn trong bom đạn. Năm 69, ở Long An tôi ở trong một nhà, nghe bà chủ nhà kể chuyện đứa con bảy tuổi. Một hôm nó đi chơi ở làng kế bên. Thường ở vùng ven các thị trấn, có những cánh đồng trống bọn địch chọn làm bãi tập bắn pháo, phân lô các thửa ruộng làm mục tiêu A1, A2, vài ba bữa diễn tập một lần. Hôm đó đứa nhỏ đi chơi tới tối, băng đồng trở về nghe tiếng pháo hú, biết ngay nguy cơ, bình tĩnh chọn một bờ ruộng nằm nép mình chờ đợi, pháo nổ thửa ruộng bên này nó nằm nép mình bên kia, cứ như thế lăn qua lại để tránh miểng, dứt đợt pháo đứng dậy phủi quần áo về nhà. Người mẹ kể chuyện một cách bình thản, tin rằng con mình không chỉ thoát chết mà còn biết cách tránh né cái chết.


Cuối năm 66, Mỹ và đồng minh đổ quân với số đông kỷ lục, bom pháo nhiều, các sư đoàn khó tác chiến tập trung. Tôi theo một tiểu đoàn về vùng Tam giác sắt, không biết cụ thể chỗ nào, đánh tập kích một chi khu không lớn lắm. Lại một trận đánh công kiên gặp khó khăn. Chúng tôi nổ súng vào giữa khuya, suốt mấy tiếng đồng hồ vẫn còn nhùng nhằng ở mấy đường hào, vòng rào dây kẽm gai. Và một chuyện kỳ cục xảy ra ngay tại chỗ tôi và Ban chỉ huy đại đội, nói không ai tin. Đạn pháo đạn cối không rớt tại chỗ đó, đạn liên thanh cũng không, duy chỉ có chuôi trái dù pháo sáng là cứ tè tè bay tới rớt lịch phịch trước mặt, sau lưng, miếng sắt chỉ bằng nắm tay nhưng rớt trúng đầu cũng bể sọ phọt óc. Anh đại đội trưởng vừa hò hét chỉ huy vừa lắng nghe tiếng tè tè để né tránh, anh chính trị viên giơ chiếc xẻng cá nhân che chắn, tôi cũng giơ chiếc xẻng của mình lên. Trong chiến tranh cái chết đến bằng bất cứ thứ gì.


Gần sáng được lịnh rút, trận đánh gặp khó khăn, thương binh nhiều. Tôi được giao dẫn tốp thương binh nhẹ có thể đi được, nhiều anh bị súng phun lửa táp vào mặt gần như không thấy đường, tôi phải cột dây dẫn đi thành hàng dài. Bỗng tôi nghe từ phía sau:


“Mắt em bị lòi ra ngoài rồi, em rứt quăng bỏ nghen anh Ba?”.


Anh Ba là tôi. Liền sau đó tôi nghe tiếng “rẹt” bên đường, hẳn là con mắt rớt văng trên lá khô. Trời đã sáng bốn bên trống trơn, chúng tôi quá mệt mỏi liều đi phơi lưng. Bọn địch có lẽ cũng hoảng loạn, không có chiếc máy bay nào bám theo ném bom. Tôi mang cả ba khẩu súng, thêm chiếc nịt đạn. Suốt mấy tiếng đồng hồ, nắng lên khỏi ngọn cây, chúng tôi mới bám được vào rừng, nghỉ chờ dân công đưa thương binh về bịnh viện dã chiến.


Chúng tôi nghỉ đêm ở một cứ cũ, lều chòi mục nát, hầm hố sụp đổ. Trung đội vắng mất gần một phần ba. Ba lô tử sĩ để một góc. Đêm tối đen. Cơm vắt đã thiu, anh em nhai gạo rang rồi giăng võng ngủ, nhiều người không làm cả cây mồi, cột dây võng luôn lên hai thân cây. Bỗng một chiến sĩ lục đục làm gì với chiếc ca Mỹ. Anh tên Hùng, tiểu đội trưởng, bắn tiểu liên. Tôi hỏi sao không ngủ, làm gì? Anh nói lầu bầu không nghe rõ. Anh trung đội trưởng nằm gần đó nói: “Kệ nó, thằng khùng! Nó muốn làm gì thì làm!”. Hùng đang dùng một khúc cây nghiền gạo trong chiếc ca Mỹ thành bột. Đây là gạo bị ướt nước mưa, bị ẩm mấy ngày rày, không nấu cơm được. Anh miệt mài nghiền, nói sẽ lắng nước làm bột. Trung đội có thùng mỡ, có bột ngọt, anh sẽ chiên làm bánh. Tôi không tin vào tai mình. Nhưng tôi hiểu anh muốn tìm chuyện làm, để đầu óc khỏi phải suy nghĩ.


Từng chập thức dậy tôi thấy Hùng vẫn hì hục với chiếc ca Mỹ, nhớ tới một chuyện học hồi nhỏ về chiếc cối xay gió, không biết trong chiếc ca Mỹ có hột gạo nào không.


Sáng hôm sau không khí rộn ràng, trên mặt mọi người không còn bóng dáng mệt nhọc chết chóc của trận đánh hôm tước. Bổ sung quân số, đạn dược, lãnh gạo thực phẩm, làm lương khô. Ban chỉ huy đi họp nắm kế hoạch tác chiến sắp tới, hành quân ngày đêm về lộ 13 mật phục một đoàn xe địch tiếp tế lương thực cho Lộc Ninh. Trung đoàn đang có khó khăn về hậu cần. Không thể biết được ngày giờ đoàn xe chạy qua như thế nào. Để tránh bom B52, bom bi “dọn bãi”, chúng tôi tập kết cách đường một khoảng xa, mỗi ngày chạy một ba bốn cây số bám ra đường. Suốt mười mấy ngày như vậy, không có đoàn xe nào. Chúng tôi được lịnh rời đi, rồi được lịnh quay trở lại, chận được một đoàn xe, nhưng chỉ chở toàn rượu trắng. Lính người miền Tây không xa lạ gì với rượu trắng, đích thân tiểu đoàn trưởng đứng tại chỗ cho đổ tất cả rượu ra đường, chỉ mùi rượu không thôi cũng khiến có người ngà ngà say.


Dạo đó vào khoảng tháng mười. Từ đó tới cuối năm chúng tôi chỉ có hành quân, không thấy bóng dáng quân địch trước mặt, nhưng bom pháo luôn dội trên đầu. Dàn pháo ở Bến Cát là dữ dội nhứt, dân ta gọi là “dàn nhạc Tân Tây Lan”, không biết sao có tên ấy. Một đêm ghé vào một cụm rừng, đã quá nửa đêm giăng võng ngủ ngay, sáng ra chỗ Ban chỉ huy đại đội một trái pháo khổng lồ nằm ngáng trên một chạc cây. Đơn vị phải nín thở gấp rút dời đi, không chỉ chuyện nguy hiểm pháo nổ, ngay tiếng nổ cũng khiến đám “Tân Tây Lan” cấp tập rót pháo vào.


Không nổ súng nhưng đợt ấy chúng tôi cũng bị hao hụt một số. Bị trúng pháo, bịnh sốt rét, một toán đi tải gạo lạc mất. Những thiệt hại linh tinh nhiều khi không thể lường trước được.


*


Cuối năm tôi về cơ quan, qua năm 67 vướng vào trận càn Gian-xơn Xi-ty, lần đầu tiên và cũng duy nhứt quân địch đánh vào căn cứ Lò Gò – Xa Mát chúng tôi. Đây là cuộc hành quân lớn nhứt của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, huy động 35.000 quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, kéo dài 53 ngày, từ 22 tháng 2 đến 15 tháng 4 năm 1967, và hoàn toàn thất bại về mặt chiến lược, như chính chúng sau đó thú nhận, “không kiếm được một trận đánh lớn nào với lực lượng Việt Cộng”.


Mở màn chiến dịch là trận tập kích bằng phi pháo vô cùng ác liệt, dọn bãi cho Lữ đoàn không vận 173 nhảy xuống Cà Tum, trận nhảy dù bằng máy bay C-130 qui mô nhứt trong chiến tranh. Tiếp theo là Lữ đoàn 1 và 2 của Sư 1 “Anh Cả Đỏ” với 250 chuyến trực thăng đổ xuống Sóc Mới – Rùm Đuôn, cùng lúc Lữ đoàn 2 Sư 25, Trung đoàn Thiết giáp 11 từ Tây Ninh theo đường 4 kéo lên Đồng Pan, tạo thế gọng kềm với ý đồ lớn tiêu diệt đầu não của ta. Lực lượng chủ công của ta chủ yếu là Sư 9 tôi vừa mới chia tay.


Người lớn tuổi, phụ nữ trẻ em được đưa đi sơ tán vào sâu trong biên giới, thanh niên trai tráng ở lại làm du kích. Tổ văn có tôi và Lê Anh Xuân, được phát súng cổ lỗ sĩ, súng trường “oảnh tầm sào” có từ thời chiến tranh thế giới thứ hai. Lê Anh Xuân ốm nhom, cao nghệu, khẩu súng còn cao hơn. Một trung đoàn về chỗ chúng tôi tìm gặp Ban tuyên huấn là người “địa phương” để phối hợp chiến đấu. Anh Năm Cảnh là chánh văn phòng Ban, nói: “Mấy anh xuống cơ quan Văn nghệ tìm gặp thằng Thảo vừa chỗ mấy anh về, thông thạo chuyện chiến đấu, bảo nó dẫn đường”. Mấy anh tìm gặp tôi, không phải Trung đoàn 3 nhưng tôi cũng có biết, tôi chỉ mấy anh mọi đường ngang ngõ tắt trong khu căn cứ, bảo mấy anh ở với chúng tôi, đi đâu tôi sẽ dẫn đường. Lúc đó quân Mỹ đã triển khai đều khắp, xe tăng cày nát rừng thành những đường ngang dọc, đóng quân ở các trảng, trảng Tà Xia có một cụm quân lớn. Cơ quan tôi có sẵn hầm hố, một đại đội đóng quân ngay tại đó. Nhưng chiều tối nghe tiếng sập cửa phầm phầm, anh đại đội trưởng trố mắt nhìn tôi:


“Cái gì vậy?”.


“Xe tăng, anh nghe rồi đó”, tôi nói.


“Gần vậy hả?”.


“Sát bên, ngoài trảng kia kìa”.


“Thôi thôi…”, người đại trưởng lắc đầu xua tay.“Lúc nào đánh thì đánh, đóng quân sát bên chúng sợ lắm!”.


Người chiến đấu dày dạn nhiều khi cũng thật lạ, càng xông pha bao nhiêu càng quí mạng sống của mình bấy nhiêu. Có “dốt” như tôi nhiều khi lại đâm ra bạo dạn. Anh cho dời đội hình vào trong mấy trăm thước, bọn “du kích” chúng tôi trở thành lực lượng tiền tiêu. Gần hai tháng trời chúng tôi ăn ngủ dật dựa dưới giao thông hào, đầu óc căng thẳng. Hai năm trời đi với Sư đoàn 9 chuyện bom đạn không xa lạ gì với tôi, nhưng đó là ở trong quân đội chủ lực, súng chọi súng, còn ở đây toàn dân hành chánh chân yếu, tay mềm. Nhưng giặc tới nhà đàn bà cũng đánh, không thể khác được. Chỉ có điều súng ống thô sơ như thế này, nhiều trái đạn chống tăng rỉ sét không biết bắn có nổ không. Cũng không biết phối hợp với các đơn vị chủ lực như thế nào. Hằng ngày, chúng tôi chia từng tổ bám ra bìa trảng nổ súng vào đám lính Mỹ đi lẻ, không biết có trúng không, bị chúng xả súng bắn trở lại với hỏa lực gấp chục lần, tháo chạy trở lại, có người chết, người bị thương. Mấy anh ở cơ quan giáo dục (B3) là những giáo viên, sinh viên tốt nghiệp đại học vừa mới rời nhà trường ở miền Bắc, mạnh dạn nghĩ cách đánh tăng, cột chùm mấy trái đạn chống tăng gài trên đường chúng qua lại. Hôm sau ra coi thấy mấy trái đạn bị cán dẹp, không trái nào phát nổ. Hăng hái nhứt có lẽ là các anh nhà in (B15), hầu hết người Long An, tỉnh “đầu sóng ngọn gió” của chiến trường miền Nam, trước khi lên R đã dày dạn trận mạc, không chỉ làm nhiệm vụ “chống càn” các anh còn đi “tìm và diệt” chặn đánh những toán lính Mỹ đi lẻ. Một tổ ba người các anh còn ra ngoài trảng dụ trực thăng đến để bắn. Đôi bên thi thố tài năng, gã Mỹ lái trực thăng có lẽ cũng muốn trổ tài “tay lái lụa”, sà xuống thấp đuôi chiếc máy bay vướng vào ngọn cây, chiếc trực thăng “cá rô” bổ nhào, hai gã Mỹ bị bắt trói, nghe nói khóc dữ lắm. Tôi từng thấy lính Mỹ đi càn ở Long An, nhưng lính Mỹ khóc thì chưa thấy.


Chuyện mấy anh nhà in B15 chiến đấu dũng cảm trong trận đó ai cũng biết, nhưng cũng có chuyện không vui. Một buổi sáng chúng tôi nhìn thấy một chiếc trực thăng Xi-núc cẩu treo một vật gì đen đen, anh em vỗ tay reo mình bắn cháy xe tăng rồi, chúng đang cẩu đem về. Nhưng xe tăng cháy sao lại cẩu đem về, thằng Mỹ nghèo lắm hay sao? Hóa ra mấy anh bận chiến đấu, chúng vào tận cứ của B15 lấy cái máy in cẩu đem về, nghe nói sau đó trưng bày khoe khoang ở Sài Gòn. Máy in là công cụ vô cùng quí giá đối với chúng tôi, công nhân in mất máy in, như lính mất súng, không phải là điều đáng buồn hay sao?


Tôi trạc tuổi Lê Anh Xuân, ở chung cơ quan, chung nhà, nhưng không mấy khi ở bên nhau. Tôi liên tục đi về các chiến trường, Lê Anh Xuân cũng có chuyến đi dài ngày ở Bến Tre. Chỉ có mấy năm đó, năm 66 và trận càn năm 67 chúng tôi ở lâu bên nhau, hơn tháng trời ngồi dật dựa dưới chiến hào. Lê Anh Xuân hỏi chuyện Sư đoàn 9 của tôi, kể chuyện Bến Tre cho tôi nghe. Lê Anh Xuân có lối kể chuyện thủ thỉ nhỏ nhẹ rất dễ thương, tôi không thấy anh có viết văn xuôi nhưng thấy ở anh phẩm chất của người kể chuyện. Hồi học ở Sài Gòn tôi có về Bến Tre nhưng chỉ đến chợ tỉnh, cho tới lúc đó tôi chưa biết nông thôn Bến Tre như thế nào. Sau này, nhiều lần về các vùng quê Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri… đi trong vườn dừa rợp bóng, tôi sống lại cảm giác y như xưa qua lời kể của Lê Anh Xuân.


Tôi sống với Lê Anh Xuân chỉ mấy năm nhưng kỷ niệm về anh thật sâu sắc. Đúng ra, tôi ngưỡng mộ lớp người trẻ tuổi như anh trưởng thành sau ngày độc lập ở miền Bắc. Anh là người tôi quen biết đầu tiên, những thanh niên thế hệ của Đặng Thùy Trâm, các anh chị đi vào chiến tranh có thể có chút ngây thơ lãng mạn, nhưng thật hồn nhiên trong sáng.


Hơn tháng trời ngồi dật dựa dưới giao thông hào “tiền tiêu”, ăn ngủ thất thường, đầu óc căng thẳng, nhưng có lúc chúng tôi cũng được “đền bồi”. Mấy người lính trinh sát của Sư 9 bám ra trảng Tà Xia điều nghiên * tụi Mỹ đóng quân ở đó, trên đường trở về đi ngang qua chỗ chúng tôi, mang theo một túi nặng đồ hộp Mỹ, nhiều bọc “ra – sơn” chưa xé ra, thịt hộp, cá hộp, đậu phộng nghiền, thuốc lá, phô mai, có thứ xé ra nếm thấy cay cay không biết món gì, sau mới biết chất đốt để hâm đồ ăn. Không có đồ uống, đang tháng nắng chúng uống sạch (ko logic với câu trên, khó hiểu). Người lính trinh sát lôi ra từng hộp mời chúng tôi, nói chừng này đem về đơn vị không chia chác được gì. Nói không có ăn tạm vậy thôi, không thứ nào ngon, không như món ăn của người Việt mình. Anh đã bò ra tận lều ngủ của chúng, nghe cả tiếng con gái rúc rích trong đó. Nhiều chuyện về lính Mỹ đi càn nếu không thấy tận mắt, không thể tin được. Chúng đi càn đem theo cả gối ôm. Sau đó chúng tôi tiếp tục ra chỗ đóng quân của tụi Mỹ lượm đồ hộp còn lại rất nhiều, bị cháy xém lẫn trong cỏ, thấy chúng lôi cả giường ngủ từ trong các cứ ra đó để ngủ.


Sau trận càn tôi và Lê Anh Xuân còn làm một công việc khác là lượm vỏ đạn pháo 30 ly tự hành của tăng Mỹ đem đi bán đồng nát. Những vỏ đạn bằng đồng sáng choang, bán rất cao giá, tìm mối ở những xóm dân dọc biên giới không khó khăn gì. Mười mấy năm chiến tranh bom đạn ác liệt, nhưng lúc nào ra khỏi rừng một chút thấy ngay có một xóm dân sống lẩn quất ở đó, cũng đào hầm hố, buôn bán đổi chác, thêm chút rẫy bái, không giàu có nhưng cũng nuôi được con cái. Cả mấy tháng trời hai chúng tôi làm công việc “thu lượm phế liệu” tiền bạc rủng rẻng trong túi, hai đứa chưa biết hút thuốc nhưng luôn có gói thuốc thơm Ara (loại thuốc lá thơm của Campuchia) mời anh em.


Tôi còn gặp lại Sư đoàn 9 của tôi nhiều lần nữa. Cuối năm 68, sau khi dự cuộc tổng tấn công Tết Mậu thân đánh vào Sài Gòn trở về, ghé một trạm giao liên, người trạm trưởng quen biết nói: “Sư 9 của anh đóng quân trong cụm rừng kia kìa”. Tôi băng đồng tìm gặp những người bạn cũ, tuy mới chia tay đây thôi. Những năm tháng trong chiến tranh rất dài, mới một năm mà tưởng lâu lắm. Chúng tôi mừng rỡ thăm hỏi nhau nhiều chuyện nhưng không nói gì tới trận đánh vào Sài Gòn. Trận đánh quá lớn, thắng lợi lớn nhưng thiệt hại cũng không nhỏ, chúng tôi cần có thời gian để suy ngẫm. Chúng tôi nói những chuyện bâng quơ không dính gì tới trận đánh, cũng không dính gì tới chiến tranh. Một người kể chuyện đi ngang qua làng mình, nghe tiếng chó sủa nhưng không ghé vào được. Người khác nói lần đầu tiên nhìn thấy chiếc xe hơi. Anh Út Thượng, cán bộ trung đoàn cũng ngồi với chúng tôi, kể một chuyện từ hồi xa lắc. Năm đó, anh dẫn một đoàn người xoi đường Trường Sơn từ Bắc vào Nam, chuẩn bị cho ngày đồng khởi. Chẳng bao lâu gạo hết, muối hết, liên hệ với cơ sở địa phương khi được khi không. Nhiều người ngã bịnh sốt rét. Gạo chỉ còn một ít dành cho người bịnh, người còn khỏe tích cực đào củ, lặn mò dưới suối bắt cá. Tới khu Sáu, là vùng khắc nghiệt nhứt, anh nhớ ra có người quen cũ hồi thời kháng Pháp, giờ chắc cũng là người lãnh đạo, có thể nhờ vả. Anh hỏi thăm tìm được, nhưng trông cảnh các anh còn thảm sầu hơn. Không có nhà cửa gì cả, ở trong hang đá, nằm ngồi dật dựa, ai nấy ốm nhom, mặt mày xanh xao vàng vọt. Anh nói chuyện, thăm hỏi vòng vo mãi, không nỡ hỏi xin gạo. Và rồi chính người bạn cũ nói:


“Tụi tao đói quá, mày có gạo cho xin một ít”.


Hôm đó anh đã trút hết gạo để dành cho người bạn cũ. Không biết sao anh bỗng nhớ chuyện đó. Tôi ghi lại đây, câu chuyện có lẽ không ăn nhập vào với đoạn văn này. Nhưng tôi không muốn để mất, nhiều chuyện trong những năm tháng chiến tranh cần phải được ghi lại.


4 – Lạc rừng


Năm 65 tôi đi với Sư đoàn 9, dự trận Đồng Xoài vẻ vang như đã kể trên. Tiếp đó là trận đánh Phước Long vô cùng khó khăn, chi khu toàn hầm ngầm chằng chịt, xung kích đánh luồn xuống phía dưới rồi trồi lên mất phương hướng, bị giao hỏa (nổ súng vào nhau). Đạn dược tiếp tế không đến nơi được, thương binh tử sĩ đưa ra cũng rất vất vả. Thường những khó khăn đều được dự tính trước, nhưng không bao giờ lường hết được. Khó khăn đẻ khó khăn. Nhưng trận đánh cũng đạt thắng lợi rất lớn, gây kinh hoàng cho địch, sau trận Đồng Xoài chúng còn chưa hoàn hồn. Sau đó tôi cùng tiểu đoàn 7 nằm phục ở Phú Riềng. Đó là một đồn điền cao su lớn, chủ nhân người Pháp, ngôi biệt thự có sân bay riêng cạnh bên. Gã Tây không hiểu sao không kịp bỏ chạy, bị ta bắt giữ, bắt đóng thuế, tiền bóc lột hàng trăm năm, không biết Ban chỉ huy tính giá thế nào, ra giá là hăm lăm triệu đồng (tiền Sài Gòn). Gã Tây ở lại làm con tin, mụ vợ Tây bay về Sài Gòn lấy tiền. Không biết kết cục như thế nào, có lấy được tiền không. Tôi có ở lại ngôi biệt thự đó mấy ngày, cùng anh Bảy Dân là cán bộ văn hóa của trung đoàn, sau giải phóng là chỉ đạo viên đội bóng đá Cảng Sài Gòn. Ngôi biệt thự bằng gỗ thật đẹp, thằng Tây thật có khiếu thẩm mỹ, có hẳn một phòng sách, toàn sách truyện trinh thám. Chúng tôi không động tới đồ đạc, đồ ăn thức uống của thằng Tây. Đó là kỷ luật, suốt những năm ở rừng người lính giải phóng luôn chấp hành nghiêm chỉnh mọi điều lịnh, “không tơ hào của cải của nhân dân”, tuy thằng Tây không phải là “nhân dân”. Tôi chỉ lấy vài cuốn sách giở ra coi rồi để lại chỗ cũ.


Lần phục kích đó chúng tôi không đánh chác được gì, thậm chí còn bị khuyết điểm. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 là anh Sáu Thanh. Anh là người miền Tây, bộ đội từ thời chống Pháp, tập kết ra Bắc, về Nam sau ngày đồng khởi. Chúng tôi phục kích cạnh sân bay. Ban chỉ huy dự đoán sẽ có cuộc đổ quân ở sân bay, hoặc trực thăng đáp xuống bốc đám quân từ trong rừng băng ra. Quả nhiên xảy ra trường hợp thứ hai, không biết sao các anh tính được như vậy. Không gì chán bằng chuyện phục kích, ngày đêm ngồi ghìm súng dưới đường hào, không thể đoán được địch đến lúc nào từ hướng nào. Cả tuần lễ như vậy trôi qua. Bỗng một buổi sáng máy bay ném bom dữ dội, pháo dội cấp tập chung quanh sân bay. Anh Sáu Thanh nóng ruột sợ anh em bị sát thương, cho xuống hết dưới công sự. Mục đích của cuộc “dọn bãi” là như thế, một tiểu đoàn Mỹ từ trong rừng cắt ra đến sân bay, đám trực thăng sà xuống bốc đi, chỉ trong chớp mắt. Bom pháo dứt, xung kích trồi lên chạy ra bọn địch đã đi mất, sân bay trống trơn như không hề có chuyện gì xảy ra. Anh Sáu Thanh bị khiển trách, bị rút về Trung đoàn kiểm điểm. Mấy ngày sau tôi về Trung đoàn còn nghe ông Ba Râu, Trung đoàn phó la hét: “Nó coi mạng sống của nó lớn quá, nghe bom pháo đã chun xuống hầm, công lao phục kích mười mấy ngày thành công cốc! Phen này cho nó đi làm lính”. Quả nhiên, sau đó thấy anh Sáu Thanh mang bồng đi tải gạo. Anh tâm sự với tôi: “Chú em ở chung với anh lâu nay, có thấy anh nhát gan hồi nào không? Không biết hôm đó anh sao vậy, bỗng dưng cho chiến sĩ bám hết xuống hầm, tụi Mỹ khôn ranh luồn đi mau quá”. Tôi nói tôi không thấy anh kém gan góc, hoặc có khuyết điểm, chỉ là rủi ro. Người chỉ huy phải dũng cảm, nhưng cũng phải tính đến chuyện bảo toàn tính mạng của chiến sĩ. Anh phân vân giữa hai điều đó, ranh giới mong manh khó có thể xét đoán.


Dần về cuối năm mưa già, rả rích suốt này đêm. Chúng tôi hành quân về đánh chi khu Bù Đốp. Đó là vùng rừng khắc nghiệt, ma thiêng nước độc nổi tiếng. Ở đó, có cây buông lá lớn bằng tấm đệm, cả bụi tán lá tỏa rộng như một tòa nhà, mặt đất bên dưới hầu như quanh năm không có ánh mặt trời, tối đen, ẩm ướt, lúc nhúc những vắt, muỗi mòng rắn rít. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ có chuyến khảo sát từ Bắc chí Nam, nói đó là vùng có nhiều nhứt các loại muỗi truyền bịnh sốt rét, cuối cùng chính ông là nạn nhân. Các trung đoàn ít dám đóng quân ở đó, có hành quân đi ngang cũng đi thật mau.


Từ giữa năm tôi đã nhiễm bịnh sốt rét, tái đi tái lại không dứt, những cơn lạnh từ trong xương tủy, run cầm cập không kềm được, miệng đắng nghét, mắt hoa bước đi lao chao. Mã Đà sơn cước, anh hùng tận, đó là câu nói của những người đi phu hồi xưa, đây là một vùng độc địa, sơn lam chướng khí. Bà Rá là nhà tù Tây đày những người cách mạng. Bịnh sốt rét là phổ biến, đơn vị có dự trữ đủ thuốc, tôi không phải quá lo. Nhưng một buổi sáng thức dậy tôi hoảng hốt thấy hai chân tê cứng, bước đi khó khăn, rờ xuống hai bắp chân thấy mất cảm giác. Người lính chỉ có đôi chân, chân cẳng tôi như vầy đi đứng làm sao? Suốt ngày hôm đó tôi không dám nằm võng, đi tới lui vận động, ngồi xuống là đưa tay xoa bóp. Buổi chiều trước lúc hành quân tôi báo điều đó với anh đại đội trưởng. Anh lo lắm. Khuya nay nổ súng rồi, không thể cử người đưa tôi trở về. Người y tá của đại đội chỉ biết sơ cứu vết thương, cấp thuốc những bịnh thông thường, chưa từng biết bịnh tê chân như thế này. Có thể là bịnh phủ thũng, do thiếu vi-ta-min B1, phải điều trị lâu dài, anh cũng chỉ biết đại khái như thế. Không ai biết tính như thế nào cả.


Đại đội xuất phát trước khi trời tối. Trời mưa tầm tã. Tôi mang ba lô, choàng tấm ni lông đứng trong đội hình, hai chân run rẩy. Nước mưa chảy tràn trên mặt, lẫn với nước mắt. Tôi đang khóc. Anh đại đội trưởng bước đến gặp tôi, nhìn tôi hiểu ra sự tình. Tôi biết anh cũng khổ sở như tôi. Đây là chặng hành quân cuối, giữa khuya sẽ nổ súng, đánh xong sẽ rút đi đường khác. Chân cẳng tôi như vầy không thể đi, nhưng ở lại cũng rất nguy hiểm. Nhiều chiến sĩ bị rớt lại, ít ai sống sót. Anh bàn với anh chính trị viên. Anh chính trị viên nói chỉ có cách như vầy. Hồi chiều, anh thấy phía sau cách non cây số, có một nhóm chiến sĩ căng tăng ngủ ở đó, có thể là những chiến sĩ ra viện đang trên đường trở về đơn vị, tôi đến cùng ở cùng đi với họ. Tôi nói vậy được rồi. Tôi mừng lắm, ít nhứt cũng khiến các anh được rảnh rang. Anh đại đội trưởng đứng lại thêm một lúc, kêu tôi kiểm tra gạo nước thế nào. Dặn tôi đi về hướng Nam, theo đường xe bò, là đường của bộ đội. Dọc đường có những kho gạo và thức ăn của trung ương, dự trữ chiến lược, có cắm biển đề gài lựu đạn, nhưng cứ vào lấy ăn, không ai nỡ giết anh em mình. Anh đứng mãi dặn tôi thêm vài điều nữa rồi chạy đi theo sau đội hình. Tôi cũng quay bước đi, nhưng liền té xuống. Hai chân tôi bỗng yếu như cọng bún, không có cây cối hai bên cho tôi níu đứng lên. Con đường rất rộng, thường gọi là “đường xe bò”, của những người khai thác gỗ ngày xưa, giờ là đường đi cho bộ đội. Mưa càng lớn, mặt đường ngập nước. Trời tối đen. Tôi ngồi bẹp trên mặt đường ngập nước một lúc rồi lần bò vào bên đường, tìm níu một thân cây đứng lên. Lần đầu tiên tôi ở một mình giữa rừng, trong cơn nguy khốn như vầy. Giờ đây không chỉ có ý chí, mà còn bản năng, con người cần phải được sống. Tôi níu được một thân cây đứng lên, lần đi, bằng hai tay nhiều hơn hai chân, chuyền từ cây này sang cây khác, theo hướng ngược đường của bộ đội, về phía nhóm người bịnh binh anh chính trị viên đã chỉ. Tôi đi mà không suy nghĩ, lê lết thật chậm, tốc độ của một người bị thương. Tôi biết trời sẽ mưa suốt đêm, mấy đêm trước cũng vậy. Từng chập tôi dừng lại vuốt nước mưa trên mặt, cố gắng trấn tĩnh, lấy lại nhịp thở. Tôi hoàn toàn không mất hy vọng, vẫn tự tin, còn sức còn đi.


Ước tính đã mấy tiếng đồng hồ trôi qua, cũng gần đến nửa đêm, không biết đến chỗ người chính trị viên chỉ chưa. Tôi cất tiếng kêu. Rồi bật nhá hộp quẹt. Vùng rừng xa xôi không có biệt kích nào dám lên tới đây. Không có tiếng người, ánh lửa đáp lại. Thất vọng, sức cũng đã cạn, tôi quyết định nghỉ lại, tạt vào ngay bên đường. Mất hơn tiếng đồng hồ làm chỗ ngủ, không làm nổi cây mồi *, chỉ chọn được hai thân cây vừa tầm giăng võng, chèn bó bên trong hai miếng ni lông cho nước mưa chảy tràn bên ngoài, căng sợi dây thun căng tấm ni lông cột căng bốn góc che mưa, làm thêm chiếc giá ba chân để chiếc ba lô. Tôi làm mò mẫm trong bóng tối, mệt rã rời nhưng không dừng tay, mỗi động tác đều phải cố gắng hết sức. Cuối cùng tôi cũng lên được võng nằm, nhưng không thể ngủ. Nãy giờ bị vận động cưỡng bức, hai chân dường như đã bớt tê dại, hoặc tôi đã quên nó đi. Giờ nằm yên cơn tê buốt lại đến, đưa tay rờ vẫn không thấy có cảm giác. Tôi rất lo, đúng ra là mất tinh thần. Tôi chỉ một mình giữa rừng, không được quên điều đó. Tại sao những người bịnh binh biến đâu mất, họ cần gì phải đi trong đêm? Hay anh chính trị viên đã lầm? Tôi thao thức mãi, nỗi bất an lớn dần, rồi tôi cũng ngủ lịm đi.


Buổi ban mai bao giờ cũng đem lại sự lạc quan, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đây là một vùng rừng thưa, không thấy có cây lớn. Trời đã dứt mưa, nắng lên, rừng còn ướt đẫm nhưng thật rạng rỡ. Khoác mùng ngồi dậy tôi thấy trong võng có máu. Vắt! Ở rừng đã lâu tôi vẫn không chịu nổi giống vật hút máu nhỏ xíu này. Tôi không mất công tìm bắt, hút máu thì chúng đã hút rồi. Tôi xuống võng bước đi một cách khó khăn, hai chân đã trở lại trạng thái đông cứng, phải vịn tay vào các thân cây lần đi. Tôi ăn vắt cơm đem theo từ hôm qua, uống nước, thu dọn đồ đạc, chặt một đoạn cây làm gậy, cây khá lớn để có thể tì người lên đó. Rồi ra đường nhìn đầu này đầu kia. Đường vắng tanh, nhẫm  dấu chân đơn vị hành quân đêm qua. Hai bên đường có rãnh đọng nước, đủ để đun nấu. Đó là điều thiết yếu trong những ngày sắp tới, tôi phải tìm chỗ có nước để nghỉ đêm. Mùa mưa rừng không thiếu nước, nhưng cũng phải tìm kiếm. Thiếu nước là nguy cơ lớn nhứt. Tôi cũng phải thường xuyên nhìn hướng mặt trời để định hướng Nam, theo lời dặn của anh đại đội trưởng.


Công việc của tôi giờ đây là “ngày đi đêm nghỉ, đói ăn khát uống”, một mình lang thang trên đường mong gặp được người, tìm về một đơn vị nào đó tá túc, bịnh viện dã chiến càng tốt, mọi chuyện tiếp theo sẽ dễ hơn.


Tôi múc nước đem vào nấu cơm, cuộn võng tháo tăng cất vào ba lô. Trong lúc chờ cơm chín, tôi kiểm lại đồ đạc của mình. Ruột tượng gạo còn nguyên. Bọc muối trộn bột ngọt đem theo từ cơ quan. Một lon guy-go mắm ruốc xào mỡ hôm về trung đoàn, anh em tặng. Bi-đông Mỹ đựng nước có lồng chiếc ca. Chiếc hăng-gô nấu cơm, nấu nước. Chiếc dao găm súng ga-răng bén ngọt làm được mọi chuyện. Đèn dầu, thuốc rắn, bông băng cá nhân. Hộp quẹt Zippo, có cả đá lửa và chai nhỏ dầu lửa dự trữ. Cây xỏ dép và quai dép dự trữ. Kim chỉ để vá ruột tượng gạo. Chiếc xanh-tuya mới tinh anh bạn đánh Phước Bình gởi tặng. Tôi có kinh nghiệm trong việc chuẩn bị đồ đạc cá nhân, trừ những lúc lâm trận, bị bom B52, suốt những năm chiến tranh ba lô tôi ít khi nào thiếu thứ gì.


Tôi nhớ tới truyện “Ông già và biển cả” của Ê-min-uê. Ông già một mình trên biển, đồ đạc trên ghe thiếu thốn đủ thứ. Ông tiếc đã không đem theo thứ này thứ kia, nhưng rồi tự dặn mình: hãy bằng lòng với những gì mình đang có. Tôi bây giờ cũng phải như vậy. Tôi cũng nhớ tới câu nói trong quyển sách: “Con người có thể thất bại, nhưng không thể bị tiêu diệt”. Lần đó và nhiều lần về sau lâm vào cảnh khốn khó, câu nói đó là điều tâm niệm của tôi.


Tôi nhớ nhiều về truyện này, do hôm tôi rời Sài Gòn thành phố đang chiếu phim “Ông già và biển cả”, phim làm theo tác phẩm văn học nên rạp có nhã ý giảm nửa giá vé cho học sinh. Tôi đã xem phim đó ở rạp Rex rồi đi thẳng vào chiến khu.


Cơm chín, tôi gói vào chiếc khăn vải dù pháo sáng, nấu thêm ít nước đổ đầy bi đông rồi ra đi. Tôi bước từng bước nặng nhọc, đau đớn như đi trên gai, cố tì người lên cây gậy, chia một nửa trọng lượng với đôi chân. Tôi mong đi đúng con đường cũ hôm rồi tôi đã đi. Nhưng không thể nhớ rõ được. Lúc đi là ban đêm, có người dẫn đường, đi cắm cúi theo người đi trước. Giờ đi ban ngày, tự mình tìm lấy đường. Chỉ một lúc tôi đã thấy mệt rã rời, đứng lại thở dốc. Rồi tôi cố gắng đi tiếp, dừng lại có nghĩa là ở lại mãi. Tôi phải cố hết sức, cố uống ít nước. Tôi đã luyện được thói quen uống ít nước khi đi hành quân, từ sáng tới chiều chỉ uống một bi đông, có hôm tối tới chỗ nghỉ quân bi đông nước còn lưng nửa. Tôi cũng có đôi chân đi bộ bền bỉ, thường đến nghỉ quân tôi hay đi đây đó, đi tải gạo, ra sông suối giăng lưới bắt cá, để không phải ngồi một chỗ lâu quá. Giờ chính đôi chân hại lại tôi. Tôi cố gắng chống chọi với bản thân, thật sự cũng không biết chắc sẽ đi tới đâu.


Vừa đi tôi vừa tìm dấu chân trên đường, quan sát dấu vết cây cối hai bên đường, có đơn vị nào vừa đi qua, ghé nghỉ quân hay không? Đó là cứu tinh, mạng sống của tôi. Tôi đi chậm, bám chắc đường, tránh té ngã, nghĩ về chuyện ở cơ quan, chuyện trước đây ở Sài Gòn, ở quê Long Xuyên để tránh cảm giác bơ vơ. Tôi hình dung bộ đội có rất nhiều trong rừng, đang mùa chiến dịch luôn đi lại, thế nào tôi cũng gặp được họ. Thỉnh thoảng, tôi dừng lại nghe ngóng, không bỏ sót một tiếng động nào. Nhưng tôi giữ cảm giác tự tin, mạnh mẽ không lâu. Nắng lên cao một chút hai chân tôi đã bắt đầu rối loạn, đi không đúng bước, mắt cũng không nhìn rõ đường. Mấy lần tôi trượt chân xuống một vũng nước té sấp, nằm một lúc lâu mới gượng đứng dậy được. Tôi dừng lại nghỉ liên tục, không dám nghỉ lâu, sợ mình sẽ nằm lại luôn. Không biết có phải là ý chí hay không, hay chỉ là bản năng, sinh vật nào cũng muốn được sống còn.


Có một lần tôi mất tinh thần, gần như suy sụp. Con đường đâm ra một trảng rộng, chia làm hai ngả, bên phải bên trái cặp sát mí trảng. Tôi đứng lại nhắm hướng, đoán chắc nó sẽ nhập lại phía bên kia, con đường phải có lối đi tiếp. Thấy trời đã đứng trưa tôi nghỉ lại một lúc ở ngã rẽ, ăn nửa gói cơm vắt, uống miếng nước, rồi đi tiếp, chọn ngẫu nhiên về phía bên phải. Tôi đi rất lâu, nhấc chân từng bước một, từng chập dừng lại nghỉ, chỉ đứng tựa vào một thân cây, không dám ngồi xuống. Con đường đúng là vòng quanh, chiếc trảng luôn ở bên trái. Mặt trời đã nghiêng xế, ước tính tôi đã đi ba tiếng đồng hồ, vẫn không thấy chỗ rẽ. Bỗng tôi hoảng hốt thấy hiện lên đúng chỗ rẽ tôi ngồi ăn cơm hồi nãy, vẫn còn chiếc cành lá tôi bẻ gập, mấy hột cơm rớt lấm tấm trên mặt đất. Vậy là gần cả buổi tôi đã đi vòng quanh, trở về chỗ cũ, như con kiến bò quanh miệng chén. Tôi tưởng như nhìn thấy thần chết! Tôi đã hoảng loạn, không nhìn thấy chỗ rẽ. Đầu óc tôi đã mê muội. Tôi ngồi xuống ngửa người dựa lưng vào ba lô, nước mắt chảy dài. Tôi không thể đi trong tình trạng như thế này. Hồi nãy trên đường đi, đoạn gần ra tới trảng tôi thấy có chỗ có nước, một lạch nước nhỏ không biết suối hay chỉ là một con mương. Tôi phải quay lại chỗ đó ngủ đêm, sáng ra nấu nướng đi tiếp. Bắt đầu từ ngày mai, xế chiều hoặc sớm hơn, tôi phải dừng lại chỗ có nước, bảo đảm chuyện ăn uống. Chú ý tìm măng, tháng này có nhiều, ăn ít gạo hơn, không biết tôi còn phải đi bao xa, có tìm được kho gạo không.


Tôi rất mệt, nhưng hai chân thấy đỡ hơn. Mất hơn tiếng đồng hồ trở lại chỗ lạch nước, trông có vẻ là một con suối, nhưng nước không chảy. Xung quanh không thấy có bụi tre bụi le nào, nứa, lồ ồ cũng không. Tôi đã bình tĩnh trở lại, chuyện đi quanh chiếc trảng đã lùi về phía sau. Những tia nắng cuối cùng đã tắt, nhưng trời vẫn còn sáng. Trời có vẻ không mưa nhưng tôi vẫn làm cây mồi, căng tăng, làm giá để ba lô. Tôi còn thời giờ, làm để khỏi suy nghĩ. Bỗng tôi thấy người gay gay sốt, lại chuyện không may nữa. Tôi gom cành cây khô đốt lửa nấu cơm, gom thêm nhiều cây khô chất thành đống. Tôi sẽ giữ lửa suốt đêm. Biệt kích khó mò tới đây, đồng đội là điều tôi đang cần. Tôi ăn cơm, uống viên ký-ninh, nấu nước uống từng hớp nhỏ. Nước nóng khiến tôi vã mồ hôi, thấy dễ chịu hơn. Tôi vun thêm đống lửa, giăng võng giăng mùng, chun vào nằm, trùm chăn để giữ ấm.


Vậy là đêm thứ hai tôi ngủ một mình giữa rừng. Tôi vẫn chưa hết sợ, cứ nghĩ tới là thấy đau thắt. Thấy tủi thân, thương mình lâm vào cảnh ngặt nghèo. Tại sao tôi lại bị tê chân? Thường người bịnh hay “đứng núi này trông núi nọ”, chẳng thà bị đau bụng hay nhức đầu còn hơn. Nhưng đôi chân là quan trọng, tôi đang đi, còn bước được bước nào tôi vẫn phải cứ bước với niềm tin gặp được người, cùng đi với họ.


Tôi vẫn đang sốt, người lạnh nhưng hơi thở nóng hổi. Tôi luôn khát, để hăng-gô nước dưới võng, từng chập thức dậy bưng uống, xoa bóp hai chân, kiên trì, cho đến lúc hai tay mỏi nhừ. Tôi không biết bịnh sốt rét có liên quan tới bịnh tê chân không. Tôi chưa từng bị bịnh, sốt rét là bịnh đầu tiên. Tôi ngủ rồi thức dậy xoa bóp, rồi lại ngủ, đúng ra chợp mắt trong vật vã, toàn thấy ác mộng, thấy đang bị rượt đuổi nhưng không thể chạy được.


Gần sáng tôi ngủ lâu hơn một chút, thức dậy trời đã sáng rõ. Tôi nằm lại một chút tính toán công việc trong ngày. Tôi sẽ đi, dĩ nhiên rồi, hy vọng hai chân bớt tê dại hơn. Mong chỉ do trục trặc phần cơ địa nào đó thôi. Tôi sẽ không phạm sai lầm như chuyện đi vòng quanh trảng. Đó là sai lầm chết người. Tôi sẽ để ý tìm măng, kho gạo dự trữ. Ở trong rừng còn có loại khoai như khoai mỡ ở quê, mọc trong các khe đá, phải dùng một cây trúc chẻ loe ra một đầu như chiếc nơm chụp lấy đất chung quanh mới lấy được củ, nên gọi là củ chụp. Thường củ ở lâu năm dưới đất nên rất lớn, có củ năm bảy ký, chỉ người dân tộc mới khéo tay lấy được.


Tôi nhớ hôm đi với đơn vị, buổi chiều chúng tôi đến một con sông lớn nước chảy ầm ầm. Chúng tôi nghỉ lại đó nấu cơm, nấu nước. Nhiều đơn vị khác cũng đóng quân ở đó, đôi bên thăm hỏi nhau nhà cửa quê quán, rủ nhau lội xuống sông bắt cá, mò tìm loại cá có môi dày như chiếc giác hút bám theo các gờ đá nước chảy xiết. Tôi cũng lặn mò cá với mọi người. Trời tối, mưa lâm râm. Chúng tôi tổ chức qua sông. Chiến sĩ bận quần cụt hoặc cởi truồng, dùng tấm ni lông nóc gói ba lô quần áo thành một bọc tròn, lấy sợi dây thun cột chặt thành chiếc phao đầu chúc xuống, tay trái níu giữ phía dưới, tay phải kềm khẩu súng nịt đạn đặt bên trên. Bộ đội hành quân thường qua sông suối ai nấy đều thành thạo. Tôi là người đồng bằng sông Cửu Long không lạ gì chuyện lội sông, không có khẩu súng dài tôi lội càng dễ hơn. Bến sông bên kia cũng có người, lại thăm hỏi, chia nhau cá bắt được. Trời tối hẳn, mưa càng nặng hột. Tôi lên bờ giũ nước, tháo bọc đựng đồ đạc. Thấy có bóng người nào đó đứng trùm ni lông che mưa cạnh bên, tôi nhờ cầm dùm chiếc ba lô, lấy quần áo ra bận vào. Lúc tôi quay lại lấy chiếc ba lô, thấy ra là một cô gái. Một cô thanh niên xung phong rất hiếm gặp trong rừng, nãy giờ cô ta thản nhiên nhìn tôi trần truồng.


Bến sông chỗ bộ đội qua lại thường đông người, không hiểu tại sao. Chỉ có thể đoán là do thói quen sông nước của người miền Nam. Bến sông là ngã tư đường, nơi gặp gỡ giao lưu. Tới bến sông mọi người cứ muốn dừng lại, ngóng chờ một cái gì đó, gặp gỡ ai đó. Tôi đang nghĩ đến bến sông đó, ở đó tôi sẽ gặp được người, niềm tin mơ hồ nhưng mãnh liệt.


Ngày thứ ba. Ăn uống xong tôi ra đi, hai chân không khá hơn nhưng tôi vẫn đi từng bước đều đặn. Gần trưa tới trảng, đến chỗ rẽ tôi đứng lại một lúc nhìn qua bên kia bìa rừng, nhớ lại chuyện sai lầm của mình hôm qua, một chuyện cần phải được cảnh tỉnh. Rồi đi tiếp, vẫn theo ngã rẽ phải, không hề lơ là, tìm chỗ hai đường giao nhau, có con đường thứ ba đi tiếp. Ven cây quanh trảng không có gì đặc biệt để định hướng. Tôi tiếp tục đi, con đường nhẫm (là nhiều hay nhẵn – ghi chú)dấu chân, không thể lầm lẫn được. Gần trưa tôi dừng lại ăn nửa vắt cơm, nghỉ một chút rồi đi tiếp, chỉ mấy bước thấy ngay con đường rẽ phải, rộng thênh thang, không hiểu sao hôm qua tôi không thấy. Tôi mừng rỡ như như bắt được vàng. Tôi đã đoán đúng, trước mắt vẫn chỉ có một con đường về hướng Nam, tôi đã hoảng loạn lơ là không nhìn thấy.


Tôi không tìm được măng hay kho gạo. Có một con đường mòn nhỏ lẩn khuất, phải dòm kỹ mới thấy, tôi lần đi vào, gặp một nhà mồ. Đây là nhà mồ của người dân tộc thiểu số, tôi đã từng biết. Căn nhà nóc nhọn lợp lá buông đã mục nát, vô số nhưng tượng lớn tượng nhỏ, tất cả đã cũ, nhiều bức tượng với hốc mắt trống rỗng nhìn tôi. Tôi đứng đằng xa nhìn, biết mình không được đụng vào. Tôi đứng rất lâu, tuy không có ý muốn nghiên cứu khám phá gì. Suốt mấy ngày chỉ một mình với cây rừng, giờ đây gặp tượng, không phải người nhưng cũng có nét giống người, tôi thấy ấm áp phần nào. Rời nhà mồ tôi lần đi tới, biết bản làng ở gần đâu đây, cố gắng ghi dấu để nhớ đường ra. Con đường mòn nhỏ dẫn tôi đi sâu vào trong, nhiều con đường mòn nữa xuất hiện, vừa xa lạ vừa quen thuộc. Và rồi một bản làng hiện ra, mười mấy căn nhà sàn trên một triền dốc, vắng tanh. Một con đường “xương sống” chính giữa, tôi theo đó đi vào. Một cối giã gạo đạp bằng chân. Một giếng nước với chiếc cần vọt cao nghệu, chiếc gàu treo chỏng chơ. Từng căn nhà lợp lá buông, có nhà mái lợp bằng cây nứa chẻ đôi, sấp ngửa theo kiểu ngói âm dương. Nhà nào cũng có chuồng trâu bên dưới, còn thoang thoảng mùi phân trâu. Tôi đã gặp những bản làng như vầy ở Bù Na, Bù Gia Mập, trong những lần đi tải gạo. Không thấy có rẫy bái, họ làm ở nơi khác, đây chỉ là chỗ ở. Hoặc đã bỏ đi. Họ sống như ghép với rừng, một bộ phận của rừng, không thấy có dấu vết tàn phá. Hôm ở Phú Riềng chúng tôi phục kích trong một vườn cao su, bỗng có một tốp người dân tộc thiểu số đi ngang, đủ nam nữ, già trẻ bé lớn. Chúng tôi bị bất ngờ, họ cũng vậy. Không thể trách họ, đây là chỗ ở của họ, nơi họ làm ăn sinh sống. Họ thản nhiên đi qua, không ai liếc sang hai bên, đứa con nít cũng nhìn thẳng. Người dân tộc thật thà chất phác, không có thói quen tò mò chuyện của người khác.


Một bản làng không người ở luôn khiến tôi xúc động. Họ bỏ đi vì dịch bịnh, vì bom đạn, hay vì thói quen du cư? Nhiều năm về sau, cho tới khi ngồi viết những dòng này, ấn tượng về họ vẫn không phai. Vẫn nhớ như in chiếc cối nằm im lìm, chiếc giếng với chiếc cần vọt chỏng chơ. Tôi ngồi lại rất lâu ở một bậc thang trước một căn nhà. Tôi có thể ở lại nghỉ ngủ qua đêm, trên một một sàn nhà. Bản làng khiến tôi thấy bình tâm. Người ta sống ngàn đời ở đây, tôi chỉ lang thang mấy ngày.


Nhưng tôi không thể ngủ, tôi còn phải đi để gặp được người của tôi. Tôi đi vòng quanh, đến giếng thử kéo một gàu nước, tôi yếu chân nhưng vẫn còn mạnh tay. Giếng lâu không dùng, nước hôi mùi lá mục, cần phải múc hết nước đổ đi. Tôi lượm được mấy trái bắp khô treo ở giàn bếp. Trong một chiếc gùi trên vách có ít bột nhưng đã ẩm mốc. Một miếng da trâu không biết để làm gì. Một cây chụp để đào củ chụp. Tôi đi lẩn quẩn, không muốn rời đi.


Một bản làng không có người nhưng là chỗ ở của người. Một dạo cả tháng trời chúng tôi hành quân liên tục trong rừng, đêm đi ngày đi. Bỗng một buổi chiều ở một triền dốc chúng tôi nhìn thấy xa xa một khóm chuối. Tưởng gặp làng xóm, chúng tôi mừng rỡ đứng lại nhìn ngẩn ngơ. Thật ra đó là chuối rừng, không có làng xóm nào ở đó.


Tôi ra tới đường xe bò, mặt trời đã nghiêng xế, băng qua một trảng nhỏ giữa có một chiếc bàu đọng nước. Tôi không thể ngủ lại, quanh đó không có cây lớn để giăng võng. Tôi đi tiếp rồi đi trở lại. Tôi phải đến chỗ bàu nước giữa trảng nấu cơm nấu nước rồi đi tiếp, chưa chắc đoạn tới có chỗ có nước. Tôi mất hơn tiếng đồng hồ nấu cơm vắt thành cục, nấu nước đổ đầy bi đông rồi đi tiếp. Con đường dẫn xuống một lòng suối, tôi mừng rỡ nhận ra con đường tôi đã đi qua. Đây là đoạn đường rất đặc biệt tôi không thể quên, dù hôm đó hành quân giữa đêm. Thường có nhiều đoạn đường là lòng một con suối cạn, nước đã đổi dòng, người ta lấy làm đường đi. Tôi mừng vì biết đang trở lại đường cũ, sẽ ra tới sông gặp được người. Tôi gặp một bụi le hái được ít măng. Đường tiếp theo đi vào một vùng nhiều cây buông đáng sợ, ẩm ướt, tối đen, nhung nhúc vắt. Tôi không thể ngủ lại đây, không có chỗ để giăng võng. Tôi có cảm giác chân đã bớt tê, đi dễ hơn. Con đường bỗng rẽ hai, đều bằng như nhau, tôi ngờ rằng chúng sẽ nhập lại cách không xa. Quả nhiên đúng như thế.


Có một chuyện vui về những con đường rẽ hai. Một cuộc hành quân cấp tiểu đoàn, gấp rút đến một địa điểm đánh tập kích. Đến một chỗ rẽ hai, không có trong bản đồ. Cuộc hành quân là quan trọng, tiểu đoàn có thể đến hoặc không đến địa điểm đánh tập kích. Tiểu đoàn trưởng không dám quyết định, đề nghị lấy ý kiến chi bộ. Chi bộ họp, biểu quyết, chọn một con đường. Nhưng rồi mấy trăm thước hai đường nhập làm một.


Trời đã tắt nắng, tôi tìm chỗ ngủ, không cần nấu nướng. Đã có cơm vắt, bi đông gần đầy nước nhưng con đường cứ chúc xuống mãi, tôi biết tới một con suối, hoặc một vùng trủng có nước. Nửa tiếng sau con suối hiện ra, nước chảy róc rách, tôi không nhớ có đi qua. Tôi không quan tâm, đoạn đường dưới lòng suối cạn khiến tôi biết tôi đang đi đúng hướng, con sông lớn đang ở trước mặt. Tôi lội qua suối thấy có chỗ trống trải, có dấu vết có người ở, dây cột cây mồi đã mục nát. Tôi quyết định ngủ lại, sửa lại dây cột cây mồi, nấu nước luộc măng, ăn cơm vắt với măng chấm muối. Tôi rất thích ăn măng, nhiều năm nhớ về rừng tôi vẫn nhớ về măng. Có lần tôi nghe buổi nói chuyện của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch về chế độ ăn uống ở rừng, khuyên không nên ăn măng, không bổ lại có hại. Bác sĩ nói theo sách vở khoa học, nhưng ở rừng không ăn măng thì ăn gì?


Tôi thấy bớt căng thẳng, có lẽ nhờ bản làng người dân tộc nhưng khuya hôm đó tôi lên cơn sốt. Tôi vẫn uống thuốc đều đặn nhưng vẫn không cắt được cơn, cơn sốt hôm nay lại như bộc phát. Tôi run cầm cập không kềm được, cuộn chăn và võng kín mít vẫn cứ run. Tôi cố gắng chịu đựng, biết là nguy cơ nhưng vẫn không để mất niềm tin. Cơn run rồi cũng qua, người vã mồ hôi, tôi nằm yên cho hơi nóng phủ khắp người, cố gắng ngủ một chút. Không biết tôi có ngủ được hay không, hay chỉ mơ mơ màng màng, vẫn nghe được rừng cây xào xạc, con suối chảy róc rách. Trời dần sáng nhưng tôi không trở dậy, cảm thấy không bước xuống khỏi võng. Tôi nhớ lại chuyện nghe được về những người lạc rừng chết luôn trên võng, mọi người qua lại tưởng đang nằm ngủ, đến giở mùng ra coi chỉ thấy bộ xương, bên dưới còn nguyên chiếc ba lô trên chiếc giá ba chân. Rất nhiều chuyện như vậy, khác nhau vài chi tiết, giống nhau về một người bộ đội bị bịnh tụt lại phía sau chết trên võng chỉ còn bộ xương, chiếc mùng còn giăng phất phơ, sát bên người đi qua lại… Tôi nhớ tới chuyện đó nhưng không nghĩ sự rủi ro nhằm vào tôi. Sau này nhiều lần trong cơn nguy khốn, bị trực thăng xả súng bắn, bom B52 rú trên đầu, tôi đều nghĩ sẽ tai qua nạn khỏi.


Rồi tôi cũng cố gắng trở dậy một cách khó khăn, hai chân hình như tê dại nhiều hơn. Tôi nấu cơm nấu nước, luộc măng, ăn xong thu dọn đồ đạc, ngồi lại một lúc xoa hai bắp chân, một cách vô thức, không biết có hiệu quả gì không. Tôi cũng không biết nên ra đi hay ngồi nghỉ một lúc, tôi đâu biết bịnh tê chân của tôi là cái gì, nên như thế nào. Tôi bắt đầu thấy nỗi cô đơn gặm nhấm, khó khăn vô vàn khi chỉ có một mình. Tôi tiếp tục bóp chân để lấy thời gian suy nghĩ. Rồi tôi quyết định ra đi, không vì lý do gì cả. Tôi đi từng bước như bước trên gai, từng bước đau nhói, có thể té ngã bất cứ lúc nào. Chiếc gậy vẫn bền bỉ chịu đựng, mòn nhẵn chỗ tay cầm. Cơn sốt đêm hôm khiến tôi khát nước đến cháy cổ. Tôi cố uống dè sẻn, vừa tiết kiệm nước vừa tập thói quen chịu đựng. Nhưng từng chập đầu óc mông lung, tôi tự động mở bao bi đông lấy nước uống, chưa đến trưa bi đông đã nhẹ tênh, tôi hoảng hốt không uống nữa, đưa mắt tìm kiếm lá cây để nhai. Trong rừng có lá két vị chua, cây nhỏ, tôi thường hái nấu canh. Hoặc lá bép rất thơm ngon. Tôi không tìm thấy lá két hay lá bép. Thật ra hầu hết lá rừng đều ăn được, sau này anh Xuân Hồng bảo tôi vậy. Anh Xuân Hồng là người ở rừng lâu năm, từ hồi kháng chiến chống Pháp, tinh thông mọi chuyện ở rừng, không chỉ chuyện ăn uống săn bắn mà còn nhiều chuyện khác. Hai bên đường nhiều cây ngành ngạnh tôi đã từng ăn, có vị chua nhưng đắng, tôi hái một ít nhai ăn chỉ để có vị trong miệng. Tôi đi thất thểu, cơn khát vẫn cháy cổ. Bỗng tôi thấy ở rãnh hai bên đường đọng ít nước, không biết của trận mưa hồi nào. Tôi ngồi xuống nhìn kỹ, nghĩ cách múc nước uống. Không thể động tay, nước cạn chỉ còn chừng lóng tay, nổi váng bên trên. Tôi hái chiếc lá bẻ cong làm thành chiếc muỗng, liếc nhìn chung quanh, tuy biết trong rừng không có ai. Rồi đưa tay múc thật nhẹ đưa vào miệng, nghe mùi lá mục và mùi bùn. Rồi lại liếc nhìn, lại múc. Tôi thấy khổ sở, tủi nhục, chẳng khác bò quì liếm đất, không phải hành động của con người. Năm mươi năm rồi tôi vẫn nhớ cảm giác ấy.


Tôi nhớ đã là ngày thứ tư, đầu óc tôi đã mù mờ không chính xác. Vẫn ngày đi đêm nghỉ, đi la lết, thất thểu. Có một hôm tôi ngồi nghỉ, không biết trưa hay chiều, định nghỉ một lúc rồi đi tiếp. Nhưng rồi tôi ngủ quên, thức dậy hoảng hốt thấy trời đã tối, chỉ còn đủ sức mò mẫm tìm hai thân cây vừa tầm giăng chiếc võng, leo lên nằm ngủ lịm đi, không nhớ mình đã có ăn uống gì hay không. Một hôm tôi đến một con suối có nhiều mây trái chín vàng tôi mê mải hái ăn, lòng vòng một hồi bị lạc, mất mấy tiếng đồng hồ mới tìm được đường ra. Hôm khác, hay chính hôm đó, tôi gặp một đám cây dâu trái chín, dâu rừng cũng ngon như dâu nhà, tôi dùng gậy cũng hái được một đống vừa ăn vừa đem theo.


Có hôm tôi đi được tới trưa không đi nổi nữa, không thể bước thêm bước nào. Tôi ngồi xuống dựa lưng vào ba lô, đầu óc lơ mơ nhưng vẫn còn tỉnh táo để nghĩ nên ở lại, còn chút sức lực phải giữ gìn, tôi sẽ ngủ ngay bên đường cũng là cách tìm người. Tôi còn nửa bi đông nước, túi gạo rang trong ba lô, nhai gạo rang uống nước cầm chừng qua đêm.


Sáng hôm sau tôi tiếp tục đi lê lết, ba hay bốn ngày trôi qua tôi không nhớ. Càng về sau tôi không đi được bao nhiêu, có bữa nằm nguyên cả ngày, sát bên đường để đón người qua lại. Tôi biết sức đã cạn, nhưng vẫn còn có thể nghe ngóng chung quanh. Hôm đó tôi ngủ sát cạnh đường, không có suối hay lạch nước. Từ xế chiều hôm trước tôi không ăn uống, giữa trưa giăng võng ngủ vùi sáng hôm sau vẫn không trở dậy. Bỗng nghe tiếng gọi, tôi mở mắt ra thấy có ba người đứng sát bên. Tôi khoác mùng ra. Họ nhìn tôi, hỏi: “Bịnh hả? Tưởng chết rồi chớ! Ngủ như vầy dễ chết lắm!”. Tôi nằm yên, mấy giây sau mới hiểu ra sự việc. Tôi không hỏi ba người đơn vị nào, đi đâu, ai cũng là người cứu tôi. Họ hỏi tôi và tôi trả lời, đơn vị đi đánh Bù Đốp tôi bị bịnh nằm lại. Tôi nói về bịnh tê chân, nói lấp vấp chắc họ không hiểu như thế nào. Họ giúp tôi thu dọn đồ đạc, tôi đi theo họ. Tôi đi thật chậm, bước từng bước vững chắc. Tôi đã có được sinh lực mới. Tôi đã sống.


Con sông hóa ra cách đó không xa, chúng tôi đi hơn buổi là tới. Bến sông cả hai bên đều vắng người. Chúng tôi sẽ ở lại bên sông vài ngày. Tôi quá yếu để có thể qua sông, ba người sẽ mò bắt cá nấu cháo cho tôi bồi dưỡng. Tôi đồng ý tất cả, tôi hoàn toàn phụ thuộc vào họ. Hai ngày nằm ở bến sông tôi chỉ có nằm võng, ba người lặn bắt cá, hái rau tàu bay, chỉ được ít nhưng cũng gọi là “có chất tươi”. Sau hai ngày chúng tôi qua sông, ba người dìu chung quanh tôi như trẻ nít học lội. Có một kho gạo cách đó vài ngày đường, họ sẽ đưa tôi đến nghỉ ở đó, không lo đói, có người đến lãnh gạo theo về bịnh viện dã chiến, cũng gần đó thôi.


Kho gạo cách đó cả bốn ngày đường, do tôi đi quá chậm. Giữ kho gạo có ba cô gái và một người thương binh đứng tuổi, sau này tôi có sử dụng trong một truyện ngắn, chỉ không có chuyện dạy học. Tôi ở đó cả tuần lễ, cơm bưng nước rót, anh thương binh đứng tuổi lầm lỳ nhưng tốt bụng. Ba cô gái cần có người nói chuyện, chăm sóc tôi đủ điều. Sau tuần lễ có đoàn người tới lãnh gạo tôi đi theo, nhờ họ chỉ đường về một bịnh viện. Đó là bịnh viện tỉnh Bình Long, sau này tôi biết nữ bác sĩ giám đốc bịnh viện có họ hàng với một đạo diễn điện ảnh cơ quan tôi. Cuối chiến dịch, anh Giang Nam trên đường về cơ quan có ghé thăm tôi. Nhưng tôi còn nằm ở đó rất lâu, bịnh tê chân dai dẳng rất khó điều trị. Bịnh bớt một chút tôi liều ra đi, nhưng đây là đường dây giao liên luôn có nhiều người, tôi không lâm vào cảnh đơn độc kinh hoàng như vừa qua.


Trận lạc rừng khủng khiếp đã để lại một dấu ấn khó quên trong ký ức tôi. Nhưng tôi không hề ác cảm với rừng, không một vết gợn, một chút cảm giác nặng nề nào. Người đi biển luôn yêu biển, dù qua phong ba bão táp, lâm vào cảnh ngặt nghèo, biển luôn là “ngôi nhà lớn” của ngư dân, của những người thủy thủ. Rừng cũng vậy. Tôi đã có mười mấy năm sống chết với rừng, những vất vả gian truân càng khiến tình yêu của tôi với rừng càng thêm sâu đậm.


(còn tiếp)


Nguồn: Ở R - Chuyện kể sau năm mươi năm. Hồi ký của Lê Văn Thảo. Bản thảo tác giả gửi nhà văn Triệu Xuân tháng 3-2016.


 www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »